Thế lưỡng phân
trong thuyết của Phật Như Lai
Dương Thu
Hương
Ngày Mậu Ngọ-Tháng Nhâm Th́n-Năm Bính
Tuất
Cung kính dâng Đức Thế Tôn
để tỏ ḷng tri ân sâu nặng trước Ngài
Trong tất thảy các tôn giáo, không tôn giáo nào dạy con
người vừa phải sống, phải xây dựng cho cuộc sống tốt đẹp
lại vừa phải từ chối nó, coi nó như áng phù vân, như h́nh
bóng hư ảo chập chờn trên vách hang động, như ốc đảo lộng
lẫy hiện lên trong trí tưởng tượng của kẻ lữ hành nơi sa
mạc.
Vâng, không tôn giáo nào dạy con người sống với tư thế
lưỡng phân như vậy, trừ đạo Phật. Nói một cách chính xác
hơn, trừ lư thuyết của Đấng Thế Tôn.
Với tư duy quen thuộc, người ta thường phân biệt hai h́nh
thái đối lập rạch ṛi, hai kiểu sống hoàn toàn trái ngược:
Một là nhập thân trong cuộc sống trần ai tục lụy, chấp
nhận sự ồn ả, bụi bặm, nhộn nhạo, cạnh tranh khốc liệt với
tất thảy những cuồng nộ của đam mê, tức giận , thù ghét,
mưu chước và tất thảy những ǵ liên quan tới cuộc bại
thành khiến con người phải uống đến giọt rượu cuối cùng
của cuộc sinh tồn, ngọt ngào cũng như cay đắng.
Hai là t́m nơi hẻo lánh ẩn thân, sau khi đă ghê sợ no nê
cảnh đời. Rời bỏ đô thành hay làng xóm, t́m nơi núi hoang
hay biển vắng để tránh mặt người hoặc hạn chế tối đa mọi
cuộc tiếp xúc với giống người. Ở những nơi đ́u hiu như thế,
làm bạn cùng cỏ cây muông thú, xa cách những xung đột bắt
buộc của mưu sinh, tránh cạm bẫy của giàu sang, quyền thế,
sắc dục.
Giữa cuộc nhập thế và sự ẩn thân là một giải biên thùy.
Biên thùy ấy không đóng cột mốc để phân định ranh giới như
cửa ải giữa hai nước lân bang nhưng có những quan niệm xưa
cổ, được tập nhiễm một cách rộng răi để phân biệt và so
sánh, đối chứng.
Tuy nhiên, Đức Thế Tôn lại chỉ ra rằng một bậc chân tu th́
phải “Hoằng pháp, lợi sinh” nghĩa là phải giác ngộ chúng
sinh, chấn hưng đạo Phật. C̣n một người chân chính có ư
nguyện tôn vinh đạo Phật, tuy không đạt đến La Hán hay Tỳ
Kheo nhưng cũng phải sống giữa cuộc đời này giống như ḥn
đảo, tự tạo cho ḿnh một cây đèn, nương theo chánh pháp và
chỉ dựa vào bản thân thôi, không dựa vào ai khác.
Cái nguyên tắc:
“Chỉ dựa vào bản thân thôi, không dựa vào ai khác” chính
là nguyên tắc vàng của người theo đạo Phật.
Nguyên tắc ấy chỉ ra rằng một bậc chân tu hoặc một người
chân chính không có quyền theo đuôi kẻ khác, không có
quyền nghĩ bằng cái đầu của kẻ khác, không có quyền làm
bất cứ hành vi nào mà không ư thức về hành vi đó và chịu
trách nhiệm về hành vi đó.
Chỉ dựa vào bản thân thôi và tồn tại giữa đời này như một
ḥn đảo chính là cách Phật Tổ Như Lai đặt con người ở thế
trực diện trước mọi hiểm nguy của cơi sinh tồn.
Con người phải đối mặt với mọi cám dỗ, nh́n thẳng vào
chúng như nh́n vào bầy thú dữ, lựa chọn cho ḿnh cách ứng
xử tối ưu. Cách ứng xử tối ưu này được kiến tạo trên hai
cây cột lớn. Với bậc tỳ kheo hay chân tu ấy là Trí Huệ và
Phạm Hạnh. Với những cư sĩ hay người theo đạo ở mức thông
thường ấy là Trí Tuệ và Giới Hạnh.
Trí Huệ là sự thức tỉnh siêu tuyệt trước chân lư, là khả
năng cảm thụ chân tướng của sự vật dễ dàng an nhiên tựa
nh́n vào một ḍng nước suối trong suốt hay nh́n vào chiếc
cốc fa lê. Người có trí huệ là người có khả năng tự gián
cách với cuộc sống tục lụy và do đó, đủ điều kiện để phân
tích nó một cách chân xác. Để t́m một h́nh ảnh thuận tiện
cho sự so sánh, ta có thể coi người có trí Huệ đứng ở một
vị thế xa và cao, gián cách với xă hội tựa hồ ai đó đứng
trên đỉnh núi cao nh́n xuống cơi thế, thấy muôn vạn những
con đường chồng chéo nhằng nhịt trên mặt đất, theo những
ngả khác nhau. Trên muôn vạn ngă đường ấy chúng sinh xuôi
ngược như đàn kiến hối hả điên cuồng trong cuộc truy t́m
hạnh phúc: Giàu sang? Quyền thế? Sắc dục?.. hoặc tất thảy
cùng một lượt với những ai trí tham may quá cỡ. Nhưng đa
số hoặc chính xác hơn là tuyệt đại đa số những cuộc truy
t́m ấy đều dẫn đến khổ đau:
“Bể khổ mênh mông, sóng lút đầu”.
Người có Trí Huệ là người có khả năng nh́n thấy cả biển
lẫn bờ, cả căn nguyên lẫn các trạng thái hiện hành mọi nỗi
khổ đau mà chúng sinh phải gánh chịu.
C̣n Phạm Hạnh, cây cột thứ hai vừa là bệ đỡ vừa là điểm
kết nối với Trí Huệ.
Người có Phạm Hạnh là người mà sự giới hạnh đă đi từ ư
thức sang vô thức, sự thực hành đạo đức không c̣n chú tâm,
c̣n ư niệm mà trở thành bản thể, như hơi thở ra vô nơi
buồng phổi như nhịp đập của con tim.
Đối với các cư sĩ, các chúng sinh có thiện tín và thiện
tâm, hai cây cột chống cho tinh thần của họ được đặt tên
là Trí Tuệ và Giới Hạnh. Hai cây cột này là cặp song tŕnh,
vừa là đôi lại vừa là chuyên nhất. Bởi trong đạo Phật
không có sự chia cắt giữa trí tuệ và giới hạnh.
Kinh Sonadanda Sutta viết:
“Trí tuệ được giới hạnh làm cho thanh tịnh,
Giới hạnh được trí tuệ làm cho thanh tịnh,
Chỗ nào có giới hạnh, chỗ ấy có trí tuệ,
Chỗ nào có trí tuệ, chỗ ấy có giới hạnh,
Người có giới hạnh nhất định có trí tuệ,
Người có trí tuệ nhất định có giới hạnh,
Giới hạnh và trí tuệ là Tối Thắng ở trên đời.”
Như vậy, lối nói thông thường “kẻ ấy hữu tài vô đức” là
không tương thích với đạo Phật. Thật sự ra, nơi đâu là
biên giới giữa Trí Huệ và Trí Tuệ. Và ở đâu có vạch phân
ly giữa Phạm Hạnh với Giới Hạnh?..
Trong giới hạn của ngôn từ, con người chỉ có thể nhận biết
một cách vô cùng tương đối mà thôi!..
Tuy nhiên, kinh Tương Ưng dạy chúng ta rằng:
“Huệ minh được mọc lên
Là mọc lên tối thượng
Vô minh được rơi xuống
Là rơi xuống tối thượng!”
Như vậy, sự Ngộâ, sự thấu hiểu chân lư một cách siêu tuyệt
giống như đôi cánh chắp cho con người bay cao lên một tầm
cao cần thiết để họ có thể nh́n rơ muôn vạn nẻo đường
ngược xuôi gió bụi, để họ có thể nh́n rơ đồng loại cũng
như bản thân họ thời quá khứ chính là những bầy kiến đông
đảo đang chen lấn trên những ngă đường kia, trong cuộc
truy t́m điên cuồng và vô vọng.
Nhưng muốn Ngộ, con người không thể thiếu đức hạnh, không
thể chỉ là con mồi bị ngoạm chặt trong hàm loài hổ dữ:
Tham, Sân, Si...
Vậy là thế song hành cần thiết cho cơn Thức Tỉnh. Một đôi
chân tinh thần bắt buộc phải đủ để bước lên con đường của
đạo Phật. Cho dù về mặt thân xác, ta có thể bị bom đạn,
tai nạn hay kẻ dữ làm cho thành phế nhân.
Chỉ khi đă Ngộ, đă đủ giới hạnh ta mới có thể trở thành
con người chân chính, sống cuộc sống chân chính. Mà muốn
Ngộ, trước hết ta phải hiểu đến tận thịt xương ta hai chữ
Vô Thường.
Vậy là, vẫn phải chấp nhận cuộc sống mặc dù nh́n thấy chân
tướng của nó là Hư Ảo.
Vừa phải sống vừa phải coi cuộc sống ta đang sống là phù
du.
Quan niệm như thế là vô cùng khó hiểu, thái độ như thế quả
là vô cùng khó khăn đối với đám đông.
Theo con số thống kê, hiện nay trên hành tinh có 1 tỷ bẩy
người theo đạo Hồi, 1 tỷ bốn theo đạo Thiên Chúa. C̣n
người theo đạo Phật chỉ có trên 400 ngàn thôi. Con số ấy
không mọc lên một cách ngẫu nhiên. Con đường chông gai
thường ít người qua lại. Vách núi cao chắc chắn khó trèo.
Nhưng con đường cheo leo ấy lại chính là phần tinh túy
nhất trong lư thuyết của Đức Thế Tôn, là thứ nước cam lồ
mà nếu ai đă từng nhắp một lần th́ mọi thứ giải khát khác
sẽ trở nên vô vị.
Trước hết, bởi thế lưỡng phân này đ̣i hỏi một ḷng tin
tuyệt đối ở chân lư. Và ḷng tin vào chân lư lại phải dựa
vào sự tự tin ở chính bản thân ḿnh.
V́ chân lư không phải là món hàng có sẵn ở siêu thị hoặc
có thể vay tạm của láng giềng. Chân lư là thứ sản phẩm giá
thành rất cao, nếu không nói là tuyệt đối đắt, v́ nó đ̣i
hỏi Động Năo và Động Tâm. Nó yêu cầu sự chấp nhận hao tổn
Tâm Cơ lẫn Năo Cơ cùng một lượt.
Người ta không thể nghĩ một cách hời hợt, cảm một cách hời
hợt, mong ước một cách hời hợt mà lĩnh hội được chân lư.
Người ta phải đào sâu trí năo, phải xúc động sâu sắc, phải
mong ước chân thành và kiên định mới ḥng tiếp cận được
ánh sáng của Trí Huệ:
Kinh Pháp Cú viết rằng:
“Thiếu trí th́ không định,
Thiếu định th́ không Tuệ,
Người có định có Tuệ,
Nhất định gần Niếp Bàn”
Cuộc hành tŕnh t́m chân lư là cuộc hành tŕnh tự thân, tự
tại. Đức tin không thể t́m kiếm, xin xỏ hay vay mượn nơi
người khác, cho dù người đó là bậc cao nhân.
Kinh Kalama (Kinh Xét Đoán) viết rằng:
“Này các ngươi Kàlàmà,
Chớ có tin v́ nghe truyền thuyết;
Chớ có tin v́ nghe truyền thống;
Chớ có tin v́ nghe người ta nói;
Chớ có tin v́ được kinh tạng truyền tụng;
Chớ có tin v́ đúng theo một lập trường;
Chớ có tin v́ đánh giá hời hợt các dữ kiện;
Chớ có tin v́ phù hợp với định kiến;
Chớ có tin v́ phát xuất từ nơi có uy quyền;
Chớ có tin v́ vị Sa-môn là bậc đạo sư của ḿnh”.
Nhưng này các Kàlàmà, khi nào tự ḿnh biết rơ như sau:
- Các pháp này là bất thiện;
- Các pháp này là có tội;
- Các pháp này bị các người có trí chỉ trích;
- Các pháp này nếu thực hiện và chấp nhận đưa đến bất hạnh
khổ đau;
Thời này Kàlàmà , hăy từ bỏ chúng!
Nhưng này các Kàlàmà, khi nào tự ḿnh biết rơ như sau:
- Các pháp này là thiện;
- Các pháp này không có tội;
- Các pháp này không bị các người có trí chỉ trích;
- Các pháp này nếu thực hiện và chấp nhận đưa đến hạnh
phúc và an lạc;
Thời này Kàlàmà , hăy đạt đến và an trú!
Như vậy, Đức Thế Tôn chỉ cho chúng ta thấy rằng “Phải
giương cao ngọn cờ hoài nghi trước tất thảy các chân lư đă
được làm sẵn”. Phải biết ngờ vực mọi loại hàng hóa tư
tưởng đă đóng gói trong các loại bao b́. Chân lư, nếu quả
thật xứng đáng với tên gọi, luôn luôn đ̣i giá cao, giá đắt.
Phải đổ mồ hôi, sôi máu năo. Phải lao động cật lực trên
khối óc và con tim ḿnh. Aùnh sáng Trí Tuệ và Trí Huệ
không rọi chiếu tới những hang ổ của sự lười biếng và thói
quen ăn bám.
Bởi v́, tất thẩy mọi tư tưởng cũng như mọi tôn giáo đều
chứa đựng trong ngôn từ thông qua ngôn từ mà đến với con
người. Mà ngôn từ nào cũng có hai dạng thức tồn tại:
Trạng thái hiển nhiên như thứ vỏ trái cây.
Trạng thái bộc lộ như sự dung chứa cốt lơi, tức là phần
ruột quả.
Muốn có được hạt hạnh nhân phải đập vỡ lớp vỏ cứng bên
ngoài. Muốn t́m được nguyên ủy sự vật phải vượt qua được
lớp vỏ h́nh thức che phủ chúng, có nghĩa là phải lột được
vỏ quả mít để thấy múi mít, phải bóp vỡ quảû dẻ để lấy ra
hạt dẻ...
Cái lớp vỏ của định kiến, của thói quen, của mê hoặc, của
nhầm tưởng... luôn luôn vây bọc nội dung thật sự và tạo
nên những xét đoán sai biệt, những phán xử bất công, những
hy vọng và thất vọng hăo huyền hoặc hàm hồ trong con mắt
người đời.
Để nh́n cho rơ cốt lơi của sự việc chính là hành tŕnh t́m
chân lư. Hành tŕnh ấy chẳng phải là một tṛ chơi.
“ Này Ananda, hăy tự ḿnh là ngọn đèn hay ḥn đảo cho
chính ḿnh, hăy tự ḿnh nương tựa vào chính ḿnh, chớ
nương tựa một điều ǵ khác. Dùng Chánh pháp làm ngọn đèn,
dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, chớ nương tựa một điều
ǵ khác”. Aáy là lời Như Lai Phật Tổ dạy chúng ta.
“Hăy tự ḿnh nương dựa vào chính ḿnh!..”
- V́ sao Đấng Thế Tôn nhắc đi nhắc lại câu nói đó?..
- Bởi mỗi lời mỗi chữ ấy là vàng đă được thửù lửa, là đá
đă đẽo gọt, là kim cương đă được mài chuốt, là chân lư tối
thượng được chắt lọc đúc kết qua bao nhiêu chiêm nghiệm
suy tưởng của Ngài.
Con người, do bản tính luôn bị Tham Sân Si chi phối,
thường không dám đối đầu với những dục vọng của chính ḿnh.
Để chạy trốn nỗi sợ hăi này, họ thường có hai cách. Hoặc
nhắm mắt rúc đầu vào cát như loài đà điểu, hoặc xa lánh
cơi đời. Trong cả hai trường hợp cuộc chạy trốn đều không
đạt tới kết quả.
Theo cách loài đà điểu, dù nhắm mắt để không nh́n thấy sự
thật, sự thật vẫn đập cửa xông vào nhà. Nếu đă gây tội ác,
không phải luật dương gian khoác áo cảnh sát ập tới th́ sẽ
là bóng ma của oan hồn trở về cưỡi đầu giường ngủ. C̣n nếu
là kẻ bị bệnh nặng th́ dù có t́m mọi cách lẩn tránh th́
thần chết cũng sẽ cưỡi chổi hay cưỡi xe hơi t́m đến tận
nơi.
Theo cách thứ hai, ẩn trốn nơi hang cùng núi hẻm thật ra
chỉ là tṛ bày đặt, nói khác đi là chuyện thay đổi cảnh
trí, phông màn trên sân khấu của cuộc tồn sinh. Bởi v́,
bạn hiền hay thù nghịch ngự trị trong tâm hồn ta, điều ấy
do chính ta định đoạt. Dẫu cho là nơi thâm sơn cùng cốc,
nếu tâm chưa tịnh, trí chưa minh, người ta vẫn có thể bị
một nàng sơn nữ xinh đẹp, vợ một chàng tiều phu nào đó bên
kia núi khuấy đảo ḷng dục và xui khiến chui vào tṛng tội
lỗi. Hoặc là, khi Vô Minh chưa được rơi xuống khi Giới
Hạnh chưa thành, dù ở nơi hẻo lánh nhất con người cũng có
thể phạm tội trộm cắp, ví dụ giết thịt một con dê của
trang trại lân bang lạc đến vườn nhà...
Những hành vi bất thiện đó dù không ai nh́n thấy, dù lọt
lưới pháp luật của loài người nhưng chẳng bao giờ lọt được
lưới nhân quả. Vậy nên, mọi sự trốn tránh, ẩn náu đều là
tṛ chơi vô nghĩa của những ai yếu bóng vía hay c̣n mang
vác quá nhiều nhầm tưởng và vọng tưởng.
Kinh Pháp Cú viết như sau về sự Nương Tựa trên cơi đời:
Hoặc trên trời, dưới biển
Hoặc vào trong hang núi
Không chỗ nào trên đời
Thoát khỏi tay thần chết
Hoặc trên trời dưới biển
Hoặc vào ở trong rừng
Không chỗ nào trên đời
Trốn được quả báo ác
Người ta v́ hoảng sợ
T́m nhiều nơi nương tựa
Núi non và rừng rú
Vườn, cây và đền miếu
Ấy không là nơi tựa
An ổn và cao nhất
Nương tựa các nơi ấy
Không giải thoát khổ đau
Ai nương tựa Đức Phật
Chánh pháp và Tăng đoàn
Thấy rơ Bốn chân lư
Bằng trí tuệ chơn chánh (chân chính-tiếng Nam bộ)
Thấy khổ và nhân khổ
Thấy khổ bị tiêu diệt
Và Chánh đạo tám nẻo
Th́ sẽ được hết khổ
Aáy là nơi nương tựa
An ổn và cao nhất
Nếu nương tựa như thế
Mới giải thoát khổ đau
Vui thay, già có đạo
Vui thay, niềm tin vững
Vui thay, có trí tuệ
Vui thay, không làm ác.
Người có đạo là người tự xây cho ḿnh một thành tŕ vững
chắc, trong thành tŕ ấy họ Đạt Đến và An Trú!
Trong thành tŕ ấy, họ tự tại vững chắc như ḥn núi, không
một xao xuyến ngoại diện nào có thể tác động vào họ. Dù là
lời khen hay tiếng chê, dù là cả biển người vỗ tay cổ vũ
hay cả biển người la ó, chửi rủa, ném rác ném đá, dù là sự
tâng bốc đến mây xanh hay sự nhục mạ, vu khống đê hèn và
bỉ ổi... Tất thảy những phản ứng của tha nhân không thể
làm xôn xao run rẩy một con người khi họ đă:
- Tự ḿnh trở thành ngọn đèn cho chính ḿnh,
- Tự ḿnh đủ nương dựa vào ḿnh
- Tự biết sống như một ḥn đảo giữa biển trần ai.
Kinh Đại Niệm Xứ giảng giải cặn kẽ hành tŕnh của một con
người đi t́m nơi An Trú trong chính ḿnh, xây đắp thành
tŕ của chính ḿnh.
Với khuôn khổ bài viết ngắn ngủi này, tôi chỉ có thể trích
dẫn vài đoạn mà theo tôi có tính biểu trưng: Trong 37 phẩm
bồ đề tạo thành bản đồ tu Phật th́ Niệm tứ xứ được xếp ở
hạng vị đầu tiên. Chắc chắn đây là bước khởi sự của cuộc
hành tŕnh. Người xưa đă nói:
“Vạn sự khởi đầu nan”.
Đây chính là cuộc đấu tranh đầu tiên với những sợi dây
trói của nhầm tưởng, vọng tưởng, tà kiến, định kiến, sức
mạnh của hủ tục, thói quen, sự ngu dốt...tất thảy những ǵ
kiến tạo nên bóng đêm có tên gọi Vô Minh.
Vũ khí trong cuộc đấu tranh này chính là bốn pháp quán
niệm.
1. Niệm thân tức minh sát về thân
2. Niệm thọ tức minh sát về cảm thọ
3. Niệm tâm tức minh sát trạng thái nội tâm
4. Niệm pháp tức minh sát sự tương quan các pháp.
Phải thành đạt trong cuộc chiến đấu với Vô minh người ta
mới có thể ngăn ngừa cái ác, khởi xây cái thiện. Và quá
tŕnh này sau khi lập đi lập lại trong một thời gian nào
đấy, sẽ đạt tới thời điểm mà người ta thường gọi là “lượng
đổi thành chất”, đấy chính là lúc con người sở hữu được Tứ
thần túc, có nghĩa là họ đạt được bốn pháp có hiệu năng:
1. Dục thần túc tức hiệu năng của ư muốn
2. Cần thần túc tức hiệu năng của nỗ lực
3. Tâm thần túc tức hiệu năng của tâm thần hóa
4. Thẩm thần túc tức hiệu năng của trí phân biệt.
Đây là bốn thứ châu báu mà mắt thường không nh́n thấy được,
câu thường không đong đếm được, người phàm tục không ư
thức được. Nhưng tứ thần túc lại là bảo bối cho các bậc
chân tu cũng như các Cư Sĩ hoặc các thiện nhân. Khi đă có
trong tay những báu vật này, với sự định tâm, với nỗ lực
chuyên cần họ sẽ đạt tới Ngũ lực. Ngũ lực tức là năm tảng
đá gốc xây cất lên thành tŕ để con người có thể Tự tại và
An trú, thành tŕ của đức tin vào Như Lai và niềm tin nơi
bản thể, thành tŕ của sự vững chắc và sự thanh thản,
thành tŕ của Từ Bi, Hỷ Xả, Dũng, Trí và Định.
Ngũ Lực gồm:
1. Tín lực tức sức mạnh của đức tin
2. Tấn lực tức sức mạnh của sự tinh cần
3. Niệm lực tức sức mạnh của sự tỉnh thức
4. Định lực tức sức mạnh của sự chuyên nhất
5. Huệ lực tức sức mạnh của trí tuệ
Trong lịch sử Phật giáo có biết bao truyền tích về các vị
La Hán, mỗi người một cách đi đến Giải Thoát cuối cùng.
Trong các vị La Hán ấy, có người xuất phát nơi cung cấm,
có người xuất xứ trong hạng cùng đinh nhưng tất thảy đều
phải tu tập để đạt được Ngũ Lực v́ Ngũ Lực chính là đá
tảng là gạch ngói với cát xây nên bức thành vĩnh định để
mà: Đạt Đến và An Trú.
Là người Việt Nam, tôi hằng nhớ đến một nhân vật trong cổ
sử, một tấm gương sáng chói về Phạm Hạnh, một phụ nữ b́nh
dị trong bốn lũy tre xanh đă xây cất được thành tŕ, đă
trở thành ḥn đảo, thành ngọn đèn cho chính ḿnh Nàng có
tên là Thị Kính.
Thị Kính, nàng là ai?
Nàng là con người bằng xương bằng thịt của đồng quê Việt
Nam trong một thời kỳ lịch sử nào đấy hay nàng là sự phóng
chiếu của giấc mơ Phật tử?.. Dù sao chăng nữa th́ chặng
đường từ nàng Thị Kính cắt râu mọc ngược cho chồng đến lúc
trở thành Quán Âm Thị Kính là hành tŕnh tiêu biểu cho chữ
Nhẫn mà chúng ta có thể t́m thấy trong những lời giáo huấn
của Đức Thế Tôn với Ra hầu la:
“Hăy tu tập như đất. V́ trên đất người ta quăng bỏ đồ tịnh,
đồ không tịnh, phân uế, nước tiểu, nhổ nước miếng, quăng
mủ và máu; tuy vậy đất không lo âu, không giao động, không
nhàm chán; cũng vậy, này Rahầula, hay tu tập như đất. Do
tu tập như đất, các xúc khả ái, không khả ái được khởi lên,
không có nắm giữ tâm, không có tồn tại.
- Cũng như thế, hăy tu tập như nước,...như lửa, như gió,
như hư không.
- Hăy tu tập về ḷng từ. Do tu tập về ḷng từ, cái ǵ
thuộc về tâm sâu sẽ được trừ diệt.
- Hăy tu tập về ḷng bi, cái ǵ thuộc về tâm hại người sẽ
được trừ diệt.
- Hăy tu tập về hỷ, cái ǵ thuộc về không vui sẽ được trừ
diệt.
- Hăy tu tập về xả, do tu tập về xả cái ǵ thuộc về tâm
hậu sẽ được trừ diệt.
- Hăy tu tập về bất tịnh, do tu tập về bất tịnh, cái ǵ
thuộc về tham ái sẽ được trừ diệt.
- Hăy tu tập về vô thường, do tu tập về vô thường, cái ǵ
về ngă nạn sẽ được trừ diệt.
Những lời Đức Thế tôn răn dạy Rahầula cũng là lời răn dạy
tất thảy những ai muốn đi theo con đường của Ngài.
Nhưng trên hành tinh này có bao nhiêu sinh linh th́ có bấy
nhiêu duyên nghiệp. Ai cũng vừa là nhân vừa là quả đối với
duyên nghiệp của chính ḿnh. Ai cũng phải ư thức về trách
nhiệm của họ với chính cuộc đời của họ. Như thế, đạo Phật
chẳng có nhu cầu ban phát cho các tín đồ những lời hứa hẹn
có tính cho không. Nói một cách thẳng thừng đạo Phật không
dậy người ta nhặt quả bứa chín giữa đường nếu chưa bỏ công
trồng bứa. Có lẽ đây cũng là một yếu tố cấu thành sự khó
khăn và nghiêm khắc trong lư thuyết của Phật Tổ Như Lai.
Bởi v́ một số không ít chúng sinh thường thích nhận quà mà
không muốn làm điều khó nhọc, không muốn tự hoàn thiện
ḿnh, không muốn vứt bỏ những dục vọng riêng tư có thể gây
tác hại cho đồng loại.
Hơn thế nữa, c̣n có những hạng người độc ác, khi vào chùa
họ xin Trời Phật cho họ được quyền “ nói người nghe, đe
người sợ”; họ xin cho “chúng sinh có mắt như mù, có tai
như điếc, có mồm như câm” để cho họ thỏa chí đè đầu cưỡi
cổ đồng loại, để họ tha hồ bóc lột, hà hiếp những ai “thấp
cổ, bé họng”.
Và có những hạng người t́m sự an nhiên vui sướng trên cái
chết của nhân sinh. Đó chính là lũ đao phủ có bàn tay xức
dầu thơm. Vài ngàn người, vài vạn người, vài triệu người
chết đi cũng không gây cho chúng mảy may xao xuyến. Mạng
sống của tha nhân với chúng chỉ là những dăy số vô cảm
hiện lên trên trang giấy trắng hoặc màn h́nh, máy tính.
Chúng có thể kư lệnh giết người trong quán Karaoke hoặc
trước bát phở bữa sáng một cách vui vẻ như ném vài đồng xu
vào bàn quay tḥ ḷ. Và giết người trong trường hợp này là
giết những người vô tội. Tôi nhắc lại ví dụ về vụ giếtÙ
mấy ngàn cựu chiến binh tỉnh Thái B́nh bằng mọi cách thức
đê hèn trong bóng tối các trại giam.
Trong trường hợp này, liệu chúng ta có thể tha thứ cho
chúng được không?
Câu trả lời của tôi là không! Do đó tôi đă không trở thành
một tỳ kheo mà là một kẻ làm giặc. Bởi tôi thiếu duyên,
thiếu đức để mặc áo cà sa?.. Chắc chắn là vậy! Nhưng nếu
có hạnh duyên tôi xin được trở thành tỳ kheo vào kiếp khác;
c̣n trong kiếp này, mọi sự đă xảy ra rồi. Nước đă trôi
xuôi không thể quay ngược ḍng được nữa.
Tôi vui ḷng với vận mệnh của tôi và không mảy may hối
tiếc những ǵ tôi đă làm. Bởi tôi chỉ có thể tha thứ những
kẻ làm hại bản thân tôi nhưng tôi không thể tha thứ cho
những kẻ làm hại cả một dân tộc. Bởi tôi biết rằng phải
chặn đứng bàn tay lũ sát nhân bằng các biện pháp hữu hiệu
chứ không thể ngồi in kinh để mang tới rải trong các biệt
thự của chúng (và cho dù các vị có mang kinh tới cửa th́
chúng sẽ xùy chó berger ra cắn). Bởi tôi biết rằng nếu
không hành động ráo riết th́ chúng sẽ tiếp tục “thi hành
các Thiên An Môn trong bóng tối” với bất kể những ai dám
lên tiếng tố cáo sự nhũng lạm và tàn ác của chế độ. Sau
các cựu chiến binh Thái B́nh sẽ đến lượt dân phản kháng ở
Nam Định, Hải Dương, Vĩnh Long hoặc Cần Thơ .v..v. Bởi tôi
không mảy may hồ nghi về bản chất đồi bại của kẻ cầm quyền.
Trong ánh điện chói ḷa quyền lực, lương tâm và đức hạnh
biến thành ánh trăng mờ rồi tới lúc nào đó không c̣n mảy
may dấu vết. Xưa nay, nào mấy ai được thấy kẻ cầm quyền tự
rời bỏ ngôi vị để chấp nhận cuộc sống thanh đạm của lương
dân?.. Trong lịch sử Việt Nam, chỉ một ḿnh Trần Thái Tôn
cất tiếng ngâm nga:
“Mặc ai tranh bá đồ Vương
Trẫm xin gửi lại nắm xương chùa này”
Nhưng ông lại chính là người sáng tạo phái thiền Trúc Lâm.
Không có người thứ hai tên là Trần Thái Tôn! Không có!
Vấn đề quyền lực đă cho nhân loại những bài học khủng
khiếp mà học phí phải trả xương núi máu sông. Quyền lực
trong các chế độ cộng sản lại cung cấp cho con người nhiều
cuốn sách đen hơn cả chế độ Đức Quốc Xă. Với một thực tiễn
như vậy tôi đă chọn con đường đấu tranh.
Tuy nhiên, để đứng vững trên con đường đấu tranh, tôi phải
nương ḿnh trong bóng Đấng Thế Tôn. Điều này có vẻ như
nghịch lư nhưng phải chăng cuộc sống của nhân loại luôn
luôn được tạo dựng trên các nghịch lư và lịch sử cũng tiến
lên chính trên dấu vết các trận giao tranh giữa những sức
mạnh đối chiều.
Nếu không có những nguyên lư vàng của Phật Tổ Như Lai, tôi
đă không thể tồn tại như tôi tồn tại. Nếu không điên,
không trầm uất, không chết v́ sợ hăi, đau khổ, cô đơn ắt
hẳn tôi cũng đă phải bỏ cuộc từ lâu.
Aáy là điều chắc chắn!
Những nguyên lư vàng của Đấng Thế Tôn chính là con tàu cho
tôi bấu víu giữa biển trầm luân.
Ngài dạy rằng kiếp sinh tồn hư hảo. Do nhận chân ra điều
ấy tôi vừa sống vừa coi cuộc sống như xác con ve có thể
đốt cháy bất cứ lúc nào cần thiết.
Ngài dạy rằng hăy tự nương dựa vào ḿnh, hăy tự biến ḿnh
thành cây đèn hay ḥn đảo cho chính ḿnh. Khi thực thi lời
Ngài, tôi t́m cho tôi sức mạnh tồn sinh và tôi bất chấp
mọi thù nghịch.
Ngài dạy hăy tu tập như đất và nhờ lời Ngài dạy tôi vượt
qua tất thảy mọi vu khống, mạ lỵ, đe dọa của một bộ máy
quyền lực thực thi trên gần một trăm triệu con người.
Chỉ đáng tiếc là tôi đă không thực thi được điều này: “
Không được khinh bỉ kẻ thù của ḿnh”.
Rất tiếc. Nhưng tôi chưa đủ cơ duyên và đức hạnh để thực
hiện lời dạy ấy. Trong cuộc chiến đấu của tôi chống kẻ cầm
quyền, một cuộc chơi trứng chọi đá, tôi chỉ có một vũ khí
duy nhất là ḷng tin vào Chính đạo và sự khinh bỉ lũ ṛi
bọ đục khoét xương tủy của lương dân.
Đó là vũ khí duy nhất mà tôi có trong tay!
Hai mươi năm đă trôi qua.
Khi nh́n lại con đường đi của ḿnh, nhiều lần tôi tự hỏi:
“Ta là học tṛ hư hay học tṛ ngoan của Đấng Thế Tôn?.. Ta
là đệ tử phái sinh, bất tuân lệnh hay là đệ tử xứng đáng
của Ngài?.. Nếu Ngài tái sinh Ngài sẽ mắng mỏ hay khen
ngợi, quở phạt hay cho ta phần thưởng. Bởi v́ 37 phẩm Bồ
Đề của Ngài dạy cho các bậc chân tu là để đi đến cửa Thiền.
C̣n ta học đúng các bài bản của Ngài để đi vào con đường
tranh đấu?..”.
Cũng nhiều lần tôi đặt ra giả thuyết:
“Phải chăng lư thuyết của Phật Tổ dựa trên thế lưỡng phân
nên khi thực thi lư thuyết này nó sẽ làm nảy sinh một thế
lưỡng phân khác. Đó là cùng một lúc có những vị tỳ kheo
theo phương cách cổ điển và những nhà sư tự thiêu trên con
đường tranh đấu với bạo quyền?
Dẫu sao, chỉ Ngài, duy nhất Ngài mới có thể giải đáp được
thôi.
C̣n tôi, kẻ đă nương nhờ sức mạnh tinh thần của Ngài bấy
lâu nay, tôi có nghĩa vụ viết bài này để bày tỏ ḷng biết
ơn sâu nặng.
Trong cuộc đời tôi, nếu cuộc gặp gở Phật Bà là một hạnh
duyên đem đến cho tôi sự giải thoát tuyệt vời giữa cơn băo
tố tâm linh và t́nh cảm th́ cuộc gặp gỡ Đấng Thế Tôn mang
cho tôi những nguyên ủy của sức mạnh tự tại. Nhờ sức mạnh
ấy, tôi được là tôi của hôm nay.
Và tôi hy vọng rằng nếu Phật Tổ tái sinh, Ngài sẽ không nỡ
mắng mỏ cũng không ban khen tôi, nhưng Ngài sẽ nhắm mắt,
thở dài và nói rằng:
“Thôi, duyên nghiệp của nhà ngươi là vậy!”
Như thế, tôi cũng đủ măn nguyện rồi!
Paris, ngày 4 tháng 4 năm 2006