Dùng Kính Hiển Vi Soi Rọi T́m Nguồn Gốc Văn Hóa Dân Tộc Việt Nam Trong Tứ Thư Ngũ Kinh

Vĩnh Như

Phải chăng muốn t́m về văn hóa Việt nếu bỏ Nho giáo (Ngũ Kinh Tứ Thư) th́ chúng ta chỉ t́m thấy ngọn chứ chưa đến gốc của văn hóa Việt?
Do vị trí địa lư –nơi giao lưu các luồng văn hóa- và quá tŕnh phát triển xă hội và lịch sử dân tộc Việt
Nam bởi các quan hệ giao lưu văn hóa Đông Nam Á, Trung Hoa, Ấn Độ, Tây phương. Cho nên tiến sĩ H. R. Ferraye cho rằng nét đặc sắc văn hóa Việt Nam là tính cách “không chối tư” của nó . Thực ra, chỉ có một chối từ là sự đồng hóa cưỡng bức. C̣n lại, nó t́m cách dung hóa và hội nhập mọi sở đắc văn hóa của Hoa, Ấn, Nam đảo, Tây Âu cả ngôn từ và kỹ thuật, cả tôn giáo và nghệ thuật (Trần quốc Vượng sđd, trang 44).


Mặt khác, khi luận về bản sắc văn hóa Việt Nam, một học giả Mỹ ví Việt Việt Nam như một cây gậy nh́n bề ngoài thấy phủ một lớp sơn Tây mỏng; cạo lớp sơn ấy đi, vẫn thấy một  lớp sơn Tàu có phần dầy hơn; song cạo lớp sơn tàu ấy nữa th́ lộ ra cốt lơi gậy tre Việt Nam (Trần quốc Vượng sđd, trang 46). C̣n lớp sơn Ấn Độ (Phật giáo) và Đông Nam Á mà học giả Mỹ đă quên không nói đến.


Phải chăng khuynh hướng t́m cội nguồn văn hóa Việt trong Ngũ kinh Tứ Thư v́ cái bệnh cố hữu của trí thức khoa bảng là nói cái ǵ, nghĩ cái ǵ cũng phải dựa vào kinh điển, sách vở. Chính v́ thế mà khuynh hướng này cố gắng t́m đủ mọi cách minh chứng Khổng Tử chỉ chữ nghĩa hóa, công thức hóa văn hóa tộc Bách Việt sống trên đất Tàu, trong tinh thần không sáng tác kinh điển mà chỉ sang định,, chỉ thuật lại đạo cổ xưa. Và cho rằng Nho giáo chứa đựng “những hằng số”của văn hóa dân tộc Việt
Nam .


Trái lại dưới ánh sáng mới của khoa học, các nhà nghiên cứu, các học giả chuyên về văn hóa Tây Âu (Pháp, Anh), Úc, Mỹ minh chứng văn hóa Hoà B́nh là cội nguồn của dân tộc Việt Nam, v́ tộc Bách Việt sống trên đất Tàu là hậu duệ của cư dân đồng bằng sông Hồng và ven biển Bắc bộ cùng các sắc dân Đông Nam Á khác đă rời khỏi quê mẹ, di lên sinh sống trên đất Tàu.


Để vấn đề được sáng tỏ hơn, có lẽ chúng ta cần biết sơ qua một cách đơn giản sự h́nh thành dân tộc Việt Nam, dân tộc Trung Hoa và tộc Bách Việt sống trên đất Tàu.

Nguồn gốc sự h́nh thành dân tộc Việt Nam .

Những ư kiến sau đây phần lớn là dựa vào những tài liệu mà tiến sĩ Wilhelm G. Solheim II ghi trong National Geographic, March 1971, cộng thêm tài liệu của bs Stephen Oppenheimer trong Eden in the East, nxb Phoenix London, 1998 và tài liệu của gs và các đồng nghiệp thuộc Đại học Texas, Genetic relationship of population in China đăng trên tập san Proceedings of the National Academy of Science (USA) 1998; số 95, trang 11763 – 11768 tác giả Nguyễn Đức Hiệp, khám phá mới di truyền học về nguồn gốc con người ở Đông Nam Á, tập san Tư Tưởng, số 7, năm 2000, trang 9 – 13. Tác giả B. Su và đồng nghiệp, Chromosome evidence for northward migration of modern human into Eastern Asia during the last Ice Age, tập san American Journal of human genetics, năm 1999, số 65, trang 1718 – 1724. Tổng hợp những công tŕnh nghiên cứu dưới ánh sáng mới của khoa học (khảo cổ học, dân tộc học, nhân chủng học, ngôn ngữ học, di truyền học, hải dương học, v.v...) đưa đến nhận định như sau: Người hiện đại, con người khôn ngoan (homo sapiens sapiens) phát sinh ở Đông Phi châu. Khoảng một trăm ngàn năm trước họ đến Trung Đông. Từ đây một nhánh rẽ về hướng Đông qua Pakistan , Ấn Độ.. Đoàn người dừng lại đây khoảng 10 ngàn năm trước. Sau đó, hậu duệ của họ men theo bờ biển Nam Á đến đại lục Đông Nam Á vào khoảng 90 ngàn đến 60 ngàn năm trước. Bác sĩ Oppenheimer, trong cuốn Địa đàng phương Đông ( Eden in the East) cho rằng khi người tiền sử đặt chân đến Đông Nam Á th́ lúc này đang thời kỳ biển thoái. Mực nước biển thấp hơn hiện nay đến 130 mét. Người ta có thể đi bộ đến các ḥn đảo ngoài khơi và đến tận Úc châu (50 ngàn năm trước). Đất liền từ Việt Nam kéo dài đến đảo Hải Nam . Bác sĩ gọi  vùng đất ven biển Bắc Bộ và đồng bằng sông Hồng là lục địa Nanhailand.


Do khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiều mưa nên ẩm ướt, nhiệt đầy đủ, cây cối cũng như động vật sanh sản nhanh. Môi trường thuận lợi đó đă giúp cho con người dễ dàng thuần hóa thực vật, động vật và sớm sáng tạo nền văn hóa nông nghiệp, thực hiện cuộc cách mạng nông nghiệp trồng lúa nước. Cho nên người dân không trải qua thời kỳ du mục, chăn nuôi theo bầy lang thang trên các đồng cỏ, nay đây mai đó như tiền thân của dân tộc Hoa Hạ (Hán). Khoảng 40 ngàn năm trước –có thể hội đủ những điều kiện thuận lợi cho cuộc đột biến di truyền: Da den trở thành da vàng, tóc quăn đổi thành tóc thẳng v.v... (ở Âu châu th́ da đen đổi thành da trắng). Đó chính  là những con người đă xây dựng nền văn hóa núi Đọ. Hậu duệ của họ đă xây dựng nền văn hóa mà ngay nay chúng ta và thế giới gọi là văn hóa Hoà B́nh, với cuộc cách mạng nông nghiệp trồng lúa nước từ 6 đến 7 ngàn năm trước. Đồi sống nông nghiệp ngày một khấm khá, con cháu ngày một đông đảo, nghề trồng lúa nước càng ngày càng phát triển họ xây dựng nền văn hóa Bắc Sơn. Dần dần  ư thức cộng đồng manh nha phát triển từ trong ḷng của nếp sống nông nghiệp trồng lúa nước, đặt cơ sở phát triển, ư thức dân tộc, vốn đă nhen nhúm trong sự gắn bó của nông dân với ruộng đất và làng mạc, cũng như mối liên hệ thiên gliêng nối liền các thế hệ thiêng liêng qua tục thờ cúng tổ tiên.


Như vậy 300 năm trước Tây lịch chưa có sự giao lưu văn hóa giữa Ta và Tàu: Sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Quốc (vào năm 221 trước Tây lịch) tướng Đồ Thư mới vượt sông Dương Tử chiếm miền Nam Trung Quốc đến tận Quảng Đông và Quảng Tây. Nhưng khi tiến vào đất Việt, đoàn quân xâm lănng hoàn toàn thất bại: Tương Đồ Thư bị giết, buộc nhà Tần phải băi binh. Trong thời đại này dân tộc Việt
Nam chưa biết ǵ về Ngũ Kinh Tứ Thư của Khỗng Mạnh.


Nguồn gốc sự h́nh thành dân tộc Trung Hoa
Sau thời gian băng hà (khoảng 35 ngàn năm trước) khí hậu phía Bắc Việt Nam ấm dần lên, một nhóm người từ vùng đất ở ven biển Bắc bộ và đồng bầng sông Hồng cùng các sắc dân Đông Nam Á khác di lên phía Bắc khai phá lục địa mà ngày nay gọi là Trung Quốc. Đó là nhóm dân đầu tiên cư ngụ trên đất Trung quốc mà sau này gọi chung là tộc Bách Việt. Trong nhóm dân này có một bộ phận đến sinh sống ở phía Tây bắc sông Hoàng Hà. Tại đây họ lai giống với nhóm người từ Phi châu đi ngă Trung Á đến.. Cuộc pha giống này tạo thành các sắc dân Mông Cổ, Măn Thanh, và sắc dân mà hậu duệ của họ sau này gọi là dân Hoa Hạ (Trung Hoa). Một số trong nhóm dân lai giống đó vượt eo biển Bering (lúc đó c̣n là dăi đất liền) đặt chân lên châu Mỹ khoảng 30 ngàn năm trước, h́nh thành dân Mỹ châu Da đỏ.

Nguồn gốc tộc Bách Việt sống trên đất Tàu

Như đă tŕnh bày ở phần trên th́ tộc Bách Việt sống trên đất Tàu là hậu duệ của cư dân sống ở đồng bằng sông Hồng và ven biển Bắc bộ cùng với các sắc dân khác ở Đông Nam Á đă rời khỏi quê mẹ khoảng 30 đến 35 ngàn năm trước.


Khổng Tử chưa bao giờ vượt qua sông Dương Tử đến đồng bằng sông Hồng. Suốt đời Khổng Tử bôn ba đại khái trong chu vi các nước Tề, Tào, Chu, Triệu, Tống, Trịnh, Trần, Thái, Tấn, Tần chưa bao giờ đến Quảng đông, Quảng Tây, Phước Kiến, Triết Giang và Vân Nam. Nếu Khổng Tử thật sự ghi trung thực những yếu tố căn bản văn hóa, văn minh của tộc Bách Việt sống trên đất Tàu đi nữa th́ cũng chỉ là văn hóa của hậu duệ của những cư dân sống ở đồng bằng sông Hồng và các sắc dân khác ở Đông Nam Á. Mặt khác Khổng tử biết ǵ về văn hóa miền nam sông Dương Tử là do người ta kể lại chứ không phải tai nghe mắt thấy. Mà văn hóa sông Dương Tử cũng chỉ là văn hóa của hậu duệ cư dân Ḥa B́nh nói riêng và Đông Nam Á nói chung.


Các nhà nghiên cứu Mỹ, Úc, Tây Âu t́m cội nguồn văn hóa Việt ở đồng bằng sông Hồng


Văn hóa Việt Nam cổ truyền, về bản chất, là văn hóa xóm làng, văn hóa truyền miệng (văn hóa dân gian) văn hóa ch́m hay văn hóa vô ngôn (văn hóa không lời). Nền văn hóa dân gian đó không thể ra đời một sớm một chiều. Cái gốc của nó là nền văn hóa dân tộc trước thời Bắc thuộc. Không phải chỉ đi ngược lên đến thời đại Đông Sơn mà phải ngược lên đến tận thời đại văn hóa Hoà B́nh và Bắc Sơn, thời đại nẩy sinh nông nghiệp trồng lúc nước với xóm làng, khi t́m hiểu cội nguồn đặc tính văn hóa Việt
Nam .


Chúng ta thử nghĩ chỉ 200 năm nữa thôi, có một người nào đó muốn t́m hiểu cội nguồn của văn hóa dân tộc Việt Nam mà t́m ở trong những quyển sách do người ngọai quốc viết về cộng đồng Việt Nam sống ở Ấn Độ, Nhật, Anh, Pháp, Mỹ, Úc... th́ có hợp t́nh hợp lư không?Cho nên các học giả nói trên đă và đang đến xóm làng ở đồng bằng sông Hồng t́m hiểu văn hóa Việt. Phải chăng những người ngoại quốc đó đă hiểu ra được văn hóa Việt Nam là văn hóa xóm làng, nên họ đă và đang đến nông thôn Việt Nam (cái nôi của văn hóa Việt) để nghiên cứu t́m hiểu nguồn gốc cốt lơi của văn hóa Việt? Không thể t́m triết lư sống Việt (triết lư Tiên rồng) cũng như cốt lơi của đạo sống Việt trong sách vở hay ở những di vật khảo cổ mà ở tại chính trong bản thân thực nghiệm của dân tộc c̣n đang tiếp diễn sinh động trong đời sống của dân tộc Việt Nam nơi xóm làng.


Phải chăng họ nắm bắt được văn hóa Việt Nam là văn hóa truyền miệng, nên có một số đă và đang học tiếng Việt để đọc khối lượng ca dao tục ngữ vô cùng phong phú có một không hai trên thế giới? Ca dao tục ngữ là tiếng nói của dân tộc. Phải chăng cảm nhận được văn hóa Việt là văn hóa ch́m, văn hóa không lời, nên họ lắng ḷng bước vào ngôi nhà tâm linh Việt, giải mă những biểu tượng, những ẩn dụ, nơi che dấu cốt lơi tư tưởng Việt, triết lư sống Việt, trong các huyền thoại, được xem như những thông điệp của tổ tiên dân tộc Việt Nam? Huyền thoại là tiếng nói tâm thức của dân tộc. Mất bộ huyền thoại là mất mạch nối vào nguồn quá khứ tổ tiên và mất luôn căn bản trong việc xây dựng tiền đồ dân tộc (Wallace Cliff).


Không đọc được chữ Hán (Ngũ Kinh Tứ Thư) có thể trở thành người tốt sống an vui hạnh phúc trong gia đ́nh và ngoài xă hội được không?

Nếu chữ Nho, đạo Nho thật sự do tộc Bách Việt sáng tạo đi chăng nữa, sau đó người đời Hạ, đồi Thương đời Chu, rồi Khổng Tử chữ nghĩa hóa, công thức hóa thành những câu văn ngắn gọn trong kinh điển Tàu th́ đó chỉ là những yếu tố căn bản của văn hóa, văn minh của tộc Bách Việt đă rời khỏi quê mẹ sống trên đất Tàu. Chữ nghĩa hóa, hệ thống hóa, công thức hóa th́ có kinh sách đồ sộ, có triết học kinh điển phong phú, nhưng kinh nghiệm sống, triết lư sống trở thành khái niệm, triết lư suông, khuôn vàng thước ngọc ở đầu môi chót lưỡi.
Ông Bá Vương một học giả Trung Quốc trong người Trung Quốc Xấu xí đă phát biểu rằng có một nhân vật cổ quái nói một câu: “dân vi quí, quân vi khinh (dân là quí vua là thường)” Đấy chỉ là một thứ lư tưởng mà Trung Quốc chưa bao giờ thực hiện (trang 72) Tiến sĩ Triết Học Trần Văn Đoàn đă nhận định rằng tuy Nho giáo chấp nhận con người là chủ nhân, và coi vị nhân như một nền đạo đức. Song tiếc thay, xă hội Nho gia thống trị lại vị vương vị chúa và coi người dân như cỏ, công cụ, súc vật. Trên thực tế, lịch sử của xă hội Nho giáo chưa bao giờ ghi lại sự kiện người dân làm chủ. Ngược lại, chế độ quan liêu, hệ thống xă hội phong kiến, sự kiện thần thánh hóa vua chuá, chứng minh một cách chua chát là quan niệm nhân chi vị chủ cũng như chính sách thân dân chỉ xuất hiện trong đầu óc của các nhà Nho gàn mà thôi (Việt Triết –Luận tập, Thượng tập, trang 304-305). Điều đó cho thấy triết lư sống trở thành khuôn sáo để làm cảnh cho đẹp lúc trà dư tửu hậu, chưa bao giờ thực hiện trên đất Tàu.Suốt chiều dài lịch sử từ Tần, hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh dân Bách Việt sống trên đất Tàu đọc và học Ngũ Kinh Tứ Thư và mở miệng ra là Khổng Tử dạy rằng, Mạnh Tử nói rằng, nhưng vẫn không giữ được hồn nước, hồn dân tộc v́ rời khỏi quê mẹ quá lâu nên không giữ được đất nước và cho đến ngày nay vẫn không vùng dậy nổi. Đến như nhà cách mạng Tôn Dật Tiên mà cũng quên gốc tích thân phận ḿnh (người Bách Việt Quảng Đông) tự cho ḿnh là người Hán và c̣n cho rằng dân tộc Việt Nam có nô lệ tính.


Gần đây hồn dân tộc của dân Đài Loan đă manh nha phục hoạt và tinh thần tự chủ càng ngày càng phát triển nên họ đă và đang đấu tranh giành độc lập. Có lẽ chỉ khi nào dân tộc Việt Nam vươn lên vững mạnh th́ may ra dân tộc Bách Việt sống trên đất Tàu (Vân Nam, Quảng Đông, Quảng Tây, Triết Giang, Hồ Nam, Quí Châu) mới có điều kiện thuận lợi phục hoạt được hồn nước, tinh thần tự chủ để vùng dậy đấu tranh giành độc như dân Đài Loan hiện nay (2005).


Không đọc được chữ Hán làm sao trở thành người tốt và phát triển
tâm linh?

Đối với 95% dân Việt chất phác hiền lương không đọc được Ngũ Kinh Tứ Thứ có lẽ con đường hợp t́nh hợp lư và không phản lại khoa học là trở về với triết lư sống hài ḥa (ḥa cả làng). Nó manh nha h́nh thành từ trong ḷng của nền văn hóa trồng lúa nước 6, 7 ngàn năm trước, với xóm làng. Triết lư sống hài ḥa đó đuợc duy tŕ phát triển và hoàn chỉnh dần dần trải qua các thời đại Bắc Sơn, Phùng Nguyên, Đông Sơn. Nó đă trở thành nếp sống lấy t́nh nghĩa làm đầu (một bồ cái lư không bằng một tí cái t́nh).


Đến ngày nay, thế kỷ 21, xóm làng Việt Nam –cái nôi của văn hóa Việt- vẫn tiếp tục duy tŕ cái triết lư sống hài ḥa qua nếp sống lấy t́nh nghĩa làm đầu: coi nhau như bát nước đầy là hơn; lựa lời mà nói cho vừa ḷng nhau; ai nhất th́ tôi thứ nh́ ai mà hơn nữa tôi th́ thứ ba. Mặt khác ở đâu có hài ḥa là ở đó có chấp nhận dị biệt (rằng trong lẽ phải có người có ta) và khướt từ bạo lực (khôn chẳng qua lẽ khỏe chẳng qua lời, tức đối thoại). Từ đó nảy sinh lối ứng xử: có đi có lại –trong tinh thần công bằng là đạo người ta ở đời- mới toại ḷng nhau.


Ở đâu có hài ḥa là ở đó t́nh thương (thương người như thể thương thân); và sự hiểu biết thoát khỏi  mọi ràng buộc tư dục (khôn cũng chết, dại cũng chết, biết th́ sống), và bao dung tha thứ (chin bỏ làm mười).. Ở đâu có hài ḥa là ở đó có phân công hợp tác, hợp t́nh hợp lư với thiện chí chung sống yên vui thanh b́nh (chồng cầy vơ cấy con trâu đi bừa).
Hài ḥa giữa thân và tâm để có sức khỏe tốt và phát triển tâm linh một cách tự nhiên trong đời sống (chuyển hóa tâm thức –thay đổi cách nh́n). Hài ḥa giữa vợ và chồng để xây dựng mái ấm gia đ́nh (thuận vợ thuận chồng tát biển Đông cũng cạn) trong gia đ́nh phân công (chồng chai vợ lưới, con câu). Hài hoà giữa người với người để chung sống yên vui thanh b́nh trong phát triển (thuận bầu thuận bạn mới đóng nổi ghe to); Ḥa mục trong xóm làng (ḥa cả làng), đến sự thái ḥa của đất nước qua chế độ địa phương phân quyền với xă thôn tự trị (phép vua thua lệ làng) trong tinh thần tự do dân chủ và công bằng.Và đỉnh cao tuyệt đích của con người là thăng hoa như Tiên Rồng, như nước bốc hơi, thăng hoa măi theo chiều kích tâm linh trên nền tảng của t́nh thương và trí tuệ với định hướng con người ḥa cùng vũ trụ (cân biết thêm chi tiết, xin t́m đọc các tác phẩm của Tủ Sách Việt Thường, P.O. Box 720080, Houston, TX 77272).


Theo ngôn từ triết học ngày nay rút tỉa được ba quy luật làm nền cho triết lư sống hài ḥa của dân tộc: 1) đối lập thống nhất, 2) tác động hai chiều, 3) phân công hợp tác. Thần tổ kép tiên Rồng của dân tộc Việt là biểu tượng cho triết lư sống hài ḥa và cũng là biểu tượng cho sự thăng hoa theo chiều kích nhân và trí.
Mẹ Tiên Âu Cơ sống trên núi (non Nhân), cha Rồng Lạc Long sống dưới biển (nước Trí). Ḥa là chủ đạo cho mọi liên hệ ứng xử. Trí tuệ và t́nh thương (nhân ái) là định hướng của dân tộc trong mọi ư nghĩ lời nói, việc làm và phát triển tâm linh. Biểu tượng mẹ Âu Cơ và cha Lạc Long chính là biểu hiện rực rỡ của t́nh thương và sự hiểu biết không bị ràng buộc bởi tư dục (trí tuệ) để con cái Việt noi theo.Hoà cả làng khác với hoà theo quan niệm: quân tử ḥa nhi bất đồng, tiểu nhân đồng nhi bất ḥa. Giới thống trị phương Bắc (tộc Hoa Hán) vận dụng ḥa để mà hóa người khác thành dân ḿnh, của ńnh v.v... (đă tŕnh bày ở phần trên).. Lịch sử đă minh chứng điều đó họ đă ḥa từ phía nam sông Hoàng đến Quảng Đông Quảng Tây; hiện nay họ đang ḥa ở Tây Tạng, ở biên giới Việt Trung và ở Biển Đông Việt Nam. Họ c̣n định “ḥa” cả Đông Nam Á.


Triết lư giáo dục của người không đọc được Ngũ Kinh Tứ Thư


95% dân Việt trong đó hầu hết là các bà mẹ Việt Nam xưa cũng như nay không đọc được chữ Nho, không hiểu rơ thế nào là TU-TỀ-TRỊ-B̀NH, mù tịt với từ ngữ bác học như quy tâm, đại học chi đạo... tại chỉ ư chí t hiện, chỉ, định, v.v... có lẽ trở về với lời dạy cụ thể thiết thực của tổ tiên. Những lời dạy đó rút tỉa từ kinh nghiệm sống trong nền văn hóa nông nghiệp trồng lúc nước ổn định lâu đời từ cuộc cách mạng nông nghiệp đến thời đại các vua Hùng dựng nước và cho đến ngày nay.


Đó là HỌC ĂN, HỌC NÓI, HỌC GÓI, HỌC MỞ mà khởi điểm là trăm hay xoay vào ḷng v́ ngọn đèn được tỏ trước khơi bởi ḿnh.. Đó là triết lư giáo dục căn bản về thân và tâm của dân tộc Việt: Giáo dục người dân Việt trở thành con hiền, dâu thảo, công dân tốt đối với dân tộc đất nước. Nó khác hẳn với triếy lư giáo dục của Nho giáo: TU, TỀ TRỊ, B̀NH. Là người dân b́nh thường có lẽ chúng ta không cần hai vế: Trị và B́nh. Trị và B́nh có lẽ chỉ thích hợp cho giới thống trị phương Bắc. Phải chăng nó thích hợp cho Quản Trọng và Khổng Tử trong giai đoạn ông ta bôn ba khắp nơi.Quản Trọng đă Trị và B́nh (thiên hạ) toàn bộ các tộc Bách Việt sống ở châu thổ sông Hoàng Hà đề Tề Hoàn Công xưng bá nên được Khổng tử khen hết lời.


Tóm lại, có thể nói học ăn học nói học gói học mở là triết lư giáo dục của nền văn hóa xóm làng, nền văn hóa truyền miệng, văn hóa dân gian. Phải chăng từ cái triết lư giáo dục mang tính dân tộc và nhân loại đó mà ông Lư Đông A, nhà cách mạng Việt Nam kiêm Triết gia đă đưa ra quan niệm vô cùng chân xác: kinh tế, chánh trị, giáo dục phải phát triển đồng bộ. Giáo dục là khởi điểm và chung điểm của chánh trị. C̣n chánh trị là thiết kế và chấp hành nhân sinh.


Lịch sử minh chứng triết lư giáo dục vừa mang tính dân tộc, vừa mang tính nhân loại nói trên đă thắng chủ nghĩa bành trướng của Trung Quốc để ngày nay chúng ta c̣n một quê hương, một đất nước Việt Nam và một nền văn hóa ḥa b́nh nhân bản, dân tộc mang tính khai phóng và dung hóa trong giao lưu, nhưng hiện nay đang bị tư tưởng ngoại lai che lấp, phủ kín. Người Việt Nam ở thời đại này, dưới ánh sáng mới của khoa học, phải ư thức cư dân Ḥa B́nh (tiền thân của dân tộc Việt Nam) đă thực hiện cuộc cách mạng trồng lúa nước từ 6, 7 ngàn năm trước và tộc Bách bách Việt sống trên đất Tàu là hậu duệ của cư dân vùng ven biển Bắc bộ (gồm cả đồng bằng sông Hồng) cùng với các sắc dân khác ở Đông Nam Á đă rời quê mẹ 30.000 – 35.000 năm trước. Chúng ta phải cảnh giác đừng để rơi vào hỏa mù văn hóa: Việt Nam là bản sao của văn hóa Trung Quốc và các yếu tố căn bản của văn hóa Việt ở trong Tứ Thư và Ngũ Kinh. Nếu chúng ta không sớm ư thức th́ ta rơi vào chiến lược văn hóa của Trung Quốc; họ vận dụng tư tưởng Khổng Mạnh để chi phối văn hóa, tư tưởng toàn vùng Đông Nam Á và Đông bắc Á trong sách lược bành trướng của tộc Hoa Hán.

Vĩnh Như

              [ NSLONGHOA ]

HOME GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT HỌC TR̀NH HỘI ĐỒNG GIẢNG HUẤN THƯ VIỆN SINH VIÊN VỤ NSLONGHOA
For any questions, send Email to:  phvpghh@aol.com
Copyright © 2003. PhatHocVienPGHH. All rights reserved.
Revised: 12/30/08