|
20 năm triết lư Tây
phương ở miền Nam VN
1955-1975
Nguyễn Văn Lục
Từ năm
1918 bắt đầu chấm dứt thi Hương. Nhưng măi đến năm 1950 mới bắt đầu có kỳ
thi tú tài 2, tiếng Việt. Có nghĩa là, môn Triết mới được chính thức giảng
dạy theo chương tŕnh Việt. Như vậy chỉ trong ṿng 25 năm, môn triết Tây
mới chính thức được giảng dạy ở Bắc và nhất là miền Nam VN...Thời gian kể
là ngắn... Vậy mà sức tác động và ảnh hưởng của nó trên giới thanh niên
trí thức miền
Nam
thật lớn lao đến không ngờ được. Chúng tôi đă gặp lại bạn bè cùng trang
lứa đều cảm thấy hănh diện về điều ấỵ
Bài viết
này viết với tâm thành của một người trong cuộc nh́n lại ḿnh, nh́n lại
bạn bè, nh́n lại thế hệ ḿnh, nh́n lại tầm ảnh hưởng những tư tưởng ấy
trên mỗi cá nhân. Nó đă cuốn lốc theo cả một thế hệ như cơn lũ, kéo theo
những bè mảng rác rưởi, những “ngộ nhận”, những “huyền thọai” từ nhiều
phía, những om x̣m nếp sống chán chường buông thả. Nhưng nó cũng nâng lên
tầm cao ư thức trách nhiệm, “dấn thân”, “nhập cuộc”, “lên đường” và những
thái độ trước thời cuộc của từng ngườị. Nó cũng ảnh hưởng trên những xu
hướng chính trị, những xác lập về một thái độ cần phải có trước hiện t́nh
đất nước như chống chiến tranh, khát vọng ḥa b́nh, mong mỏi đất nước
không c̣n chiến tranh, cho cây rừng c̣n xanh lá. (tựa đề sách của Nguyễn
Ngọc Lan).
Đă có biết bao nhiêu đổi thay, biết bao ngă rẽ, chọn lựa, cảm thức về sự
thành bại, thất vọng, nhưng chúng tôi cảm thức được rằng chúng tôi đă nhận
được từ một nền giáo dục ấy những hành trang cho tuổi trẻ lên đường. Chúng
tôi hănh diện về điều ấỵ Bài viết sau đây muốn đi lại từ đầu những vị đă
đóng góp cho ngành triết học Tây Phương ở miền Nam Việt nam, đồng thời nêu
bật những đặc tính cũng như tinh thần giảng dạy của môn học này tác động
trên giới trí thức thành thị như thế nào. Chúng tôi sẽ giải thích thế nào
để chúng tôi có quyền hănh diện. Và đó là mục đích chính của bài nàỵ
1. Những
người mở đường.
Trong
giai đoạn đầu tiên, v́ thiếu người có bằng cấp chuyên môn về triết học nên
việc giảng dạy hầu như do các linh mục ngoại quốc cũng như VN đảm nhận. Ở
ngoài Bắc, vào những năm 1950-1952, có các linh mục Vũ Kim Điền, thường
được gọi là Điền Rôma, Trần Văn Hiến Minh, Bửu Dưỡng, Đỗ Minh Hồng (Papineau)
nhất là cha Đỗ Minh Vọng (Cras).
[i]
Giáo sư
Trần Văn Hiến Minh sau đó đă di cư vào miền Nam, tiếp tục dạy triết những
năm 1955 cho học sinh Trưng Vương và Chu Văn An. Giáo sư Bửu Dưỡng chỉ c̣n
dạy ít giờ ở Viện Đại học Đàlạt. Trong sách : Các nhân vật ở Hue^' có bài
viết riêng về giáo sư Bửu Dưỡng. Cha Papineau tiếp tục giảng dạy ở các
trường trung học do các bà sơ đảm nhiệm như Couvent des oiseaux, Régina
Pacis và sau hết dạy tại Viện Đại Học Đàlạt. Riêng cha Đỗ Minh Vọng đă là
thầy dạy của rất nhiều thế hệ sinh viên từ Bắc vào Nam. Cha đă có công xây
dựng, sáng lập clb Phục Hưng và trước tác về triết học. Cha cũng đứng về
phía dân tộc VN chống lại người Pháp, và đă có thời kỳ, ngài đă không được
phép quay trở lại VN.[ii]
Hiện
nay, tôi c̣n giữ được một số những bài viết của cha như các bài : Nhân vị
trong tác phẩm Hồn bướm mơ
tiên. Bài thuyết tŕnh đă được cha Đỗ Minh Vọng viết
bằng Tiếng Việt và thuyết tŕnh vào năm 1956, tại Câu lạc bộ Phục Hưng
Sàig̣n. Trẻ già, hai thế hệ đối lập. Bài này đă được thuyết tŕnh tại Đại
Học Hè 1960. Đàlạt trong khuôn khổ chủ đề : T́m hiểu người thanh niên VN
ngày naỵ De la mort d!un
combattant Vietnamien (Bài này chứng tỏ cha yêu dân tộc VN
như thế nào) những văn bản học tập chữ Nho và cuối cùng bài viết Khánh
thành clb Phục Hưng năm 1940, ở Hànội viết bằng tiếng Pháp. Có lẽ đấy là
clb sinh viên đầu tiên ở VN do cha Vọng sáng lập và sau này tiếp tục duy
tŕ ở miền Nam VN.[iii]
Ngoài
Bắc lúc trước năm 1954, đặc biệt c̣n có Giáo sư Nguyễn Thiệu Lâu dạy triết
tại trường Trưng Vương. Sau 1954, ở trong Nam có thêm các giáo sư Nguyễn
Khắc Kham, Lữ Hồ, Phạm Mạnh Cương, Nguyễn Bá Cường, cha Trần Đức Huynh.
Ngoài Nha trang có giáo sư Cung Giũ Nguyên. Ngoài Huế, cha Cao Va(n Luận
là giáo sư đầu tiên dạy triết tại trường Quốc Học. Tiếp theo đó có giáo sư
như Trần Văn Hương và sau thêm giáo sư Văn Đ́nh Hỵ
Trong
giai đoạn khởi đầu này, cần phân biệt 3 thành phần giáo sư đă góp công sức
trong việc giảng dạy triết học Trung Học. Thành phần thứ nhất chiếm đa số
là các lm phần đông tốt nghiệp đại học ở ngoại quốc hoặc có đủ tŕnh độ để
giảng dạy như các lm Cao Văn Luận, Nguyễn Văn Lập, Đỗ Minh Vọng, Papineau,
Bữu Dưỡng vv. Thành phần thứ hai là một số giáo sư không có tốt nghiệp đại
học về ngành triết học.. nhưng v́ nhu cầu giảng dạy lúc đầu đă đảm trách
việc giảng dạy như các giáo sư Cung giũ Nguyên, Trần Văn Hương, Văn Đ́nh
Hy, Nguyễn Bá Cường, cụ Nguyễn Khắc Kham, Bùi Hữu Sủng. Mặc dầu vậy, không
thiếu những quư vị đó sau này trở thành những nhà văn hoá của miền Nam như
các giáo sư Nguyễn Khắc Kham, Cung Giũ Nguyên,[iv] Bùi Hữu Sủng. Cả hai vị,
giáo sư Nguyễn Khắc Kham và Cung Giũ Nguyên cho đến lúc này vẫn c̣n sống,
mặc dầu rất cao tuổi, sắp sửa tiến tới con số trăm tuổi. Việc giảng dạy
lúc này c̣n có nhiều khó khăn v́ danh từ triết học chưa có đủ để diễn tả
những khái niệm triết học. Theo anh Phạm Mạnh Cương, sau này cũng là một
nhạc sĩ, sáng tác bản Thu Ca, năm 1953, lúc mớí 19 tuổi, một trong những
học tṛ đầu tiên của cha Cao Văn Luận ở Quốc Học Huế. Anh cho biết là
nhiều khi vừa giảng dạy bằng tiếng Việt, cha vừa phải chêm tiếng Pháp.
Nhưng có cái may mắn là học tṛ giai đoạn đó đều thông thạo pháp ngữ cả.
Thành
phần thứ ba, tương đối trẻ lúc đó là các giáo sư tốt nghiệp trường Sư phạm
Cao Đẳng Đông Dương. Trường này chỉ có hai khoá, rồi sau đó băi bỏ, v́ có
cuộc di cư từ Bắc vào miền Nam. Thật ra mà nói, các sinh viên thời kỳ này
chỉ học có hai năm. Trong hai năm đó lại học đủ thứ như sử địa, văn học,
triết học. Đó là những người như các anh Lữ Hồ, anh Phạm Mạnh Cương, khóa
hai ra trường về dạy tại Mỹ Tho, sau đó đổi về dạy Pétrus Kư. Các giáo sư
giảng dạy trong các lớp Cao đẳng sư phạm Đông Dương th́ có Cha Cras, cha
Bửu Dưỡng, cha Papineau và cha Nguyễn Văn Lập (dạy ngữ học). Để giải quyết
tài liệu giáo khoa triết trong việc giảng dạy trong giai đoạn này th́ cũng
có một số giáo sư như Trần Văn Hiến Minh, Cao Văn Luận, Nguyễn Văn Khiết,
Trần Đức Huynh và Phạm Mạnh Cương, Trần Bích Lan viết sách giáo khoa.
Trong số đó, bộ sách giáo khoa của cha Cao Văn Luận được coi là bộ sách
giáo khoa căn bản nhất, khá gọn, dễ hiểu và c̣n được học sinh dùng trong
những năm sau nàỵ
Những
người đi mở đường đă hẳn là gặp nhiều khó khăn của thuở ban đầu. Cái khó
khăn lớn nhất vẫn là trắc trở ngôn ngữ, làm sao chuyển dịch được những
danh từ triết học sang tiếng Việt. Tỉ dụ các danh từ như thuộc tính, bản
chất, bản tính, bản thể, hữu thể, hữu thể tính, tiềm thể, vô tính, hiện
hữu, hiện sinh, hữu hạn, thực tại tính, thực tại tính khách thể, thực tại
tính mô thể.. Và có thể nói việc học triết khởi đầu là biết đọc, hiểu được
các thuộc tính của mỗi từ triết. Không nắm được ư của mỗi từ th́ kể như
không nắm được triết thuyết và nhất là hiểu sai lệch triết thuyết ấỵ Nếu
nói như thế th́ cái công của cha Cao Văn Luận, Trần Văn Hiến Minh không
phải là nhỏ đối với môn triết dạy ở trung học.. cũng như sau này của
Nguyên Sa Trần Bích Lan, Vĩnh Đễ, Trần Đức An.
Có thể
có một nhận xét chung là các vị thầy thời kỳ này đều là những vị thầy khả
kính về đức độ, về nhân cách một người thầy và ư thức trách nhiệm của một
người thàỵ Tôi xin được phép ghi lại đây một vài hồi ức của anh Nguyễn
Trọng Văn về thầy Gauthier chứng tỏ tinh thần học Triết tây Phương lúc bấy
giờ như thế nào. Trong kỳ thi concours vào ngành Đại Học Sư Phạm triết
với đề thi : “Triết học là một thái độ luôn luôn đi trên đường (en route).
Và v́ thế, những câu hỏi thường quan trọng hơn những câu trả lời. Anh nghĩ
ǵ về tư tưởng trên.” Tôi không biết anh Văn đă viết ǵ về đề tài trên.
Chỉ biết rằng anh đă viết ngược với chiều hướng chung, đi ngược với quan
điểm của phần lớn các triết gia hiện sinh thời bây giờ. Thầy Gauthier là
người đă chấm bài của anh và đă cho anh đỗ caọ Nhưng trong giờ đầu tiên
học thầy, thầy đă hỏi ai là người đă viết bài đó. Sau đó thầy cho biết anh
viết như thế là không có một chút nào compatible giữa anh và tôị. Và b́nh
thường tôi có quyền cho anh rớt. Nhưng tôi tôn trọng quan điểm của anh và
cho anh đậu cao. Thái độ của ông thầy đă hẳn trở thành tấm gương cho sinh
viên và sau này Nguyễn Trọng Văn đă trở thành một giáo sư Triết xuất sắc,
đồng thời anh vẫn giữ thái độ, lối viết phê phán ngược ḍng đối với nhiều
vấn đề triết học.
Những
cuốn danh từ triết học đầu tiên
Như đă
nói ở trên. Học triết trước hết là học và hiểu danh từ triết học.. Không
nắm được danh từ sẽ không nắm được tư tưởng của Triết giạ V́ thế, các giáo
sư thời bấy giờ đă có một nỗ lực đáng kể là soạn ngay một bộ sách về danh
từ triết học. Theo Cha Trần Văn Hiến Minh, trong lời mở đầu cuốn Từ Điển
và Danh Từ Triết học, ngày 21 tháng 1, 1956 đă viết : Ngay từ năm 1952,
xuất bản tại Hànội cuốn Danh từ Triết Học do một nhóm Giáo sư dạy Triết
Học trong một số trường công tự. Mục đích của những người biên sọan ra nó
là muốn đáp lại nhu cầu Việt hóa môn Triết Học, một môn quan trọng trong
chương tŕnh tú tài phần hai VN lúc đó vừa mới manh nhạ Năm 1956, tại
Sàig̣n, nhóm họp Hội nghị thống nhất ngôn ngữ từ 5-9 tớỉ 10-9-1956. Trong
Hôi Nghị này được thiết lập một ban từ ngữ chuyên môn mà chúng tôi hân
hạnh được bầu làm Trưởng Ban.Riêng chúng tôi giữ Tiểu Ban danh từ Triết
Học và đă cống hiến độc giả một số danh từ làm mẫu in trong Đặc san về Hội
nghị thống nhất ngôn ngữ tháng 11-1956 của Văn Hoá nguyệt san, số đặc biệt
16.. Năm 1959, một nhóm Giáo sư Đại Học Huế với sự hợp tác của nhiều nhân
sĩ đă cho xuất bản cuốn Danh từ Triết Học mới để thay thế cuốn Danh Từ
Triết Học 1952 đă không c̣n bán trên thị trường. Từ đó tới nay đă hơn 6
năm, sau bao nhiêu chờ đợi và lưỡng lự, chúng tôi đánh bạo xuất bản cuốn
Từ Điển và Danh từ Triết học này, nhằm tiếp tục và bổ xung cho các cuốn
trước..
Có một
vài điều đáng tiếc trong lời nói mở đầu này Cha Trần Văn Hiến Minh đă
không cho biết tên các tác giả là ai đă có công làm bộ sách Danh từ Triết
Học đầu tiên này vào năm 1952, tại Hànộị Tôi chỉ có hai cuốn sau, cuốn đầu
tiên không có và có thể không c̣n ai có. Đến cuốn Danh từ Triết Học của
Viện Đại Học Huế một lần nữa cũng hẹp ḥi không ghi tên các tác giả đó.
Thật ra họ là những người như Cao Văn Luận, Luật sư Đào Văn Tập, Giáo sư
Nguyễn Văn Trung, Cha Xuân (Corpet) và ông Trần Văn Tuyên. Họ cũng muốn
làm một bộ Tự Điển Triết Học như cuốn tự điển nổi tiếng Lalande. Nhưng bất
hạnh là người chủ trương và bỏ tiền như ông Đào Văn Tập chẳng may mất. Thế
là dự định soạn một bộ Bách khoa tự điển cũng tiêu tan theo.
Trong
việc dịch danh từ Triết học th́ vấn đề quan trọng không phải là dịch danh
từ mà là giải và định nghĩa danh từ. Thật vậy, chẳng hạn chữ Philosophie
existentialiste của Sartre đă khác với chữ Philosophie exixtentielle của
Gabriel Marcel và Karl Jaspers và cũng khác với Philosophie existentiale
của Heideigger. Có những chữ đă được dịch tùy tiện, thử nghiệm, thăm ḍ
hoặc như một đề nghị như từ Aliénation extranéation và extéorisation. Và
đă có nhiều cách để dịch từ đó. Có người như Trần Đức Thảo trong cuốn
Triết lư đi đến đâu dịch là phóng khí. Chữ Phóng khí sau đó đă được nhiều
giáo sư dùng theo. Nhưng chỉ một thời gian khi Cuốn danh từ Triết học của
nhóm Cao Va(n Luận dịch là phóng thể (Hégel),[v].
Chu+~
phóng khí gần như không được ai dùng nữa. Một số bài viết của Nguyễn Văn
Trung đôi khi lại dùng chữ con người bị tha hoá. Và đến Trần Văn Toàn
trong cuốn T́m hiểu Triết Học của Karl Marx, ông đă dành hẳn chương hai,
từ trang 58 đến trang 122 để chọn dịch là Vong Thân. Tôi dành trọn vinh dự
này cho Trần Văn Toàn. Chữ Vong Thân của Trần Văn Toàn sau này được dùng
nhiều hơn như Vong thân trong Cần lao, Vong Thân trong Chính trị, hay ư
thức về Vong Thân. Từ đó diễn giải ra người nô lệ vong thân, người dân bị
trị vong thân, người cùng khổ, kẻ làm đầy tớ vong thân, cô gái điếm cũng
là vong thân vv.. Và chữ Vong Thân trở thành một từ quen thuộc đến không
c̣n ai thắc mắc về ngữ nghĩa của nó nữạ Phải nhận rằng trong sách tự điển
và danh từ Triết học của Trần Văn Hiến Minh đă khá hơn, đầy đủ hơn v́ đă
khai triển thêm các từ được dùng trong Triết học Cổ, Triết Học kinh viện,
triết học cận và hiện đại, cộng thêm các danh từ triết học Đông Phương
trong tam giáo: Phật, Lăo, Khổng. Nhưng kể từ sau cuốn Tự điển và danh từ
Triết học của Trần Văn Hiến Minh.. đă không c̣n có cuốn nào khác bổ xung
cho đến 1975.
2. Những
giáo sư triết đại học tiêu biểu.
Những vị
giáo sư Triết tiên khởi chưa thực sự có ảnh hưởng trực tiếp đến sinh hoạt
triết học Tây Phương ở miền Nam. Cùng lắm ảnh hưởng của họ giới hạn trong
các học sinh thi tú tài hai và khuôn viên đại học.Chưa ảnh hưởng rơ nét
trong sinh hoạt văn học như trong tiểu thuyết, trong nếp sống, nếp nghĩ,
nếp hành động của giới thanh niên trí thức..Đó là điểm khác biệt then chốt
giữa hai thời kỳ..
Giữa
triết học và đời sống thực tế có ranh giới rạch ṛi. Triết lư chỉ là lư
thuyết, suy tưởng. Cuộc đời là một thực tế mà triết lư đôi khi trở thành
vô bổ theo nghĩa Primum viverẹ Phải đợi đến một lớp giáo sư trẻ từ ngoại
quốc mới về, phần lớn là từ Pháp, Bỉ hay Thụy Sĩ, sau 1954 mới thực sự gây
được một bầu khí sinh hoạt triết, gây thành một phong trào triết mà chủ
yếu là triết hiện sinh. Không hẳn là họ giỏi, dù thực tế họ giỏi, nhưng
chắc chắn tầm nh́n và tầm hiểu biết không như trước nữạ Đă có cái ǵ vượt
qua chính các bậc tiền bốị Đọc lại bài Nhân vị trong Hồn bướm mơ tiên của
cha Vọng thấy có chút ǵ ngây ngô, đôi chút buồn cườị Bài Già và trẻ : hai
thế giới đối lập th́ xưa quá rồị Nếu các giáo sư trẻ này gây được tiếng
vang ǵ, chính bởi v́ họ đang truyền bá một thứ triết học nổi bật nhất thế
kỷ 20. Đến có thể nói, nhờ triết lư hiện sinh đă làm nên thân phận họ. Như
Trần Thái Đỉnh, trong lời nói đầu cuốn Triết học hiện sinh của ông viết :
“ Âu Châu đă trải qua những năm sinh hoạt triết học trầm trầm và buồn tẻ.
Triết học hiện sinh đă xuất hiện rầm rộ, gần như tiếng sóng vang động cả
trời đất, lay động xă hội Tây phương cách mạnh mẽ như chưa từng thấy trong
lịch sử... Điểm son của nó là đă tạo nên được cả một phong trào rộng lớn
và sôi nổi trong giới văn học.”[vi]
Họ là ai.
Là ai th́ dễ rồi, chỉ cần hài tên tuổi họ ra. Nhưng điều quan trọng là cần
sắp xếp lại theo thứ tự ảnh hưởng do cách viết, cách tŕnh bày, cách chọn
đề tài của mỗi tác giả. Công việc có đôi phần tế nhị, nhưng không thể
không làm.
A.Nguyễn
Văn Trung,
người gây một phong trào triết lư hiện sinh kéo theo một thế hệ giới trẻ
với đám con hoang trong triết học và văn học. Miền Nam lúc bấy giờ có khá
nhiều giáo sư triết dạy đại học. Tuy nhiên có những người chỉ có ảnh hưởng
giới hạn trong giới Sinh Viên như Lê Tôn Nghiêm, Thân Văn Tường hoặc có
ảnh hưởng một phần vừa trong giới sinh viên, một phần ngoài đại học v́ họ
có các bài báo, hoặc sách in như Trần Văn Toàn, Trần Thái Đỉnh. Có những
người khác th́ hầu như chẳng có ảnh hưởng ǵ ngay trong giới Sinh Viên của
ḿnh như Lê Thành Trị, Lâm Ngọc Huỳnh, LM Nguyễn Văn Khiết. Hoặc ít viết
về triết học, nhưng qua những bài báo có ảnh hưởng khá lớn đối với bên
ngoài như Lư Chánh Trung.
Nhưng
Nguyễn Văn Trung là trường hợp đặc biệt. Trong một bài viết gây chấn động
tạo được tiếng vang của Nguyễn Trọng Văn, anh có hai bài viết nổi cộm thời
đó v́ đụng đến những nhân vật tiêu biểu trong giới văn học là bài : Phạm
Duy đă chết và bài đăng trên Bách Khoa, số 264, ngày 1-1-1968 nhan đề :
Những người con hoang của Nguyễn Văn Trung. Trong đó Nguyễn Trọng Văn
nhận định rằng : “Ông Trung là người có công trong việc giới thiệu những
trào lưu tư tưởng mới của Tây Phương... Ông tŕnh bày một cách gọn gàng,
mạch lạc. Những triết học hiện sinh, những danh từ có tính cách văn nghệ,
triết lư dần được du nhập và phổ biến. Những Hiện tượng luận, đối thoại,
tha nhấn, phản kháng, vong thân, ngụy tín, huyền thoại, thông cảm, những
Alain Robbe Grillet, Nathalie Sarraute, Michel Butor, Sartre, Camus.. đă
được Nguyễn Văn Trung tŕnh bày hàng chục năm trước trong Sáng Tạo, Bách
Khoa, Thông Cảm, Thế Kỷ 20”.
[vii].
Nguyễn Trọng Văn viết tiếp : “Dù muốn dù không, ai cũng phải nh́n nhận
rằng có những tư tưởng, những danh từ và những cách lập luận mà trước ông
không ai dùng đến, nhưng sau ông th́ người ta dần dần quen biết và nhắc
tới (tính cách quyến rũ và ám ảnh của hiện tượng luận, tính cách thú vị
bất ngờ của vấn đề huyền thoại, cách thức lư luận về vấn đề cách mạng xă
hội). Phải nói thêm rằng Nguyễn Văn Trung thời trẻ có lối viết khá ma
thuật, có khả năng thuyết phục và hấp dẫn trong mỗi vấn đề ông tŕnh bàỵ
Một bộ phận không nhỏ của một thế hệ thanh niên trí thức bị cuốn hút theo,
ảnh hưởng trên nếp sống, nếp nghĩ, nhất là thái độ và hành động.. Ảnh
hưởng của Nguyễn Văn Trung trên giới trẻ có thể là ảnh hưởng thuận chiều,
hay chống đối, ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp, ảnh hưởng ngay cả trên
b́nh diện triết lư chính trị. Chưa kể có những trường hợp ở hải ngoại, có
người vu cáo, ông thuổng dịch sách của tác giả ngoại quốc làm của ḿnh.” [viii]
Cách
tŕnh bày dễ hiểu, cách đặt vấn đề, cách tra vấn, khả năng thuyết phục cao
đă đặt giới trẻ vào tâm thức tra vấn, thức tỉnh, xao xuyến. Đồng thuận hay
phản đối là quyền của họ, nhưng ảnh hưởng th́ vẫn là ảnh hưởng, trong đó
có ảnh hưởng lật ngược cũng là mục đích nhắm của NVT. Chẳng hạn, Nguyễn
Trọng Văn đă dẫn chứng có những người chịu ảnh hưởng trực tiếp như Trần
Văn Nam trong tập thơ của anh. Hay trong bài viết : Văn chương t́m về viễn
mơ hay hiện thực. Trần Nhật Tân với : Mơ về Mỹ thể. Nguyễn Văn Bảy với bài
viết : Phê b́nh quan điểm cách mạng xă hội của hai ông Nguyễn Văn Trung và
Lư Chánh Trung. Báo Sinh viên, số 6. Tạp chí sinh viên các số 3,5 và 6 với
quan điểm : Hiện tượng hủ hoá của Sinh viên, những ảo tưởng của đàn anh
cùng phê b́nh quan điểm cách mạng xă hội của ông Nguyễn Văn Trung và Lư
Chánh Trung. Trần Văn Hảo với : Những ảo tưởng của đàn anh, SV, số 5. Nam
Trung với : Con đường cách mạng xă hộị Trách Nhiệm, số 3. Nguyễn Đăng
Trừng với Một nền tảng phù hợp cho chế độ chính trị tại VN, Văn Học số 75,
trang 9. Tiếp theo, có thể là những ảnh hưởng gián tiếp của một số trí
thức, nhà văn.. Thế Uyên với Nghĩ trong một xă hội tan ră. Nguyễn Khắc
Hoạch với Đi vào đọan đường hôm naỵ Thế kỷ 20, số 1, tháng 7-1960. Lữ
Phương với Mấy vấn đề văn nghệ, xb Tŕnh bầy 1967, trg 140,141.
Cộng vào
đó, có những ảnh hưởng theo đuôi, bắt chuớc, làm dáng trí thức đă đưa đến
chỗ Nguyễn Trọng Văn gọi đó là : Những người con hoang của Nguyễn Văn
Trung. Nguyễn Trọng Văn viết : “Chính những sinh viên chịu khó đi học và
học bài, 100 người đă chắc ǵ 10 người hiểu được tới nơi, tới chốn Dasein,
Hư vô, dự phóng, Ngụy tín, Hiện hữụ. là ǵ, nhưng khi họ viết văn th́ làm
như ḿnh đă hiểu hết, đă nắm mọi vấn đề. Họ dùng chữ một cách chát chúa để
vượt mặt người khác và chính họ, coi việc làm dáng là làm văn nghệ, là
sáng tác đích thực.”. Nói cho cùng, ảnh hưởng của triết lư hiện sinh qua
cách tŕnh bày gợi hứng của Nguyễn Văn Trung, qua những giới thiệu tư
tưởng của Sartre theo tiến tŕnh Sartre- Nguyễn Văn Trung- giới trí thức
trẻ đă tạo ra những sản phẩm có thể quá tải, có thể là bắt chước, làm dáng
trí thức như những nhận xét như kết án của Nguyễn Trọng Văn trong các
thành phần xă hội sau đâỵ Cách đánh giá của Nguyễn Trọng Văn có thể đă từ
một góc độ nh́n chính trị từ một quan điểm cách mạng xă hội theo hướng chủ
nghĩa Mác Xít. Có thiên lệch không. Phần chúng tôi, đă nh́n lại trong một
chừng mực có thể chấp nhận được ảnh hưởng qua lại, có phần của Nguyễn Văn
Trung như gợi hướng, mở đường thôi. Phần c̣n lại, có thể là ảnh hưởng trực
tiếp từ các trí thức miền Nam đă đọc thẳng tài liệu từ các triết gia hiện
sinh bằng ngoại ngữ.
a. Trong giới giáo sư dạy triết.
Trong
giới giáo sư thời đó, thế hệ thứ hai với những người như Đặng Phùng Quân,
Nguyễn Quốc Trụ, Huỳnh Phan Anh, Trần Nhựt Tân, Trần Văn Nam.. Phải chăng
họ cũng là những người mang những thông điệp của của triết lư Hiện sinh
vào VN? Và kết quả họ đă đạt được ǵ? Và hầu như tất cả các luận án cao
học Triết thời đó đều đề cập đến các Triết gia Hiện sinh. Nhưng cũng đặc
biệt chỉ có một luận án Triết của những người trong số họ đề cập đến Triết
Hiện Sinh của Sartre. Làm sao cắt nghĩa được điều này?
Sau đây
là một số luận án : Mối liên hệ người với người trong triết học G. Marcel.
Nguyễn văn Phiên. L’existence d’autrui et la fidélié dans l’oeuvre de G.
Marcel. Đặng Phùng Quân. Từ Hiện tượng luận Husserl đến Hiện tượng luận
Heidegger. Trần công Tiến. Vấn đề thân xác trong triết học Merleau Pontỵ
Nguyễn Học Sĩ.. vvv Huỳnh Phan Anh viết Văn chương và kinh nghiệm hư
vô.Nguyễn quốc Trụ viết Văn chương và sự khả hữu. Văn chương với Simone de
Beauvoir của Đặng Phùng Quân. Viết về J.P sartre của Huỳnh Phan Anh.
Simone de Beauvoir và những h́nh ảnh đẹp của Huỳnh Phan Anh. Hành tŕnh
của S. de Beauvoir của Huỳnh Phan Anh. Nguyễn Nhật Duật với kinh nghiệm và
vực thẳm. Trần Nhựt tân với Đi t́m hiện hữu hay quyên sinh. Văn chương
viễn mơ với trần Nhựt Tân, Trần Văn Nam.
Đă có
bao nhiêu độc giả đă đọc họ và đă có bao nhiêu người hiểu họ? Tôi chỉ có
thể hỏi mà không đủ tư cách để trả lời thay cho những người khác. Sự tŕnh
bầy khó hiểu và đôi khi khúc mắc đến tối tăm lại là dấu tỏ một sự hiểu
biết ngoại hạng và một sự ưu vượt tài trí hơn người.Họ đẩy người đọc vào
tâm trạng cảm thấy một mặc cảm thấp kém của ḿnh khi đọc những bài viết
như thế.. Không ai dám truy vấn chính ḿnh đến ngọn nguồn về tŕnh độ đọc
sách và truy vấn người viết về khả năng hiểu biết và diễn đạt? Người đọc
không lẽ mang cái dốt của ḿnh làm thước đo người khác? Người viết tự đồng
hóa ḿnh vào sự hiểu biết mà không cần biết người đọc hiểu được bao nhiêủ
Nếu người đọc không hiểu th́ phần lỗi về họ. Phải chăng những trí thức trẻ
trên đúng là những kẻ truyền thừa của Sartre và cái triết lư ấy? Nguyễn
Trọng Văn đă nhấn mạnh tới điểm này, nói tới một h́nh thái theo đuôi, bắt
chước, thời thượng? Phê phán như thế có oan cho họ không? Với thiện chí
của người trẻ, người trí thức, cố gắng đeo đuổi nghiên cứu triết lư Hiện
sinh, họ bị xếp ngang hàng với những cậu choai choai Hippie? Thế nào là
thời thượng, thế nào là không thời thượng? Thế nào là theo đuôi, thế nào
là học hỏi, cầu tiến? Phải nh́n nhận như Nguyễn Trọng Văn là thế hệ những
người trẻ thế hệ thứ hai đă không đóng nổi vai tṛ tiếp nối của lớp đàn
anh. Không kế thừa và triển khai được những ǵ mà lớp đàn anh đă làm. Phải
chăng chính v́ triết học hiện sinh đă đi vào thoái tràọ Hay là đă không
c̣n ǵ để nói nữa, nói đến nhàm chán rồi. Những bài viết của Huỳnh Phan
Anh, Nguyễn Quốc Trụ, Trần Nhựt Tân, Trần Văn Nam, Đặng Phùng Quân không
đạt được những điều mà giới độc giả trông đợi ở họ như Nguyễn Trọng Văn đă
nhận xét trong bài “Những con hoang của Nguyễn Văn Trung”. Và cho đến bây
giờ, điều đó vẫn là sự thực khó ḷng biện minh.. Nhận xét như thế này, có
thể các anh có thể giận và bực bội. Giận th́ tôi đành chịu. Ngay cả một số
anh chị ra nước ngoài, ít lắm là có khoảng 10 người có điều kiện học lại,
có bằng tiến sĩ cũng vẫn không đảm đương nổi vai tṛ tiếp nối. Chưa có một
cuốn sách triết học nào được xuất bản có tầm cở và có ảnh hưởng đáng kể..
Và sau 30 năm mới có cuốn sách dịch Phê phán lư tính thuần tuư của Kant,
do Bùi văn Nam Sơn dịch. Trừ phần Triết đông, dă có một số người viết
thành đạt. Có cuốn được in ra cũng không ai hiểu viết ǵ. Không ai đọc nổị.
Điều này phải cắt nghĩa thế nào?
b. Trong phê b́nh văn học.
Trong
nghiên cứu văn chương, người ta cũng đọc thấy những đế tài như: Chinh phụ
ngâm với tâm thức lăng mạn của kẻ lưu đầỵ Lê Tuyên. Nguyễn công Trứ với
cảm thức Hư vô. Tản Đà với khát vọng vĩnh Cửụ Thời gian Hiện Sinh trong
Đoạn Trường Tân Thanh của Lê Tuyên. Gặp gỡ giữa Ôn Như Hầu và Camus của
Đặng Tiến ( tôi chưa được dọc). Những tiếp cận như thế là một cố gắng đào
sâu các tác giả VN bằng cách so sánh với các tác giả ngoai quốc. Cô gắng
đó có đạt được điều mà chúng ta mong muốn. Hay chỉ là gán ghép gượng ép.
Chưa thể có được một tiêu chuẩn xác minh chứng thực. Nhưng phải nh́n nhận
những thiện chí ấỵ Nhưng mà, tự nhiên Chinh phụ ngâm, Nguyễn Công Trứ,
Tản Đà trở thành những triết gia bất đắc dĩ. Điều mà trước đây không ai đă
có cơ hội truy cứu xem Tản Đà chỉ khát rượu, khát bạn, khát làm thơ ngông
nay có thêm khát vọng vĩnh cửu? Cái hư vô của Nguyễn Công Trứ là cái ǵ?
Có phải là một cảm nghiệm siêu h́nh giữa hữu hạn và vô hạn? Giữa có và
không? Giữa Hữu Thể và Tuyệt đối thể? Hay chỉ là một cảm giác chênh vênh
bên bờ, một chân gác bên này của Hữu Thể, chân kia chạm phải Hư Vô? Hay
chỉ là ư thức về cái yếu đuối của cuộc nhân sinh, của tuổi xế chiều? Hay
là một một xao xuyến trước cái mong manh của thời gian với cái Vĩnh Hằng?
Đă có rất nhiều nhà văn ở tuổi già mơ hồ cảm được cơi người và cơi bên kia,
cái hiện hữu khô trồi và cái mù khơi xa vời vợi? Từ một lúc nào đó nhận
thấy h́nh hài ta là cát bụi, ta là có đấy rồi không đấy, là thực thể đang
đối đầu với cái vô minh hay cơi chân không? Không biết bao nhiêu ngữ từ và
cách thế diễn đạt về vấn đề nàỵ Có thể có rất nhiều điều mà cả hai phía,
Đông và Tây cùng một một cảm thức, nhưng ngôn từ diễn đạt làm ta có cảm
tưởng họ khác biệt, xa nhau. Phải chăng v́ thế, nay nó trở thành một khám
phá trong văn học? Từ cảm thức người thiếu phụ ngồi bên song cửa chờ đợi
trong sự bất lực trở thành người đàn bà mang cảm thức lưu đầỵ. Tâm trạng
đó có thực chứng được không? Có cái ǵ vượt quá nhăn thức của người đàn bà?
Có cái ǵ là gán ghép, ép uổng không? Hiện thực văn chương và phẩm b́nh
văn chương có một chuẩn độ chung nào cho phép đi quá cái dự phóng của
chính tác giả?
Cứ như
thế, các tác phẩm văn chương ở mức độ b́nh thường của người dân giả bỗng
chốc mang vóc dáng người khổng lồ, được nâng cấp thành những tác phẩm lớn
với tầm nhận thức và suy tưởng vượt xa tầm nh́n của chính tác giả. Phải
chăng, phê b́nh trở thành một sự sáng tạo lần thứ hai? Lại c̣n vấn đề
phóng chiếu cái quan điểm, cái nh́n hiện sinh vào nhân vật truyện như thể
triết thuyết Hiện Sinh đă có từ rất lâu trong Văn Học VN? Cách này cách
khác , người ta có thể t́m thấy bóng dáng cái triết lư ấy trong Nguyễn
Công Trứ, Tản Đà và ngay cả Nguyễn Du nữa. Nếu cứ như thế th́ tại sao
người ta lại không thể t́m thấy triết lư đó nơi câu chuyện Thằng Cuội. Ai
cấm chú Cuội một lúc nào đó tự hỏi tại sao ḿnh lại ngồi gốc cây đa? Mà
ngồi làm ǵ mới được chứ? Có phi lư không? Đến một lúc nào đó, Cuội sẽ đặt
câu hỏi căn cơ và rốt ráo, câu hỏi cuối cùng của mọi câu hỏi là cuộc đời
có đáng chán hay không đáng chán. Nếu cứ ngồi măi ở gốc cây đa như thế này?
Để chờ? Chờ cái ǵ mới được? Chờ bao lâu?
Những
bài viết này phóng chiếu cái nh́n Hiện sinh vào những cảnh đời thường đến
làm chúng ta ngạc nhiên tự hỏi đó chỉ là sản phẩm từ J.P Sartre không ?
c. Trong giới Phật giáo.
Đến Phật
giáo, Lăo giáo cũng nhập cuộc. Người ta đọc được khá nhiểu bài dùng kính
chiếu Hiện sinh vào Phật Lăo. Có những bài như Vào đạo Phật qua lối ngơ
của J.P. Sartre hay : Từ lăng kính Nho, Phật, Lăo đến lăng kính Hiện Tượng
Luận. Tam Ích. Phật Giáo và chủ nghĩa Hiện Sinh.. Quang Minh. Từ Biện
chứng Hiện sinh đến Biện chứng tương quan Tuệ Sĩ . Tác phẩm La nausée dưới
con mắt Phật tử. Vấn đề giải thoát con người trong Phật Giáo và tư tưởng
J.P. Sartrẹ Heidegger, Jaspers và bối cảnh Phật Lăo Trang. Tam Ích. Tự Do
hay Đau Khổ. Triết lư Ấn Độ dưới mắt các triết gia Hiện sinh. Tác phẩm La
Nausée dưới con mắt Phật Tử. Vào đạo phật qua lối ngơ Phật giáọ Thích đức
Nhuận. Vị trí của vô thể của Heideigger trong tư tưởng Đại thừa. Ngô Trọng
Anh. Trầm tư về cái chết trong tư tưởng Heideigger và Phật giáo. Chơn Hạnh.
Với rất nhiều bài viết như thế, người ta nghĩ một cách nghiêm chỉnh phải
chăng có một cái điểm Oméga, điểm hội tụ nào giữa Triết lư Hiện sinh và
triết lư Phật, Lăo Trang.. Những quan niệm về thời gian, về tự do, về đau
khổ, về ư nghĩa cuộc đời có cái ǵ có thể chia sẻ được, so sánh được hoặc
trùng hợp giữa hai triết thuyết? Những người viết về những vấn đề này đă
hẳn có suy nghĩ cẩn trọng và đă t́m ra được yếu tính chung của hai phía.
Một dạo nét sơ thảo lịch sử tư tưởng con người cho thấy có thể có có những
tiếp cận, những trao đổi giữa các triết thuyết. Sự tiếp cận của Phật Giáo
đối với triết thuyết Hiện Sinh như bước thăm ḍ đă đi đến đâu? Đă đem lại
được giải pháp hay tín hiệu ǵ? Không ai trả lời được câu hỏi đó. Chỉ biết
sau này, ít c̣n ai đặt mối quan hệ giữa triết Hiện Sinh và Triết lư Phật
giáo.
d. Trong
giới công giáo.
Có một
số dư luận cũng như một số người có thói quen cho rằng chính giới công
giáo cổ vơ và truyền bá triết thuyết hiện sinh. Đó là một ngộ nhận thô
thiển. Có thể có một vài giáo sư gốc công giáo đă có công tŕnh bầy triết
thuyết đó. Nhưng giới thẩm quyền công giáo th́ chống kịch liệt triết
thuyết nàỵ Sự ngộ nhận đó thấy rơ rệt trên Giao Điểm số tháng 8, năm 2004
có cho đăng bài của Đào trung Đạo nhằm phê phán bài viết của tôi. Tôi cũng
lấy làm buồn v́ ông chủ báo cũng trong chỗ quen biết mà tôi cũng có bài
cộng tác.. Ông đă cố t́nh không cho đăng bài của tôi, chỉ đăng bài phê
b́nh.. Quả t́nh là không chơi đẹp tư nàọ. Ông chủ bút trong lời mở đầu đă
ám chỉ xa gần đến vấn đề đó.
Phải
nói giới công giáo có một ảnh hưởng dội ngược, đối đầụ. Làm sao, giới thẩm
quyền công giáo ở VN có thể chấp nhận một chủ thuyết hiện sinh vô thần?
Cho nên, những ai muốn gán ghép triết thuyết Hiện sinh vô thần với công
giáo quả thực là mộ gán ghép thiếu luận chứng. Tại Pháp, có các triết gia
hữu thần như Mounier, G. Marcel, thuộc cánh hữu, lập ra một trường phái
Hiện sinh Hữu Thần với tờ Esprit làm cơ sở hoạt động.. Thay v́ chê trách,
phê phán cánh tả hay triết lư hiện sinh vô thần, họ đề ra đường lối Hiện
hữu với tha nhân, tương giao con người, huyền niệm, t́nh yêu và sự trung
thành.Nhưng tiếng nói của họ không đủ mạnh và thuyết phục. Tại VN, công
giáo cũng đi theo đường lối đó. Chủ nghĩa nhân vị ra đời mà mục đích là
cho những mưu cầu chính trị không nhằm đối đầu với chủ nghĩa Hiện sinh vô
thần mà để đối đầu với chủ nghĩa Cộng Sản miền Bắc. C̣n đối với chủ nghĩa
Hiện sinh ở trong miền Nam, họ phê phán, công kích thậm tệ nhóm Hiện sinh
kiểu Sartre. Công giáo bảo thủ nhập cuộc bằng cách hạ bệ và nguyền rủa thứ
triết lư nàỵ
Đại loại
có những bài sau đây như : Chúng tôi tố cáo mầm phản loạn trong Văn Nghệ.
Lại một trạng thái cuồng loạn phơi bầy trong tiểu thuyết. Chúng tôi cực
lực phản đối cái thuyết dă thú hóa ra con người của ông Thạch Chương. Tiểu
thuyết Nguyễn thị Hoàng, sự buôn lậu tư tưởng trong một con bịnh dân thành
phố. Đấy là những bài viết nhằm phê phán triết học ấy ở b́nh diện luân lư.
Họ không nhằm phê phán triết Hiện Sinh của Sartre, họ chỉ nhằm phê phán
những sản phẩm xă hội mà họ nghi ngờ là từ Sartre mà ra. Những sản phẩm
được coi là những đứa con hoang của Sartre. Cho dù theo hay không theo,
phải chăng cũng là sản phẩm của Sartre?
e. Trong lĩnh vực chính trị.
Hết văn
chương, tôn giáo lại thêm chính trị nhập cuộc.Những người anh em theo phía
bên kia nay chửi thứ triết ly Hiện sinh với ẩn ư chính trị với Lữ Phương(
Lữ Phương ở thời điểm đầu 75, không phải là Lữ Phương bây giờ)., Khải
Triều. Chẳng hạn, Đọc các tác phẩm của Chu Tử. Hiện tượng dâm ô, đồi trụy
trong Văn học hiện naỵ Từ Văn Hóa cải lương đến văn chương đồi trụy và thứ
cần sa của ngoại bang.Họ phê phán những sản phẩm xă hội đồi trụy cho những
mưu cầu chính trị. Đă hẳn những bài viết như thế th́ không cần đ̣i hỏi bất
cứ một chút kiến thức nào về chủ nghĩa Hiện sinh cả. (phần bài viết này
trích lại trong bài: Về những người con hoang của JP Sartre của chính tác
giả). Và để kết luận về phần nhận định, đánh giá về Nguyễn Văn Trung. Xin
trích nhận xét của Nguyễn Trọng Văn như phần kết: “Có nhiều người cho rằng
uy tín văn hóa của ông Trung là do giọng văn sáng sủa, mạch lạc cùng những
tư tưởng tiến bộ mới mẻ của Âu Tây mà ông đă có công đem vào VN. Nhận xét
như vậy không phải là sai lầm, nhưng chưa nói được điều đáng nói v́ có
nhiều người viết sáng sủa mạch lạc, mặt khác mọi tư tưởng mới mẻ của Tây
Phương chưa hẳn đă là tiến bộ đáng bắt chước. Thật ra uy tín của ông là ở
tính Cách Biện Chứng của tư tưởng.. nó thể hiện bằng ư chí muốn cọ sát tư
tưởng với thực tế, muốn vượt mớ kiến thức thông ngôn để bắt đầu lại từ
hoàn cảnh của Đất nước. So với Nhận Định 1, Nhận Định 2 th́ Nhận Định 4,
chủ nghĩa thực dân, ca tụng thân xác.. là những bước tiến rơ rệt. Chính v́
vậy, dù có một thời kỳ đă từng là con hoang của văn nghệ và quê hương hiện
nay, ông vẫn là khuôn mặt đáng kể trong văn học miền Nam.
B.-Trần Thái Đỉnh, người gieo trồng triết hiện sinh cùng với vô số
trí thức ở bên ngoài đại học.
Nhắc tới Trần Thái Đỉnh, người ta nghĩ tới ông như một nhà giáo hơn là một
nhà tư tưởng hay một triết gia. Ông có lối viết dản dị hoá vấn đề mà không
trở thành thông tục, thêm có mạch lạc và có sư phạm. Đọc ông, người ta có
thể hiểu được những vấn đề triết học khúc mắc và cao diệu. Đó là một thứ
sách giáo khoa triết học như nhận xét của Bùi Văn Nam Sơn khi viết về Trần
Thái Đỉnh: Những tác phẩm của giáo sư Trần Thái Đỉnh là những cuốn sách có
tính chất giáo khoa để người đọc dễ dàng đi vào lănh vực triết tâỵ Đó là
những cuốn sách gối đầu giường cho những ai muốn t́m hiểu một cách căn bản
và hệ thống các tác giả và các chủ đề về triết học”.
Đọc ông là nắm bắt được cái ǵ. Ông là người có công đầu trong việc gieo
trồng, giới thiệu một số triết gia như Descartes với Triết Học Descartes,
Những suy niệm Siêu H́nh Học và Phương pháp luận, rồi đến triết học Kant,
Triết học Hiện sinh, Triết học nhập môn, Khái niệm bản ngă trong tư tưởng
Triết học Phật giáo nguyên thủy ( Luận án tiến sĩ, 1958.). Đặc biệt cuốn
Triết học hiện sinh xuất bản năm 1969 do nhà xuất bản Thời Mới, mà theo
ông Tràng Thiên, tức Vơ Phiến cho biết cuốn sách bán hết ngay 2500 cuốn,
trong khi đó cuốn của Lê Thành Trị bán không được v́ viết khó hiểu. Xem ra
như thế th́ triết không phải lúc nào cũng tối tăm khó hiểu đâu. Nó cũng
tùy thuộc vào người viết. Có người viết dễ đọc, có người viết khó đọc. Ông
c̣n kư dưới bút hiệu Trần Hương Tử gồm một số bài được đăng liên tục trên
Bách Khoa như:
Bộ mặt
của Triết học Hiện sinh. Bách Khoa, số 114/196.
Những đề
tài Triết học Hiện sinh, số 115.
Hai ngành chính của Triết Học Hiện sinh, số 16.
Kierkegard, ông tổ Triết Học Hiện sinh chính thức, số 117-118 .
Nietzsche, Hiện sinh vô thần, số 119-120.
Husserl, ông tổ văn chương Triết lư Hiện Tượng Học, số 121.
Phương pháp Hiện Tượng Học, số 122 .
Sartre, Hiện sinh và Siêu Việt, số 123.
Triết Gia và Hiện Sinh, số 124.
Siêu Việt thể của Jaspers, số 125-126-127.
Marcel Hiện sinh và Huyền Niệm, số 129-130-131
Sartre hay là thuyết Hiện sinh phi lư, số 132
Nhân sinh quan của Sartre, số 133-134/1962
Tổng kết về Phong Trào Hiện Sinh, số 135-136
Heidegger và bản chất của thi ca, số 169
Triết Hiện sinh và chính trị số 264.
Yếu tính của tha nhân. Trần Thái Đỉnh, tạp chí Đại Học Huế
Giới thiêu triết học Merleau Pontỵ Tạp chí Đại học Huế.
Heideigger và bản chất của thi cạ[ix]
Những bài báo trên đă giúp độc giả bên ngoài giới sinh viên đại học ít lắm
hiểu được những đường nét chính của chủ nghĩa hiện sinh. Và cũng nhờ vào
những bài báo đó giúp người đọc hiểu rằng triết hiện sinh vỉa hè đă không
cùng chỗ đứng với triết học hiện sinh trường ốc.
Ngày nay, nh́n lại những công tŕnh trước tác của ông không khỏi nghĩ rằng,
ông là người trực tiếp góp phần phổ biến triết thuyết ấy đến tay một số
độc giả thuộc giới trung lưu thành thị. Cùng với ông có một số những người
không thuộc giới chức đại học chuyên ngành, nhưng đă đóng góp bằng rất
nhiều bài báo dưới h́nh thức khảo luận hay dịch thuật. Đó là quư ông Trần
Bích Lan, Vũ Đ́nh Lưu, Trần Phong Giao, Trần Thiện Đạo, Tam Ích, Đỗ Long
Vân, Lê huy Oanh, Đặng Tiến, Lê Tuyên, Lữ Phương, Khải Triều, Cao Thế
Dung, Phùng Thăng, Phùng Khánh, Cô Liêu, Đặng Phùng Quân, Thích Đức Nhuận,
Nghiêm Xuân Hồng... Trong số trên, có người viết ít, chỉ một hoặc hai bài,
có người viết nhiều, có người viết chỉ để chống đối, đả phá như Cao Thế
Dung, Lữ Phương, Khải Triều. Những trường hợp đả phá như thế, một cách vô
t́nh cổ xúy cho phong trào phổ biến triết thuyết ấỵ Gây thêm sôi động là
một h́nh thức cổ xúy gián tiếp. Có người dùng các tư tưởng của các triết
thuyết đó soi dơi cho những nhận định về văn học hay triết lư Đông Phương
như Lê Tuyên,Tam Ích, Đỗ Long Vân, Tuệ Sĩ. Những người viết đều, viết
nhiều có ông Trần Thiện Đạo ở Pháp, Trần Phong Giao, Vũ Đ́nh Lưu. Phải nói
họ đă làm đầy đủ chức năng gây trồng của một người trí thức.
Sự đóng
góp qua báo chí đă giúp vào việc phổ biến rộng răi triết học hiện sinh,
nhất là hiện sinh của J P Sartre. Nguyễn Văn Trung với các bài sau đây:
- Vấn đề
giải thoát con người trong Phật giáo và tư tưởng của J.P Sartre.
- Những t́nh bạn dang dở.
- Văn chương và siêu h́nh học.
- Thi ca và triết học.
- Văn chương hiện sinh.
- Luân lư và văn học.Trở lại vấn đề luân lư và văn học.
- Sartre trong đời tôi.
- Cái nh́n hay đám cưới với cuộc đời.
- Tưởng niệm Camus.
- Vài cảm nghĩ về t́nh cảm phi lư của kẻ lưu đầỵ
- Cuộc đời như một tra hỏi.
- Đọc vũ trụ chữ nghĩa của J.P Sartre.
- Quê hương và lưu đày, giới thiệu Camus. Người phản kháng.
- Những t́nh bạn dang dở.
- Triết học hiện sinh, giờ thứ 25 của của triết học Tây phương.
- Dịch và giới thiệu: Người đàn bà ngoại t́nh của của Camus.
- Chủ nghĩa hiện sinh ( trả lời phỏng vấn) của Trần Thái Đỉnh.
- Triết học hiện sinh. Điểm sách của Trần Thái Đỉnh.
- Quê hương và lưu đàỵ Nguyễn Văn Trung giới thiệu
- Người phản kháng.
Như đă tŕnh bày ở trên, những bài báo của Nguyễn Văn Trung gây ra khá
nhiều tranh luận và là cái đích duy nhất để nhiều tác giả khác nhắm vào.
Nhiều bài báo có tính cách truy chụp, viết dưới góc cạnh chính trị hay
luân lư và cho thấy chẳng có chút hiểu biết ǵ về triết lư hiện sinh. Hoặc
là đă không phân biệt được loại triết lư hiện sinh vỉa hè vốn chẳng có
liên quan ǵ đến Sartre hay Heideigger. Hoặc là chỉ lưu ư tới phần văn
chương tiểu thuyết mà không cần biết đến triết thuyết ấỵ Nhiều bài có tính
cách diễu cợt bên lề.
Theo
Trần Phong Giao, nhờ những bài báo đó, báo bán chạy, có lúc được 15 ngàn
số hồi 1967-1968 đến chẳng cần quảng cáo hay trợ giúp của chính quyền.
Nhưng cũng cho thấy được rằng, có một không khí sôi động tạo ra những
tranh luận đôi khí hăng say quá đà, nhưng nó cũng chứng tỏ tinh thần tự do
phát biểu, tranh luận công khai ở thời kỳ đó. Sau đây là một số bài
viết trong thời kỳ đó:
- Nhân
đọc bài Luân lư và văn học của ông Nguyễn Văn Trung, từ thái độ cởi mở đến
sự phủ nhận luân lư trong lĩnh vực văn học. Bùi Tuân.
- Một thái độ khó hiểu của ông Nguyễn Văn Trung Văn Đàn số 23,
12-11-1960.
- Chúng tôi tố cáo mầm phản loạn trong văn nghệ. Bút Nhọn.
- Tán thành hay phản đối văn chương hiện sinh. Anh Chức.
- Lẳng lặng mà nghẹ Kính dâng hương hồn sống của các đồ đệ JP. Sartre. Sa
Nhăng.
- Cười nụ. Hiện sinh.
Nam
Phương Sóc
- Chúng tôi cực lực phản đối cái thuyết dă thú hóa ra con người của ông
Thạch Chương. Cô Thùy Dương.
- Thanh niên hư hỏng và thuyết hiện hữu của J.P Sartre. Vô Vi.
- Theo dơi một cuộc tranh luận( vế luân lư và văn học). Quốc Minh.
- Giải đáp thắc mắc những con của Sartre, Nguyễn Văn Trung. Nguyễn Mạnh
Côn.
- Đặt lại giá trị và giới hạn của triết lư J.P Sartre. Phạm Công Thiện.
- Nghĩ về văn chương hiện sinh. Thế Nguyên.
- Tiểu thuyết Nguyễn Thị Hoàng, sự buôn lậu tư tưởng trong một con bịnh
dân thành phố. Cao Thế Dung.
- Văn nghệ, văn hóa qua những h́nh thái thông ngôn nô dịch. Cao Thế Dung.
- Từ văn hoá “cải lương” đến văn chương đồi trụy và thứ cần sa của ngoại
bang. Khải Triều.
- Mại bản văn hoá và mấy h́nh thái văn chương nô dịch. Cao thế Dung.
- Hiện tượng dâm ô đồi trụy trong văn học hiện naỵ Tin Văn.
- Đọc tác phẩm của Chu Tử.
- Văn học Hiện tượng luận có phải là văn học khiêu dâm không. Tam Ích.
- Sartre và Heideigger, các ông là ai, và bây giờ các ông đi đâu. Tam Ích.
- Sự thất bại toàn diện của Heidegger và con đường tư tưởng VN. Phạm Công
Thiện.
- Triết học hiện sinh và những người cầm bút ở VN. Nguyễn Trọng Văn, phê
b́nh dưới quan điểm nh́n từ chủ nghỉa Mác xít.
- Hoàn cảnh những người cầm bút miền Nam trước và sau 1963. Nguyễn Trọng
Văn.
- Từ Hiện sinh đến tính dục.
- Những con hoang của Nguyễn Văn Trung. Nguyễn Trọng Văn.
- Triết lư ảo tưởng hay ảo tưởng triết lư. Nam Hà Trung. Trần Thiện Đạo.
Ông Trần Thiện Đạo, một trí thức ở Pháp là một cây bút viết nhiều, nhằm
giới thiệu trào lưu hiện sinh với những bài viết dịch thuật có giá trị .
Nhưng rất tiếc lại ít được người trong nước lưu ư tới.
- A. Camus, J.P Sartre.
- Cuộc tranh luận về Văn nghệ giữa Sartre, Y. berger, Simone.
- Sartre tỏ rơ thêm về quyển “Les Mots” bài của J.Piatier do Trần Thiện
Đạo dịch.
- T́m hiểu Đạo đức Sartre.
- J.P Sartre và giải Nobel.
- Tiền Phong là ǵ của JP Sartre do Trần Thiện Đạo dịch.
- Gió về Djémila. Camus
- Kín cửa (Huis clos).
- T́m hiểu về kịch Les Mouches của J.P Sartre. Trần Phong Giao.
Cũng như Trần Thiện Đạo, ông đóng vai tṛ giới thiệu triết học hiện sinh
bằng cách dịch thuật phần triết lư hiện dưới dạng tiểu thuyết, nhất là
dịch các truyện của Camus.
- Camus. Thân thế và tác phẩm.
- Những người trung thực (dịch Les Pestes) của A. Camus.
- Tại sao tôi dịch cuốn “Guồng máy”.
- Không một nấm mồ (Morts sans sépultures)
- Guồng máy (L’engrenage)
- Sự Đă Rồi (Les Jeux sont faits). Trần Phong Giao và Nguyễn Xuân Hoàng
dịch.
- Les séquestrés d!Altona
Những
bài báo như trên được đăng mỗi tháng như những món ăn tinh thần không
thiếu được của giới sinh viên trí thức thành thị. Người ta chờ đợi, t́m
đọc, nghiền gẫm, tranh luận với say mê thích thú.
C. Trần Văn Toàn, người tŕnh bày triết học Mác xít, Lư Chánh Trung,
người xử dụng triết học Mác cho những xu hướng chính trị cách mạng về một
một chủ nghĩa xă hội không Cộng Sản.
Mới đây, có một tranh luận nhỏ giữa anh Nguyễn Quốc Trụ và Trần Trung Đạo
về sách của chủ nghĩa Mác ở miền Nam. Theo như tôi được biết th́ các sách
căn bản về chủ nghĩa ấy đều có trong thư viện Đại học Đàlạt. Có thể mượn
và đọc thoải mái, chỉ không có sức mà đọc. Nói như thế đế thấy tinh thần
tự trị, tinh thần tự do tư tưởng ở miền Nam như thế nào.
Riêng
Trần Văn Toàn th́ có ba cuốn sách bàn về chủ nghĩa ấy là : Hành tŕnh đi
vào Triết học, Xă hội và con người và cuối cùng là cuốn T́m hiểu triết học
của Karl Marx.
Cuốn đầu,
dù chỉ là cuốn triết học nhập môn dùng cho sinh viên năm dự bi văn khoa ở
Huế, vào năm 1961-1962. Có năm chương th́ chương hai với tựa đề Hiện thân
con người ở đời dựa trên cơ sở học thuyết Karl Marx. Với những đề tài như
hiện thân trong vật giới, hiện thân trong nhân giới, xă hội lư với tương
quan ông chủ-thằng ở. Chính là những khởi điểm suy nghĩ đi vào triết học
Mác.Trong cuốn Xă hội và con người, một lần nữa ông đào sâu thêm về thân
phận làm người với những giao ngộ, tự do rồi cạnh tranh sinh tồn giữa ta
và người khác. Từ chỗ đó đi đến kết quả tha nhân, kẻ làm mất bản thân tôi
đến ư thức nô lệ và vấn đề ư thức hệ.
Cuốn thứ
ba đặt vấn đề trực diện với việc : T́m Hiểu triết học của Karl Marx. Trong
đó chương hai quan trọng nhất nói về Vong Thân với các loại vong thân và ư
thức vong thân cũng như vấn đề ư thức hệ Cộng Sản. Cần nhấn mạnh để tránh
hiểu lầm là Trần Văn Toàn tŕnh bày học thuyết Mác như một triết lư Mác
Xít khác hẳn lối tŕnh bày kinh điển hay nh́n nó như một chủ nghĩa Mác-
Lênin. V́ thế, cách tŕnh bày của ông không có tính cách giáo điều, tính
áp đặt. Tất cả những sách trên dù chuyên môn, nhưng theo tôi đọc khá dể
hiểu và lư thú. Hơn nữa, những sách trên đă kịp thời đáp ứng t́nh thế xă
hội và chính trị lúc bấy giờ vào cuối thập niên 60. Tóm lại, Trần Văn Toàn
đă tŕnh bầy căn kẽ, mạch lạc, hệ thống tư tưởng Mác ở phạm vi triết học
mà thôi, mà cũng tránh đi vào những phạm trù lôgích như định đề của chủ
nghĩa ấỵ
Cho đến hiện nay, đọc lại những sách đó, tôi vẫn cảm thấy thích thú và tâm
đắc hơn những cuốn sách do chính những người Cộng Sản viết. Ông là một
trong những người duy nhất giúp trí thức miền Nam hiểu được một phần triết
lư của Mác như thế nào. Về điểm này, không ai hơn ông được.
Lư
Chánh Trung
Nói đúng
ra, Lư Chánh Trung là người duy nhất dạy triết mà không dạy triết. Ông dạy
triết hay viết triết chỉ để biện minh cho những tư tưởng xă hội chính trị
mà ông cưu mang ấp ủ. V́ vậy, chẳng bao giờ ông có tham vọng giảng dạy
triết thuần túy theo lối trường ốc. Ông cũng chẳng tŕnh bày mạch lạc bất
cứ triết thuyết nào, ngay cả học thuyết của Mác. Trong các bài giảng của
ông như Bạo Động và lịch sử trong môn Đạo Đức học hay Nhiệm Vụ học cho các
lớp dự bị Chính trị kinh doanh th́ đều bàng bạc tư tưởng triết học của Mác.
Những bài viết đó đề cập đến vấn đề bạo động giữa con người, vấn đề đạo
đức và cách mạng, vấn đề biện chứng giữa ông chủ-thằng ở, vấn đế giai cấp
tư bản và vô sản, vấn đề bất bạo động theo quan điểm của Gandhi và sau
cùng quan trọng nhất là vấn đề làm cách mạng xă hội không cộng sản. Đặc
biệt, ông viết cuốn T́m về dân tộc mà mụch đích chỉ là cổ xúy cho một cuộc
cách mạng xă hội, lấy dân tộc làm căn bản.
D.
Lê Tôn Nghiêm : Kẻ gieo trồng không được mùa.
Lê Tôn
Nghiêm có một đời sống thật dản dị và có một tấm ḷng say mê triết học đến
khó ai sánh b́. Cả đời ông lăn lộn, sống với nó. Ông đọc và say mê mỗi khi
khám phá ra điều ǵ mới, ông hăng say nói ra. Nhưng trong cách đọc, cách
viết, gần như ông đánh vật với chữ nghĩa. Ông trăn trở, ông kiếm t́m, mày
ṃ, tra cứu học hỏi Nhưng cách tŕnh bày lan man, không nắm rơ khiến ông
lúng túng vụng về khi giảng dạy cũng như khi viết. Ông đă dịch và giới
thiệu Karl Jasper với cuôn Triết học nhập môn, Trung tâm văn hóa Đông tây
xuất bản. Cuốn sách rất hay như thứ sách gối đầu giường của giới sinh viên.
Ông cũng là tác giả cuốn sách mỏng : Đâu là căn nguyên tư tưởng. Hay con
đường triết lư từ Kant đến Heidegger. Nxb Tŕnh Bày, 1970. Rồi Heideigger
trước sự phá sản của tư tưởng Tây phương. Lá Bốí 1970. Triết gia người là
ai. Thế nào là tính thể con người. Tư tưởng với Nghệ thuật. Vấn đề con
người trong tư tưởng K. Jasper. và sau đó là bộ Lịch sử triết học Tây
phương 3 cuốn, nxb tp Hồ Chí Minh. Rất tiếc, bộ sách lịch sử này mới xb
được 3 cuốn, đi hết được phần triết học thời Trung cổ với triết học các
giáo phụ và triết học kinh viện. Viết cho đầy đủ cả bộ, chắc cần cả 10
cuốn như thế nữa nữạ Ông mất đi coi như đứt gánh giữa đường, dang dở nhiều
truyện, hiểu lầm, ngộ nhận đến phiền muộn cũng không thiếu.
Trong số các triết gia hiện sinh, ông say mê thần phục và cũng một lẽ đó
ông nh́n thấy tính cách phá sản trong tư tưởng của Heidegger. Nhưng ông đă
không thành công mấy trong việc chuyển tải những ư tưởng hay những chủ đề
ṇng cốt của Heidegger đến giới sinh viên. Ảnh hưởng của các triết gia này
v́ thế cũng không dược chú trọng đúng mức và bản thân ông cũng không gây
được tiếng tăm ǵ nơi giới Sinh viên.
3. Các
giáo sư triết dạy trung học.
Nói đến
triết học Tây Phương ở miền Nam không thể không nói đến đội ngũ các giáo
sư triết ban tú tài 2. Họ là thế hệ thứ hai được đào tại tại ba trường là
Văn Khoa Sàig̣n, Đại Học sư phạm Đàlạt và Đại học Huế. Số lượng các giáo
sư này cứ thế lớn lên mỗi năm, thay thế dần thế hệ đàn anh thứ nhất và
đồng thời môn triết học Tây phương được trải rộng tại các tỉnh phía Nam
cũng như miền Trung. Chỗ nào có trường Trung Học đệ nhị cấp là có họ. Họ
đi gieo trồng môn triết trên khắp miền Nam, đem những tư tưởng, trào lưu
triết học đến thế hệ học sinh khắp nước. Công việc làm của họ có thể âm
thầm. Nhưng hậu quả thật lớn, v́ nhờ đó cả một thế hệ thanh nhiên được
truyền thụ tinh thần tự do tư tưởng, được tiếp xúc với những nhà tư tưởng
lớn của thế giới.
Họ là
những người như chim đầu đàn, đáng lư phải xếp vào thế hệ hàng đầu như
Nguyên Sa Trần Bích Lan. Thật ra, ông viết về triết không nhiềụ Ngay tờ
Hiện Đại do ông làm chủ bút chỉ có hai bài về A. Camus của Trịnh Viết
Thành. Riêng ông sau này viết như một phủ nhận triết thuyết ấy với bài :
Rời bỏ nền văn chương trú ẩn, đăng trên tờ Đất nước. Ngay trong phạm vi
dạy triết trung học, ông chú trọng vào việc luyện thi hơn là truyền bá một
loại kiến thức triết sâu xa ǵ.
Tiếp theo là những Nguyễn Vĩnh Đễ, gs triết tại Collège de Trois-Rivières
với : Le problème de l’homme chez Jean-Jacques Rousseau. Considérations
actuelles, essais philosophiques với
nhiều tác giả. Trần Đức An, tác giả sách giáo khoa, Trương Toàn, Lê Thanh
Hoàng Dân, dịch triết học hiện sinh.
Dịch
Bức tường, Le Mur. Nguyễn Xuân Hoàng, nhà văn trrước 75 và chủ bút báo Văn.
Có dịch chung với Trần Phong Giao như đă nói ở trên. Đinh Văn Hải, Phạm
Việt Cường, cao học triết Đại học Văn khoa, Sàig̣n, chị Hoàng Mỹ Hiền, chị
Chu Kim Long, rồi Nguyễn Trọng Văn, Nguyễn Đa, Bùi Ngọc Dung. Anh Bùi Ngọc
Dung có viết một số bài như Camus và nền văn chương triết học. J.P Sartre
, từ hiện sinh đến biện chứng. Trần Công Tiến với luận án Từ Hiện tượng
luận Husserl đến hiện tượng luận Heigeigger, 1969. Anh cũng có viết bài từ
Heideigger 1 đến Heideigger 2. Đặng Phùng Quân, cao học Triết là một
trong những người viết nhiều nhất, năng nổ và dài hơi nhất. Hiện hữu tha
nhân với G.Marcel. Triết học và Khoa học. Chân dung triết giạ Triết học và
văn chương. Hành trạng tư tưởng giữa hai thế kỷ. Phê phán hệ tư tưởng Mác
xít, tập truyện ngắn Miền Thượng Uyển, trủ ch́ trên Web Gio-o. Nguyễn Quốc
Trụ, viết cho các web Talawas về đủ đề tài. Thụ Nhân, tác giả cuốn sách
dịch L’existentialisme est un humaniste và cuốn L’existentialisme. Huỳnh
Thanh Tâm, trước đây với nhiều bài viết về triết học như đă nói ở trên,
nay chuyển sang dịch thuật. Trần Văn Nam, Trần Nhựt Tân phân tích các chủ
đề văn chương trong đó có : Tập thơ độc nhất. với luận án Quan niệm của
Sartre về hữu thể., Nguyễn Nhật Duật, viết phê b́nh văn học. Ngô Đức Diểm,
nhà thợ Nguyễn Vy Khanh, viết Văn học VN thế kỷ 20 dịch Ngô Đ́nh Diệm và
nỗ lực hoà b́nh dang dở, dịch Lỗ Tấn và truyện xưa viết lạị Bốn mươi năm
văn học chiến tranh 1957-1997, Văn Học và thời gian. Phạm Phú Minh, chủ
bút tờ thế kỷ 21. Nguyễn Đồng, Lê Mạnh Thát, học ở Đàlạt, sau đi du học ở
Mỹ và nay là phó viện trưởng thường trực Học Viện Phật giáo VN. Thày viết
Lịch sử Phật giáo VN (ba tập) Triết học thế thân (Vasubandhu), Trần Thái
Tông toàn tập, Trần Nhân Tông toàn tập. Nguyễn Tử Lộc, đă mất, anh có
dịch : thi sĩ da đen. J.P. Sartre. Tô Văn Lai, giám đốc Paris by Night.
Nguyễn Văn Vũ, Trương Đ́nh Tấn, Nguyễn Văn Thuộc, Nguyễn Hữu Dư, Đặng Thần
Miễn, với bài thơ tiếng hát da mầu, được Nguyễn Ngọc Lan và Lê Hảo dịch ra
: Chant de louange pour la peau d!ébene trong tập : Le crépuscule de la
violence, nay là nhà dịch thuật. Vũ Chí Hùng, Uông Dại Bằng, Vơ Văn Bé,
Phạm Minh Quư, Vơ Túc, Nguyễn ĐăngTrúc với Sinh hoạt cảm xúc trong Hiện
Tượng luận M. Scheler. Hiện nay, anh là giáo sư phân khoa thần học NH
Strasbourg, Pháp, tác giá các sách : Văn Hiến, nền tảng của minh triết.
Tiếp cận tư tưởng VN : vấn đề triết học. Và anh dang sắp sửa cho in cuốn
sách triết học trong đó tŕnh bày thời kỳ tiền triết học gồm : Eschyle,
Sophocle, Héraclite, Parménide, Socrate, đồng thời làm chủ nhiệm tờ Định
Hướng. Đỗ Phương Anh, Phạm Ngọc Đảnh, Nguyễn Ngọc Phách với Tương quan
giữa tư tưởng và tượng trưng. (Hiện tượng luận thông diễn của Paul Ricoeur)
Trương Toàn, Nguyễn Thanh Tùng, Hoàng Minh Khánh, Vĩnh Phiếu, Nguyễn Văn
Thuộc, chị Phan Thanh Gia Lai, chị Đoàn Phi Loan, chị Thanh Tân, Nguyển
Duy Diệm, Nguyễn Văn Lan, Nguyễn Mẫn, Nguyễn Nhật Duật, đă mất, viết phê
b́nh văn học. Hồ Công Hưng, Bùi Văn Nam Sơn, có đi học thêm Triết ở Đức
với công tŕnh đồ sộ là dịch cuốn Phê phán Lư tính thuần túy của Emmanuel
Kant, nxb Văn Học, dày 1261 trang. Hồ Công Danh, Vơ Doăn Nhẫn, làm thơ.
Nguyễn Văn Lục, viết phê b́nh Văn học. Bành Ngọc Quư, Dương Văn Ba, Nguyễn
Quốc Tuấn, Phùng Quyên.
Ngoài
Huế có thêm các chị Phương Chi, Diệu Trang, Thái Kim Lan, dịch giả Huệ Tím
của Hermann Hesse và kịch Người hảo tâm thành Tứ Xuyên của B.Bretch. Bài :
Chức năng của cảm giác tính trong việc phê phán lư tính thuần túỵ Tống Thị
Lan, Nguyễn Châu, viết nghị luận. Hoàng Phủ Ngọc Tường, nhà văn với bút kư
Ai đă đặt tên cho ḍng sông. Thơ với Người hái hoa phù dung. Hoàng Văn
Giầu, với Phồn Hoa kinh, hiện nay chủ bút mạng Chuyển Luân, bên Úc. Lê Tử
Thành, Nguyển Nguyên Phương, Trần Xuân Kiêm, dịch thuật triết học cùng với
Trần Công Tiến, Phạm Công Thiện, Trương Đăng Dung cuốn Martin Heideigger.
Không có những người thợ gieo gặt này, ở khắp nơi trên mảnh đất miền Nam,
từng ngày, từng năm, âm thầm truyền đạt, cấy niềm tin, cấy những luồng tư
tưởng mới, mỗi người mỗi cách truyền đạt, mỗi người mỗi thái độ chọn lựa,
gieo vào đầu óc thế hệ thanh thiếu niên miền Nam những giá trị tinh thần
với sự xác tín. Nói rộng ra, từ các cô giáo viên tiểu học đến Trung Học,
trong đó có các giáo sư Triết, giáo sư Việt Văn.. ít nhiều đều có sự xác
tín như thế. Dạy học mà không có xác tín, không cấy được niềm tin th́
không có giáo dục. Nhưng cũng xin nhấn mạnh ở đây, xác tín ở đây là sự ưng
thuận tự nguyện, không do nhồi sọ, tuyên truyền, áp đặt. Hăy nh́n lại thế
hệ các thanh niên thiếu nữ được đào tạo thời kỳ đó và thời kỳ 30 năm sau
75..Chúng ta sẽ nhận ra đâu là giáo dục, đâu là không giáo dục.
Phần cá nhân tôi, dù rằng chẳng học được bao nhiêu ở các thàỵ Nhưng cái
tính thần học hỏi, cơ hội học hỏi trau dồi hiểu biết th́ không thiếụ Điều
đó buộc tôi nghĩ rằng, tôi đă may mắn được sống ở miền Nam, được lớn lên,
được nuôi dưỡng, được giáo dục trong cái môi trường đó, được trở thành
giáo sư Triết ở đó. Tôi không có ǵ để hănh diện hơn nữa. Càng nghĩ đến xă
hội hôm nay, niềm chua xót càng lớn..Thật tiếc cho giới trẻ hôm nay ở miền
Nam, chúng đă không có cái may mắn như chúng tôi, mặc dầu có thể chúng tôi
đă mất hết. Có thể tôi đă quên nhiều ngườị Xin tạ lỗị Điều đó không tránh
được. Nhưng xin nói với các bạn đồng hành, tinh thần học hỏi của triết học
Tây Phương, đó là cái ưu vượt của miền Nam mà mỗi người phải tự hănh diện
và giữ lấy về những năm tháng ấỵ
4. Tinh
thần học Triết và dạy triết Tây phương ở miền
Nam.
Trước
vài giờ lên máy bay về lại Canada, tôi nghĩ cần phải nói những điều tôi
đang suy nghĩ với một người bạn. Tôi kêu xe Honda ôm lên nhà Nguyễn Trọng
Văn để chỉ muốn bày tỏ với hắn một điều: cái ǵ là đặc điểm của triết học
Tây phương ở miền Nam. Tôi chỉ mặt anh ta và nói cái ư đó ra, chúng tôi
cùng phá lên cười, cười nghiêng ngả v́ trúng ư nhau, rồi cảm động đến ứa
nước mắt. Những ḍng sau đây viết để tặng tất cả những người bạn thời tuổi
trẻ.
a. Tinh
thần tự do suy nghĩ, phát biểu, giảng dạy.
Ở miền
Nam trước đây, người ta cứ nói tới độc tài Ngô Đ́nh Diệm, độc tài trong
tôn giáo, độc tài Nguyễn Văn Thiệụ Nhất định là có đấy không phải không..
Nhưng xin nhắc mọi người rằng, độc tài chính trị không có chỗ trong các
giảng đường đại học. Quyền tự trị Đại học là tuyệt đối trong phạm vi tư
tưởng. Nó có thể bị o ép trong phạm vi hành chánh, quản trị nhân viên
trong việc bổ nhiệm và điều đó có thể đă xảy ra.
Về tư
tưởng, chưa bao giờ mà chủ nghĩa nhân vị có thể lọt vào các giảng đường. Nó
có thể len lỏi vào Suối lồ ồ. Nhưng giảng đường th́ không. Ở nơi đây, các
trào lưu triết học cổ, trung cổ, cận đại, hiện đại đều có chỗ. Triết học
Phật giáo, Ấn độ giáo, Trung Hoa, triết học hiện sinh hữu thần và vô thần
và triết học Mác Xít cũng được giảng dạy trong cours Triết sử. Tự do đến
thế. Điều ngạc nhiên đến không ai ngờ tới là khoa thần học công giáo lại
không có mặt. Nhưng những vụ án như Galilée th́ lại có. Điều đó muốn nói
lên điều ǵ. Những giáo sư dạy triết sử như Raguin dạy Ấn Độ giáo, Phật
giáo đến độ say mê tưởng lầm đâu rằng ông là một tỳ kheo, hay khất sĩ.
Larre cũng thế. Tchen1, Tchen 2 cũng không khác. Và tôi đă hỏi các bạn tôi,
dù một lần thôi, họ có nói đến tôn giáo của họ cách này này cách khác.
Không. Nguyễn Trọng Văn, Lư Chánh Trung, Trần văn Toàn bê khệ nệ ông Mác
vào giảng đường, nào có ai nói ǵ không. Bê Sartre, bê Heideigger hoặc vác
G. Marcel vào thao diễn nói hay làm luận án là tha hồ. Tư tưởng nghịch
chiều nhau, tư tưởng tả khuynh, hữu phái, cấp tiến hay bảo thủ đều có thể
có mặt.
Trong những lúc t́nh thế sôi bỏng bên ngoài với sự xáo trộn chính trị, tôn
giáo đủ loại, chúng ta thử nh́n xem những phản ứng thái độ của các viện
trưởng, khoa trưởng như thế nào. Trong khuôn viên trường Đại Học Văn khoa,
Sàig̣n, trải qua nhiều thời kỳ biến động chính trị, nó vẫn giữ được phong
cách của ḿnh. Phong cách đại học, vị thế nh́n, vị thế đối đấu và thường
chọn lựa vị thế đó. Vẫn tự lập, tự chủ. Vẫn có bản sắc, có tiếng nói riêng,
chọn lựa cho ḿnh. Tiếng nói đó là tiếng nói của tuổi trẻ, của lư tưởng và
không muốn khuất phục, cúi đầụ Tiếng nói trung thực, không xu nịnh, bè
phái, không nghiêng ngửa. Về chính trị thường là tiếng nói khuynh tả, đi
ngược lại chính quyền đương đại. Đó là niềm tự hào của giới trẻ. Khánh
Ly, Trịnh Công Sơn, các phong trào phản chiến cũng từ nơi đó cất cao lên
tiếng hát của ḿnh. Và đó là sự khác biệt sâu xa, khác biệt nền tảng tận
cùng bản chất giữa miền
Nam,
miền Bắc trong thời kỳ đó. Bên đây giới trẻ ngửng đẩu, bên kia cúi, bên
đây nói không, bên kia nói dạ. Bên đây mỗi người mỗi khác, bên kia tất cả
là một. Bên đây đa dạng, bên kia đồng phục.
b. Tinh thần học triết học : ư thức ưu tư và thức tỉnh.
Bài
học vỡ ḷng cho các môn sinh bước vào ngưỡng cửa triết học là biết ưu tư,
biết xao xuyến, biết thức tỉnh hay biết vươn lên ( theo nghĩa của
Kierkegaard). Tinh thần đó giúp con người vượt cái hiện hữu tự thân (en
soi), ù ĺ, nhàm chán tiến tới hữu thể tự quy (être pour soi). Từ đó phải
kiếm t́m. Phải thao thức, đặt lại vấn đề đưa đến thái độ hoài nghi, phủ
nhận mọi hệ thống, chủ nghĩa giáo điều, chống lại cái nghiêm chỉnh (esprit
du sérieux) cái đă h́nh thành có sẵn. Chống nên lúc nào cũng như thể bắt
buộc đi lại từ đầu trong một cuộc t́m kiếm không ngừng, như thể đang đi
trên đường (en route). Cũng từ đó nảy sinh khái niệm con người hoàn cảnh,
nhập cuộc, dấn thân, trách nhiệm, tự do chọn lựa.
Học
triết trong cái tinh thần đó nên dễ có thái độ đặt lại vấn đề, ráo riết
triệt để dễ đi đến cực đoan, phủ nhận, hư vô hóa. Nhưng một mặt khác tinh
thần triết lúc đó như một lời thúc dục say mê, mới mẻ, khám phá. Cứ cả
đời như thế miệt mài, câu hỏi sẽ quan trọng hơn câu trả lời, đi t́m quan
trọng hơn là t́m thấỵ H́nh ảnh người học triết như kẻ suốt đời lang thang,
chẳng bao giờ ngưng nghỉ, chẳng bao giờ bằng ḷng với chính ḿnh, phủ nhận
cái tôi đang là tiến tới cái tôi sẽ là.Tinh thần đó đă giúp nhiều sinh
viên, giáo sư đứng trước mỗi t́nh huống, trước mỗi ngă rẽ, biết chọn lựa,
biết dấn thân, biết trách nhiệm trong mỗi hoàn cảnh để cho cuộc đời một ư
nghĩa. Coi như thế, triết học không hẳn chỉ là một kiến thức nữa mà là kẻ
hướng dẫn soi đường cho mỗi người thanh niên, nhất là trí thức khi vào đời.
Bài viết này, dù đă dài, nhưng vẫn chưa đủ, |