|
Những Vấn đề Thủy lợi
ở Đồng bằng sông Cửu Long
của Việt Nam
(Water Resources Problems in the Vietnam’s Mekong Delta)
phỏng vấn KS Nguyễn Minh Quang
Kể từ năm 1975, một hệ thống thủy lợi qui mô đă được xây dựng trong
toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) ở Việt Nam nhằm mục đích phát
triển nhanh chóng vùng đồng bằng trù phú nầy. Có thể nói hệ thống thủy lợi
đó đă góp phần không nhỏ trong việc phát triển kinh tế và xă hội của ĐBSCL
và cho cả nước trong thời gian qua; nhưng cũng chính nó đă phát sinh ra
nhiều vấn đề, mà ảnh hưởng tiêu cực càng ngày càng rơ nét, và có thể trở
thành một lực cản cho việc phát triển kinh tế và xă hội bền vững của ĐBSCL
trong tương lai.
Trong chương tŕnh Khoa
học và Môi trường, Kỹ sư (KS) Nguyễn Minh Quang đă tŕnh bày những sự kiện,
mà theo Ông, là nguyên nhân trực tiếp của những vấn đề thủy lợi ở ĐBSCL
hiện nay. KS Quang là một kỹ sư công chánh chuyên nghiệp (professional
engineer) của tiểu bang California và cũng là một chuyên viên thuộc Hội
Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam. Trước năm 1975, KS Quang là một chuyên viên
phục vụ tại Ủy ban Quốc gia Thủy lợi trực thuộc Bộ Công Chánh và Giao
thông ở Sài G̣n. Ông phụ trách công tác nghiên cứu và soạn thảo các kế
hoạch phát triển thủy lợi ở miền Nam Việt Nam cũng như công tác đo đạc
thủy học và tiên đoán lũ lụt ở ĐBSCL.
Hỏi: Vào đầu tháng 1 năm 2006, báo chí trong nước loan tin cá bè trong
sông Tiền và sông Hậu bị chết hàng loạt. Theo Tiến sĩ (TS) Lư Thị Thanh
Loan, Giám đốc Trung tâm Quan trắc, cảnh báo môi trường và pḥng ngừa dịch
bệnh thủy sản khu vực Nam Bộ thuộc Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản II,
cá chết một phần là do điều kiện môi trường bất lợi. Tại sao t́nh trạng
môi trường ở khu vực nuôi cá bè lại bất lợi, thưa KS?
Đáp: Theo sự hiểu biết của tôi, có lẽ TS Thanh Loan muốn đề cập đến t́nh
trạng ô nhiểm nguồn nước ở khu vực nuôi cá bè trong sông Tiền và sông Hậu.
Kết quả khảo sát ô nhiễm tại các khu vực có cá bè chết hàng loạt ở các
tỉnh An Giang, Đồng Tháp, và Tiền Giang cho thấy mức độ ô nhiễm cao hơn
mọi năm và cao hơn kết quả khảo sát vào tháng 10 năm 2005.
Hỏi: Nguyên nhân nào đă gây ra t́nh trạng ô nhiễm nguồn nước trong sông
Tiền và sông Hậu?
Đáp: Dạ thưa, các cơ quan chức năng ở Việt Nam th́ cho rằng t́nh trạng ô
nhiễm nguồn nước trong sông Tiền và sông Hậu là v́ (1) vào thời điểm lũ
đang rút, nước có phẩm chất kém từ nội đồng đổ ra sông và (2) ngư dân ở
thượng nguồn thải cá chết ra sông khiến cho nguồn nước bị nhiễm mầm bệnh.
Nhưng thật ra, nguyên nhân của t́nh trạng ô nhiễm nguồn nước chính là việc
xây dựng và điều hành hệ thống thủy lợi hiện nay ở ĐBSCL.
Hỏi: KS có thể giải thích thêm chi tiết về t́nh trạng ô nhiễm nầy không?
Đáp: Nói một cách tổng quát, sở dĩ có t́nh trạng ô nhiễm nguồn nước ở
ĐBSCL, nhất là trong nội đồng, là v́ nước bị ứ đọng trong thời gian quá
lâu và nhận quá nhiều chất thải. Vào đầu mùa lũ, nước lũ trong sông, qua
hệ thống kinh thủy lợi, chảy vào các vùng trũng ở nội đồng rất sớm. V́ bị
hệ thống đường giao thông hoặc đê đập cống ngăn mặn ở hạ nguồn ngăn chận,
số nước lũ nầy không thể thoát nhanh ra biển; do đó, nó ứ đọng trong các
vùng trũng một thời gian dài và chỉ chảy trở lại các sông rạch khi mực
nước trong sông rạch xuống thấp hơn mực nước trong nội đồng; và dĩ nhiên,
nó mang theo tất cả chất thải và hóa chất mà nó tiếp nhận trong thời gian
ứ đọng.
Hỏi: C̣n ảnh hưởng của hệ thống đê bao th́ sao?
Đáp: Ảnh hưởng tai hại của hệ thống đê bao ở ĐBSCL đă được xác nhận. Theo
kết quả nghiên cứu của Trường Đại học An Giang có đề tài “Nghiên cứu tác
động đê bao đến đời sống kinh tế - xă hội và môi trường tại một số khu vực
có đê bao ở tỉnh An Giang,” một trong những tai hại nổi bật nhất của hệ
thống đê bao là vấn đề ô nhiễm bên trong đê bao. Theo tài liệu của Sở Khoa
học và công nghệ môi trường tỉnh An Giang, xin trích dẫn “... ngay từ năm
2001 ở huyện Chợ Mới đă xuất hiện t́nh trạng ô nhiễm trong đê bao. Chỉ
riêng chỉ tiêu amoniac đă ô nhiễm cao gấp 10 lần tiêu chuẩn môi trường.
Một số vi sinh, đạm, phốtpho tổng cũng ngày càng cao. T́nh trạng nầy có
thể gây nên hiện tượng phú dưỡng, bùng nổ sự phát triển tảo, làm nước bị
thối, giảm chất lượng nước sinh hoạt và tác động tiêu cực đời sống thủy
sinh, chưa kể sự suy thoái chất lượng đất...” hết lời dẫn.
Hỏi: Như vậy, có giải pháp nào được đưa ra để khắc phục vấn đề ô nhiễm bên
trong đê bao không?
Đáp: Nghiên cứu của Trường Đại học An Giang không đề cập đến những giải
pháp để khắc phục t́nh trạng ô nhiễm bên trong đê bao, nhưng theo ông
Dương Văn Nhă, người phụ trách việc nghiên cứu, th́ tất cả 13 nhà khoa học
trưởng đầu ngành trong lănh vực thổ nhưỡng, thủy sản, chăn nuôi, trồng
trọt, và kinh tế mà ông tham vấn đều cho rằng hệ thống đê bao triệt để có
hại nhiều hơn lợi và hoàn toàn không ủng hộ. Nhưng họ lại ủng hộ đê bao
tháng 8 ở những vùng sâu trong nội đồng, nơi không thể phát triển được rau
màu hay vườn cây ăn trái. Đây là hệ thống đê bao mà sau khi thu hoạch xong
lúa Hè Thu vào tháng 8, đê bị phá vỡ để nước lũ tràn vào đồng.
Hỏi: KS có ư kiến ǵ về đê bao tháng 8?
Đáp: Theo nhận xét của tôi, ô nhiễm bên trong đê bao tháng 8 cũng không
khác mấy với đê bao triệt để, ngoại trừ toàn bộ hệ thống đê phải được san
bằng. Hơn thế nữa, nếu theo khuyến cáo của 13 nhà khoa học Việt Nam tham
gia việc nghiên cứu, hệ thống đê bao tháng 8 có lẽ không có tính khả thi
và không có hiệu quả kinh tế v́ chi phí xây dựng và điều hành sẽ rất cao,
v́ phải xây rồi phá hàng năm mà chỉ bảo vệ được một vụ lúa mà thôi.
Hỏi: Bây giờ, xin trở lại với những vấn đề ô nhiễm mà KS vừa tŕnh bày.
Dường như những vấn đề nầy xảy ra trong hoặc cuối mùa lũ ở thượng nguồn.
C̣n trong mùa khô th́ sao?
Đáp: Trong mùa khô, khi hệ thống đê đập ngăn mặn ở hạ nguồn được đóng để
ngăn chận sự xâm nhập của nước mặn vào vùng canh tác, th́ t́nh trạng ô
nhiễm tương tự như t́nh trạng ô nhiễm bên trong đê bao lại xảy ra và có
thể kéo dài nhiều tháng. Sự khác biệt là mức độ và ảnh hưởng tai hại của
nó v́ (1) nồng độ các chất ô nhiễm cao hơn v́ nước càng ngày càng cạn kiệt,
(2) nhiệt độ cao khiến cho chất thải hữu cơ phân hủy nhanh hơn và gây hôi
thối, (3) gây bệnh cấp tính cho người sử dụng, nhất là bệnh ngoài da và
tiêu hóa, v́ người dân trong vùng không có nguồn nước nào khác ngoài nguồn
nước ô nhiễm nầy. Ở nhiều nơi, t́nh trạng ô nhiễm có thể nghiêm trọng hơn
nếu nguồn nước trong hệ thống kinh thủy lợi nhận nước phèn khi chảy qua
vùng đất phèn ở thượng nguồn.
Hỏi: Nước phèn là ǵ, thưa KS?
Đáp: Người dân ĐBSCL gọi nước có độ acid cao, tức có pH thấp, là nước phèn
v́ có vị chua. Acid trong nước phèn là sulphuric acid, được tạo thành khi
đất phèn (pyrite (FeS2)) tiếp xúc với không khí. Đây là một hiện tượng tự
nhiên ở ĐBSCL thường thấy trong những năm hạn hán v́ đồng bằng nầy có đến
1,6 triệu ha đất phèn, nhất là ở Đồng Tháp Mười (ĐTM) và Tứ giác Long
Xuyên (TGLX). Việc xây dựng hệ thống thủy lợi ở ĐBSCL, nhất là hệ thống
kinh và đê bao ở ĐTM và TGLX, đă thúc đẩy hiện tượng x́ phèn v́ nó hạ thấp
mực nước và giúp cho đất phèn tiếp xúc với không khí qua ḷng kinh, bờ
kinh, bờ và mặt đê, và liếp trồng hoa màu. Theo dữ kiện của Trung tâm chất
lượng nước và môi trường thuộc Phân viện khảo sát quy hoạch thủy lợi Nam
Bộ, trong khoảng 1985 đến 1997, pH tại nhiều trạm quan trắc ở vùng ĐTM và
TGLX có thể xuống dưới 3,0, nhất là vào mùa khô ở hạ nguồn. Nhưng theo tài
liệu của Viện khoa học xă hội tại thành phố Hồ Chí Minh được ấn hành năm
1999, pH có thể xuống đến 2,5 trong những năm có lụt nhỏ, và đặc biệt
trong vụ hè-thu 1995, pH của nước trong đồng ruộng chỉ c̣n 1,0.
Hỏi: KS có thể cho quư thính giả biết thêm chi tiết về những trị số pH mà
KS vừa tŕnh bày không?
Đáp: Theo tiêu chuẩn của Việt Nam, nước gia dụng phải có pH trong khoảng
6,5 đến 8,5. Để quư thính giả có thể so sánh, giấm ăn có pH khoảng 3,0 và
nước chanh nguyên chất có pH khoảng 2,4. Nước có pH thấp không ảnh hưởng
trực tiếp đến sức khỏe con người, nhưng không thể sử dụng nếu pH quá thấp.
Trái lại, nhiều loại cây cối và sinh vật sống trong nước rất nhạy cảm với
pH của nước. Hầu hết rau cải bị ảnh hưởng nếu nước có pH thấp hơn 6,0. Lúa
chỉ thích hợp với nước có pH từ 6,5 đến 7,5. Nghêu ṣ bắt đầu chết khi pH
của nước xuống 6,0. Trứng cá không thể nở khi pH của nước đạt 5,0, và sinh
vật không thể sống nếu pH của nước thấp hơn 4,5.
Hỏi: Ngoài những ảnh hưởng vừa tŕnh bày, hệ thống thủy lợi ở ĐBSCL c̣n có
ảnh hưởng nào khác đến t́nh trạng ô nhiễm môi trường ở ĐBSCL không, thưa
KS?
Đáp: Dạ thưa, hệ thống kinh thủy lợi ở ĐBSCL c̣n là những ḷng lạch thuận
lợi giúp cho t́nh trạng ô nhiễm lan tràn ra khắp nơi, tương tự như việc
lan truyền nước lũ ở thượng nguồn và nước mặn ở hạ nguồn. Thí dụ như nước
thải của Nhà máy Đường Trà Vinh đă gây ô nhiễm cho kinh T9, N10, Mù U và
sông Trà Cú. Nước thải của Nhà máy Đường Vị Thanh xả trực tiếp xuống kinh
Rạch Gốc gây ô nhiễm cho kinh xáng Xà No. Gần đây hơn, nguồn nước ô nhiễm
trong rạch Ô Môn đă theo hệ thống kinh thủy lợi tràn vào nội đồng và gây ô
nhiễm một vùng rộng lớn trong tỉnh Cần Thơ và Hậu Giang.
|