|
Nhân
mùa Phật Đản 2006
Hành hương xứ Phật khắp nơi trên thế giới
MƯỜNG GIANG -
Viết tặng Mai
Minh – Vơ Đ́nh Dược – Khai Trinh – Cát Biển – Nguyễn thi Dung
Và Nguyễn Văn Đồng (Na Uy)
Từ miền Nam nước Népal, dưới chân rặng Hy Mă Lạp Sơn cao
ngất, là quê hương ngàn đời của Dân Tộc Sakya chuyên sống bằng
nông nghiệp.
Theo sử liệu nói về tiểu sử của Thái Tử Siddhartha, tức Đức
Phật Tổ, người sáng lập Phật Giáo, th́ đây là sinh quán của
Đức Phật. Năm đó, thân mẫu Ngài, Hoàng Hậu Maya đă 45 tuổi
mới mang thai Ngài. Trên đường trở về quê nhà, đă hạ sanh Đức
Phật tại vườn Lâm T́ Ni, từ nách phải. Ta biết xă hội Ấn Độ
thời thượng cổ, theo chế độ đẳng cấp rất nghiệm ngặt. Theo
đó, giai cấp thượng đẳng, được dành cho các giới tăng lữ Bà
La Môn, từ Trời sinh ra, gọi là Bràhinana. Kế đó là đẳng cấp
Chiến Sĩ hay Quư Tộc cầm quyền, gọi là Kshatriya, sinh ra từ
bên sườn. Ngoài ra c̣n có đẳng cấp Vaishya (thương nhân-địa
chủ) sinh ra từ bụng và áp chót là Shùdra (thợ thuyền-công
nhân-tôi tớ), từ đáy bàn chân. Việc Đức Phật sinh ra từ nách
phải, không phải là sự ngẫu nhiên nhưng hàm ư cho biết Ngài
thuộc một đẳng cấp cao quư trong xă hội Ấn Độ lúc đó.
Hiện nay thành phố Kapilavastu không c̣n nữa và quê hương của
Đức Phật Tổ cũng bị xóa tên trên bản đồ thế giới. Phần lớn
lănh thổ của Dân Tộc Sakya nay thuộc nước Népal, số c̣n lại
nằm ở biên giới Ấn Độ. Nhưng mấy ngàn năm qua, vết chân của
Thái Tử Tất Đạt Đa hầu như vẫn nguyên vẹn khắp hai miền Đại
Giang nước Ấn. Tại Magada c̣n di tích Linh Tựu Sơn, trên
một ngọn núi có h́nh dáng như một con chim Tựu. Đây là thánh
địa nổi tiếng của Phật Giáo mà thuở sinh thời Đức Phật đă tới
truyền đạo và qui tụ hơn 1220 đệ tử của Phật.
Riêng Hằng Hà, muôn đời với nước Ấn, được coi như con sông
thiêng bất tử. Sông phát nguồn từ hai nhánh trên đỉnh Hy Mă
Lạp Sơn, sau đó băng qua hơn 2500 cây số và ra biển khơi tại
vịnh Bangal. Đây là cái nôi của nền văn hóa Ấn Độ, v́ thế hai
bên bờ có rất nhiều thánh địa của mọi tôn giáo. Đây cũng là
phạm vi truyền giáo của Đức Phật, cho nên thế nhân đă so sánh
tư tưởng nhà Phật như nước sông Hằng, nguồn xa, van dặm, nước
chảy không ngừng, có đến tận chỗ mới thấy chí lư. Thật vậy,
sông Hằng đối với người Ấn, hầu như đa số khi ra đời, đều t́m
đủ mọi cách cho được tắm gội trên ḍng sông. Đến khi qua phần,
th́ lại mong được hỏa táng thi thể và đem tro cốt phóng vào
trong sông nước muôn trùng. Đức Phật Thích Ca trong khi xuất
gia cũng đă trải qua nhiều phương cách, trong đó có nhiều năm
hành xác khổ hạnh và cuối cùng đă ngộ.
Nơi đó, nay gọi là bến Ni Liên Thiền, nơi Phật tắm gội tẩy
trần và được một bé gái mục đồng bố thí cho một bát sữa ḅ.
Chỗ bố thí này, ngày nay là một thánh đường Ấn Độ Giáo. Ngay
chiều đó, Ngài qua sông và đến tọa dưới gốc một cây Bồ Đề,
thuộc vùng núi Caya, với tâm nguyện ‘không Chính Giáo, sẽ
không bao giờ đứng dây‘. Cỏ ngày xưa, Phật trải để ngồi, được
gọi là Kim Cương Ṭa, c̣n ngôi Tháp cao lớn uy nghi kế đó,
cũng là Thánh Địa của Phật Giáo, được gọi là Đại Tháp Bồ Đề
Caya. Ngày đắc đạo, Đức Phật trở lại thành Madaga và được nhà
vua tặng Trúc Lâm Tịnh Xá, cũng chính là Ngôi Chùa đầu tiên
của Đạo Phật nhưng Trung Tâm Thuyết Pháp đương thời lại là Kỳ
Viên Tịnh Xá, ngày nay di tích này chỉ c̣n lại có một Đại
Phật Tháp hư phế, đứng cheo leo cô độc, trên một đỉnh núi cao
chừng 100m. Năm 35 tuổi, Đức Phật ngộ đạo và bắt đầu sự
nghiệp truyền giáo.
Từ đó gót chân của Ngài gần như giẫm nát từ Lộc Dă Uyển Tự
Miếu, ở ngoại ô thành phố Varasani (nay là Bénares), thu lại 5
đại đệ tử đầu tiên và những thánh tăng này về sau trở thành
những Tăng Già sớm nhất trong Phật Giáo. Ngày Thánh Tăng Đại
Đường Trần Huyền Trang, tức Tam Tạng đến tham quan Lộc Dă
Uyển, th́ nơi đó đang có 1500 tăng lữ theo học. Năm 80 tuổi,
sau 45 năm truyền đạo, Đức Phật đă viên tịch tại Thành
Kusinàrà, bên cạnh đệ tử là Canan. Ngày nay khu rừng nơi Phật
tịch, gọi là Niết Bàn Đường. Nhân mùa Phật Đản 20045, theo
vết chân Đức Phật thăm lại những nơi chốn ngày xưa, nay đă trở
thành những địa danh nổi tiếng, gắn liền với một tôn giáo hoàn
cầu cũng là một nền văn hóa tuyệt diệu.
1-T̀M VỀ NGUỒN GỐC CỦA BỤT-PHẬT VÀ CHỮ VẠN :
Hai nhà nghiên cứu Đinh Gia Khánh và Chu Xuân Diên, khi phân
tích hai danh từ Bụt và Phật, đă viết rằng, ‘Bụt và Phật‘ phản
ảnh hai con đường của Đạo Phật, từ Ấn Độ du nhập vào Việt
Nam. Bụt phiên âm từ chữ Phạn ‘Buddha’, nên coi như trực tiếp
từ Ấn Độ. C̣n danh từ Phật, th́ bắt nguồn từ Hán Việt, nên
coi như gián tiếp ở Trung Hoa sang. C̣n hai tác giả Thích
Minh Châu và Minh Chí, lại viết rằng, Bụt và Phật đều có
nghĩa giống nhau nhưng Bụt là từ ngữ dân gian, c̣n Phật là
danh từ bác học. Hai tác giả này c̣n căn cứ vào danh từ Bụt
để chứng minh là đạo Phật truyền vào nước Nam trước khi sang
nước Tàu.
Theo từ nguyên, ta biết hai danh từ Bụt và Phật, đều là những
h́nh thức phiên âm của Phạn ngữ (sanakrit) ‘Buddha’, được
người Hán phiên âm ra nhiều cách và chúng ta đọc theo âm Hán
Việt là Phật Đà, Phật Đồ, Phù Đồ hay Phật... Riêng chữ Bụt
cũng là Phật nhưng đọc theo âm Hán Việt xưa. Tóm lại cả hai
danh từ Bụt và Phật đều là chữ Hán Việt, chỉ khác một đằng
đọc theo âm xưa (Bụt), c̣n một cách đọc theo nay (Phật), chứ
không phải khác biệt, v́ con đường du nhập hay tính cách b́nh
dân hoặc bác học.
Ngày xưa, trong khi phiên âm các tiếng từ Phạn ngữ sang Hán
học, họ hay chọn các danh từ có lối phát âm rất gần với từ
nguyên (âm gốc) như Bụt th́ đọc gần tương ứng với Buddha.
Trái lại ngày nay chữ Phật đọc lên rất khác biệt với âm Bud,
nguyên do được giải thích, v́ sự biến đổi của ngữ âm qua nhiều
giai đoạn. Nói chung Bụt và Phật là hai cách đọc khác nhau của
cùng một chữ Hán, phiên âm âm tiết của danh từ Sanskrit
Buddha. Do trên không thể vin vào đó mà kết luận rằng Đạo Phật
đă tới VN trước khi du nhập Trung Hoa.
Riêng chữ Vạn trong Phật giáo, được coi như Tiêu Chí Cát Tường.
Đó là 1 trong 32 tướng của Phật. Ngoài ra trong các h́nh thức
kiến trúc chùa chiền hay các vật dụng thuộc về Phật giáo, chữ
Vạn luôn là biểu tương của các h́nh vẽ hay trang trí. Nói
chung, đó là nét đặc trưng của nền văn hóa đạo Phật... Giống
như cách giải thích về hai danh từ Bụt và Phật, cách phát âm
của chữ Vạn cũng đă từng gây tranh căi nhiều thời trong lịch
sử học thuật tại Trung Hoa. Thời Bắc Ngụy, Phổ Đề Lưu Kỳ đă
dịch biểu tượng của Phật là Vạn, trong tác phẩm ‘Thập Địa
Kinh Luận‘ nhưng sau đó thời Đại Đường, các Thánh tăng như
Cưu Ma La Thập, Huyền Trang... trong các tác phẩm như
Nghiêm Hoa Kinh, Vô Lượng Nghĩa Kinh... đều dịch chữ Vạn là
Đức.
Ai vũng biết tại Ấn Độ, hầu như các kinh điển cơ bản, khởi
nguồn của Phật giáo gần như bị tiêu hủy, không c̣n nguyên vẹn,
cho nên người sau đă không thể căn cứ để chứng nhận là Giới
Phật Học lúc đó, đă đọc biểu tượng của Phật là ǵ. Chữ Vạn
hiện nay, theo cách mà chúng ta đang đọc. Qua sử liệu cho thấy
đă căn cứ theo tài liệu phiên dịch từ thời nhà Tống. Ta biết,
Phật giáo từ Ấn Độ du nhập vào Trung Hoa cũng như mọi nơi trên
thế giới và dĩ nhiên chữ Vạn cũng là độc sáng của giới tăng
già Ấn Độ. Thế nhưng trên thực té, ai là tác giả của chữ Vạn,
đă có nhiều tranh chấp phức tạp và chiến trường chữ nghĩa này,
đă khởi nguồn ngay từ đời nhà Tống. Sự tranh chấp khởi đầu,
khi các tăng nhân trong lúc phiên dịch bổ túc bộ ‘Danh Nghĩa
Tập‘ đă ghi chú chữ Vạn, với nghĩa là ‘Cát Tường Vạn Đức‘ và
khẳng định tác giả chữ này, là Vơ Tắc Thiên, đă sáng chế vào
năm Trường Thọ thứ 2, khi cướp ngôi nhà Đường đổi thành nhà
Châu. Dĩ nhiên giả thuyết này đă bị đánh đổ ngay lúc đó, v́
thực tế thiếu các minh chứng khoa học và trên hết chữ Vạn đă
có mặt hầu hết trong các kinh điển, khi Phật giáo du nhập vào
Trung Hoa, trước khi Vơ Tắc Thiên chào đời.
Sóng gió lại nổi lên, vào năm 1980 tại huyện Dân Ḥa, tỉnh
Thanh Hải bên Tàu, các nhà khảo cổ đă khai quật được một b́nh
gốm sứ cổ cao, chung quanh có vẽ bốn chữ Vạn bằng nét nghiêng,
có ṿng tṛn bên ngoài. Qua nghiên cứu cùng phỏng đoàn, chiếc
b́nh này ra đời vào thời kỳ Đồ Đá Mới, cách đây chừng 6 tới
7000 năm. Sự trùng hợp trên, cũng đă được t́m thấy nhiều văn
vật, cũng thuộc thời kỳ Đồ Đá Mới, ở Cam Túc, Thanh Hải, Mông
Cổ, Quảng Đông và đặc biệt trong một ngôi mộ cổ thời Chiến
Quốc, cũng có nhiều tiêu chí, khắc h́nh các thiên thể bằng chữ
Vạn, và chua đó là ngôi sao Chổi. Dù tŕnh độ về hội họa có
khác biệt nhưng nói chung mô h́nh của chữ Vạn thi giống nhau
như khuôn đúc. Điều này, cho thấy những cổ dân ở Trung Hoa, đă
sử dụng phù hiệu của Chữ Vạn, trước khi Phật giáo từ Ấn Độ du
nhập vào đất nước này.
Nhưng đồng thời tại nhiều nơi trên thế giới, phù hiệu Chữ Vạn
cũng được các học giả t́m thấy trong nhiều di chí cổ tại Hy
Lạp, Ba Tư và Ấn Độ. Do trên người ta đă lập luận rằng, chữ
Vạn là một loại kư hiệu, phù chú hay là biểu tượng của một nền
văn minh cổ, thờ Lửa và Mặt Trời. Điều kỳ lạ là h́nh thức chữ
Vạn, từ mọi nơi trên thế giới đều giống nhau. Điều trên đă
khiến cho bí ẩn của biểu tượng trên càng lúc càng trở nên bí
mật và do thế, chẳng ai nhịn ai về tác quyền của chữ này.
2-RƯỚC XÁ LỢI PHẬT TỪ TÂY AN TỚI ĐÀI LOAN :
Tại chùa Pháp Môn ở cố đô Tây An (Trựng An) Trung Hoa, đă lưu
giữ được ‘Xa Lợi Phật Chỉ‘, là di cốt ngón tay của Đức Thích
Ca Mâu Ni. Đây là kỳ quan thứ chin trên thế giới, có lịch sử
hơn 2500 năm, được Trung Hoa xem như là báu vật của nước ḿnh.
Ngày mồng tám tháng tư năm 1987, đúng vào ngày Đản sinh Đức
Phật Thích Ca, lúc đó chùa Pháp Mông cũng đang trùng tu lại
Bảo Tháp, nên t́nh cờ mới khám phá được một Địa cung của
chùa. Sau đó cũng trong năm 1987, Đội khảo cổ thuộc Cục Văn
Vật, tỉnh Thiểm Tây đến khai quật Địa Cung, nhờ vậy Xá Lợi
Phật mới tái hiện với nhân thế, sau hơn 1100 năm, bị nhà Đường
bí mật niêm phong và cất giữ dưới ḷng đất.
Theo sử liệu được Tuần San Châu Á trích dẫn, ta biết các vị
Hoàng Đế nhà Đường rất sùng đạo Phật. Chùa Pháp Môn được xây
dựng tại kinh đô Trường An, chẳng những là một tu viện của
Hoàng Gia, mà c̣n là Thánh địa của Phật giáo lúc đó. Năm 873
vua Đường Hi Tông dời Xá Lợi Phật về chùa Pháp Môn và ban lệnh
niêm phong táng dưới Địa Cung của một Bảo tháp trong chùa từ
đó. Trước đó, vua Đường Hiến Tông, trong khi trị v́ đă bảy lần
tổ chức cung nghinh Phật Cốt từ Lạc Dương về Trường An. Việc
làm trên đă bị Hàn Dũ cực lực phản đối.. V́ yêu tài một văn
hào, nhà vua chỉ đầy ông ta tới Triều Châu mà thôi.
Năm 1989, Pháp sư Tịnh Vân thuộc Hội Phật Quang Sơn Đài Loan,
nhân chuyến về Hoa Lục thăm quê, đă cùng một phái đoàn tới
chùa Pháp Môn, chiêm bái di cốt thật của Đức Phật. Trở về Đài
Loan, tháng 6-2000 nhà sư đă viết thư cho Lư Ngọc Linh, Hội
trưởng Hội từ thiện người Mỹ gốc Hoa, đồng thời cũng cậy nhờ
Liễu Chính Hào, Bộ trưởng Pháp Vụ Đài Loan, can thiệp với
Trung Cộng, rước Xá Lợi Chỉ từ Tây An sang Đài Loan, để Phật
tử được chiêm bái. Thỉnh nguyện trên đă được, Chủ tịch Trung
Cộng là Giang Trạch Dân đồng ư, cho phép rước Xá Lợi Phật từ
Tây An sang Đài Loan một thời gian.
Do trên ngày 21-2-2002, nhằm ngày mồng mười tháng giêng năm
Nhâm Ngọ, một Ủy Ban Phật Pháp Đài Loan, đông tới 300 người,
đă sang Hoa Lục để cung đón Xá Lợi Phật. Chiều ngày 22, chùa
Pháp Môn-Tây An đă tổ chức lể Cung Tống Xa Lợi Phật. Trong
buổi lễ, có tới 40 vị Pháp sư và hơn 600 vị Cao tăng, Đại Đức,
Cư sĩ của hai phía tham dự, hành lễ cực kỳ trang trọng.
Qua tường thuật của nhà báo Tăng Tịnh Y, cũng là người giới
thiệu chương tŕnh của Đài Phượng Hoàng, đăng trên Tuần san
Châu Á số ra ngày 10-3-2002. Theo đó, ta biết máy bay của
Hăng Càng Long-Hồng Kông phụ trách vận tống ‘Xá Lợi Phật Chỉ’
từ Tây An tới Đài Loan vào ngày 23-2-2002. Riêng Đài truyền
h́nh Phượng Hoàng-Hồng Kông, được giao nhiệm vụ, truyền h́nh
trực tiếp, suốt cuộc hành tŕnh rước Xá Lợi Phật. Máy bay khởi
hành từ 9 giờ sáng ngày 23-2-2002 tại phi trường Hàm
Dương-Trung Quốc, ngừng lại sân bay Hồng Kông tượng trưng 45
phút, sau đó tiếp tục bay và đúng 1 giờ 30 phút chiều cùng
ngày, đáp xuống sân bay Trung Chính-Đài Bắc-Đài Loan.
Theo lời nhà báo họ Tăng, th́ trong mấy tháng qua tại cố đô
Tây An, trời gần như bị hạn hán không có một giọt mưa. Nhưng
kỳ diệu thay, sau khi lễ cung Tống Xá Lợi chấm dứt, th́ trời
đất nổi mưa như trút nước. Người trong thành Tây An, cho rằng
đó là nước Cam Lồ. Theo Pháp sư Măn Liên, Phân viện trưởng Hội
Phật Quang Sơn Đài Loan tại Hồng Kông cho biết, v́ hai nước
Trung Cộng-Đài Loan chưa có bang giao, nên hàng không của hai
phiá không thể qua lại được, v́ vậy hàng hàng không Càng Long
của Hồng Kông phải đảm trách. Đào Truật Nhân, Phó Hội trưởng
Hiệp Hội Phật Giáo Trung Quốc, cũng là Phó Trưởng đoàn hộ tống
Xá Lợi Phật, cho biết v́ lư do bảo vệ, nên từ khi Xá Lợi Phật
được đem từ Điạ cung lên, được Nhà Nước Trung Cộng cất giữ
Linh Cốt Phật, trong một Ngân Hàng vàng tại Tây An. Ngày 22 Xá
Lợi Phật đưọc thỉnh về chùa Pháp Môn và ngay trong đêm, linh
cốt Phật được đem gắn vào một chiếc hộp thủy tinh, có thể
chống được đạn. Hộp được đặt giữa một kim tháp, cũng là một
văn vật, được chọn lựa trong hàng ngàn báu vật của Kho Báu Vật
tại Cố Cung Bắc Kinh.
Có hơn 100.000 người chờ sẵn tại sân bay, để cung nghinh Linh
cốt Phật. Tất cả Đài Bắc hôm đó, hầu như chỉ có một màu vàng
cờ Phật. Nhiều nhà đặt bàn thờ ở hai bên lộ, trên tuyến đường
rước Phật Xá Lợi Ch́ ngang qua. Tất cả mọi người vẫy cờ Phật,
chắp tay chiêm bái. Cảnh tượng đúng như lời b́nh của Tuần San
Châu Á : ’Tín ngưỡng tôn giáo, đă vượt qua những phân kỳ chính
trị‘ Và đúng như nhà Phật đă nói : ’Nhân duyên câu túc‘. Đây
là lần đầu tiên, trong bao nhiêu năm ngăn cách, có một sự giao
lưu giữa eo biển Đài Loan. Như nước tự chảy về sông biển, Linh
Cốt của Đức Phật cũng nhờ ḍng nước xuôi buồm từ chốn ngàn
trùng tới Dài Bắc. Đó không phải là sự linh ứng của Phật hay
sao ?
3-HÀNH HƯƠNG XỨ PHẬT MIỀN THIÊN TRÚC :
Bang Bihar nằm về phía đông bắc Ấn Độ, có diện tích bằng nữa
VN nhưng dân số lên tới 90 triệu người. Đây là bang được xem
như nghèo nhất của nước này v́ khí hậu khô hạn và bất thường,
không thích hợp với một quốc gia sống chủ yếu bằng nông nghiệp.
Tại biên giới Ấn-Népal dưới chân rặng Hy Mă Lạp Sơn, cách
Bihar chừng 300 km về phía bắc, có thánh địa Lâm Tỳ Ni (Lumbini)
nơi ra đời của Đức Phật Thích Ca. Riêng tại bang Binar từ lâu
đă nổi tiếng khắp thế giới, v́ có tới ba thánh địa của Phật
Giáo như Bodh Gaya (Bồ Đề Đạo Tràng) là nơi mà 2500 trước đây,
Đức Phật Thích Ca đă đắc đạo dưới cội bồ đề. Thành Kushinagar
(Câu Thị Na) nơi Phật nhập niết bàn và Vườn Lộc Uyển (Sarnath)
là chốn mà Đức Phật thuyết pháp lần đầu tiên, sau khi đắc đạo.
Tuy mang tiếng là quê hương của Đức Phật và là vùng đất có
nhiều Thánh Địa – Thánh Tích, Thiền Viện quan trọng và nổi
tiếng nhất thế giới nhưng tới nay, số tín đồ Phật Giáo tại hai
nước Népal-Ấn Độ, chỉ chiếm một tỉ lệ quá thấp, không vượt quá
2%.
** BỒ ĐỀ ĐẠO TRÀNG (BODH GAYA) :
Tuy không phải là thủ phủ của bang Bihar (Patna) mà chỉ là một
quận nhưng Gaya lại được cả thế giới biết tới qua du lịch,
hành hương tại ba thánh địa của Phật giáo. Từ năm 2003, Gaya
đă có một phi trường quốc tế nhưng do giá vé rất mắc mơ, nên
hàng tuần, chỉ có một chuyến bay thẳng của Hăng Hàng Không Ấn
Độ, từ Bangkok tới Gaya.
Bồ Đề Đạo Tràng hiện nay là một thánh địa lớn nhất của Phật
Giáo, hằng năm thu hút hàng triệu khách hành hương, du lịch,
không riêng ǵ Á Châu mà có cả Âu-Mỹ-Phi-Úc... t́m tới đây để
tận mắt chiêm ngưỡng các di tích xa xưa của một trong những
nền văn hóa lớn nhất của hoàn cầu. Thánh tích ngày nay nằm
cách khu phố cổ Gaya chừng 12 km về hướng bắc và thủ phủ Patna
của bang Bihar khoảng 106 cây số. Dù chỉ là một thị trấn nhỏ
nhưng Bodh Gaya rất nhộn nhịp và đầy đủ tiện nghi, từ nhà bưu
điện, ngân hàng, khách sạn, chợ buá, các công ty du lịch..cho
tới những cơ sở dịch vụ Internet. Do thời tiết khắc nghiệt
trong vùng, nóng quá độ c̣n lạng th́ chết người, nên Hành
Hương-Du Lịch chỉ nở rộ từ tháng 10-2 mà thôi.
Bồ Đề Đạo Tràng tới nay la một địa danh đă có bề dầy lịch sử
hơn 2500 năm. Đây là khoảng không gian rộng lớn, liên quan mật
thiết tới cuộc đời tu và hành đạo của Đức Phật, từ khi Ngài
quyết định, từ bỏ lối tu hành xác của các giáo sĩ Bà La Môn,
tới khi giác ngộ được chân lư dưới cội bồ đề. Theo tiến sĩ sử
học người Ấn là D.C.Ahir, th́ chính Đại Đế Ashoka (A Dục) là
người đă khai sinh ra thánh địa nổi tiếng này vào năm 259
trước tây lịch, sau một lần tới hành lễ. Từ đó trong suốt
1500 năm, nơi này đă thu hút không biết bao nhiêu là khách
hành hương. Năm 250 trước TL, chính Ngài đă cho xây ngôi đền
thờ Phật đầu tiên tại thánh địa. Hiện nay c̣n lưu lại nhiều di
tích quan trọng tại chỗ như Tháp Đại Giác, Cội Bồ Đề, Kim
Cương Toà, ḍng sông Ni Liên cùng với một số di tích liên
quan tới bảy ‘tuần thất’ của Đức Phật sau khi giác ngộ. Nhờ
những đồng tiền vàng chôn quanh quẩn khu vực, có ghi niên lịch
nên các nhà khảo cổ đă xác định được thời gian xây cất. Nói
chung thánh tích hiện c̣n tồn tại, tất cả hầu như đều đă trải
qua nhiều lần bị tàn phá, rồi trùng tu dưới nhiều triều vua
chúa Ấn Độ.
Cũng theo tài liệu dẫn trên, ta biết chính vua Brahmin của xứ
Bengal, v́ kỳ thị Phật giáo, nên vào năm 600 sau TL, đă ra
lệnh hủy hoại tất cả đền tháp ở vùng nay, kể cả cây bồ đề
nguyên thủy mà Đức Phật đă thiền định. Nhưng năm 620 sau TL,
một vị vua sùng đạo Phật tên Raja Purna Varmar đă cho trồng
lại cây bồ đề từ một cây con, xây lại bửu tháp và xây tường
cao 7m để bảo vệ. Về sau, thánh địa lại nhiều lần bị người Hồi
và Bà La Môn đốt phá, cuối cùng suy tàn theo đạo Phật trên đất
Ấn từ thế kỷ 13 sau TL.
Năm 1811, tiến sĩ Buchanan Hamilton, một nhà khảo cổ người
Anh, đă phát hiện ra Tháp Đại Giác tại Bồ Đề Đạo Tràng, trong
t́nh trạng đổ nát. Nhưng nhờ một nhà khảo cổ nổi tiếng của
thế giới là Cunningham, vào năm 1871 đă vận động với thế giới,
trùng tu và làm sống lại Thánh địa của Phật Giáo. Cũng từ đó,
Bồ Đề Đạo Tràng được người Ấn Độ giáo điều hành. Chính nhà
khảo cổ trên, đả chiết một cây bồ đề con từ gốc bồ đề nguyên
thủy trồng tại Tích Lan, đem về trồng ở Bồ Đề Đạo Tràng và đă
tồn tại tới ngày nay. Năm 1949 Ấn được độc lập nên Thánh Địa
lại do bang Bihar quản trị. Năm 1952, chính phủ Liên Bang Ấn
mới chính thức thành lập một Ủy Ban Quản Trị (gồm 4 tu sĩ
Phật và 4 tu sĩ Ấn giáo), điều hành và trách nhiệm ǵn giữ
bảo vệ các di tích lịch sử trên. Tháng 6-2002 cơ quan Unesco
chính thức thừa nhận Tháp Đại Giác là một kỳ quan của nhân
loại.
Bodh Gaya hiện tại, không khác ǵ một Liên Hiệp Quốc Phật
giáo, v́ đă có rất nhiều chùa chiền đủ quốc tịch Nhật Bản,
Trung Cộng, Thái Lan, Miến Điện, Bhutan, Népal, Tây tạng, Đài
Loan, Tích Lan.. tập trung trong khu vực, quanh quẩn Tháp Đại
Giác. Năm 1987, VN Phật Quốc Tự được khởi công và hoàn thành
vào năm 2003, trên một khuôn viên rộng 3 ha, cách tháp Đại
Giác chừng 2 km.
* * LÂM TỲ NI, NƠI ĐỨC PHẬT RA ĐỜI :
Lâm Tỳ Ni thuộc quận Basti của nước Népal, nơi mà cách đây
hơn 2500 năm Đức Phật Tổ đă chào đời. Dựa theo tác phẩm ‘Lịch
sử văn minh ‘ của sử gia Will Durant, ghi lại truyền thuyết về
sự ra đời của Đức Phật, cũng như gia thế của Ngài., trong đó
có địa danh Lâm Tỳ Ni đi vào thiên cổ.
Năm 250 trước TL, hoàng đế A Dục (Ashoka), trong khi du hành
các thánh tích của Phật Môn, đă cho dựng một Bia đá và bức
tường bao quanh, ghi lại chuyến công du của ḿnh. Tại Lâm Tỳ
Ni c̣n có đền thờ của Hoàng Hầu Maya, xây dựng vào thế kỷ thứ
3 trước Tl và một bia đá, khắc họa Phật Đản Sinh. Thế kỷ thứ
7 sau TL, nhà sư Huyền Trang khi tới Thiên trúc thỉnh kinh, có
ghé thăm Lâm Tỳ Ni, ghi lại trong bút kư rằng Tr5 đá do vua A
Dục dựng vẫn c̣n nhưng đă bị hư hại theo thời gian. Sau đó
Lâm Tỳ Ni đă ch́m trong bóng tối quên lăng suốt 10 thế kỷ
biển dâu.
Năm 1895, tiến sĩ người Đức là Alois Fuhre, cũng là một nhà
khảo cổ. Trong một cuộc khai quật, đă t́m thấy Cột đá của vua
A Dục, dù bị chôn vùi trong ḷng đất bao nhiêu thế kỷ nhưng
mầu nhiệm thay, những hàng chữ Brahmi và Prakrik năm xưa vẫn
in đậm nét trên thân tru : ‘Đây là nơi sinh của Đức Phật, nên
vùng Lâm Tỳ Ni được miễn thuế, c̣n mức lợi tức th́ giảm c̣n
1/8... Tuy nhiên, dù phát hiện được một nơi chốn quan trọng
hàng đầu của Phật giáo, nhưng phương tây vẫn không giúp ǵ để
làm hồi sinh thánh tích Lâm Tỳ Ni. Năm 1967, U Thant người
Miến Điện, đắc cử chức vụ Tổng Thư Kư Liên Hiệp Quốc, tới
viếng thánh tích và sau đó kêu gọi các nước giúp đỡ, làm hồi
sinh phát triển Lâm Tỳ Ni. Kế hoạch được 13 quốc gia hưởng
ứng, trong đó có Hoa Kỳ, Nhật Bản, Đại Hàn, Ấn Độ đóng góp tài
chính và giao cho một kiến trúc sư người Nhật, là giáo sư
Kenzo Tenge thực hiện các kế hoạch xây dựng tu viện, nhà bảo
tàng, kể cả con đường dẫn tới Lâm Tỳ Ni.
Trong sự làm hồi sinh Lâm Tỳ Ni ngày nay, phải nhắc tới công
lớn của một nhà sư VN là Thượng Tọa Huyền Diệu, người khai phá
VN Phật Quốc Tự tại Bồ Đề Đạo Tràng. Chính Ông là người từ năm
1987 đă vận động với quốc vương Népal cùng Thủ Tướng nước này,
xin cấp đất dựng chùa VN, đồng thời đă đi chu du nhiều quốc
gia Phật giáo Châu Á, kêu gọi xây dựng chùa tại Lâm tỳ Ni. Do
trên tới nay, đă có 17 ngôi chùa của các nước Nhật, Đại Hàn,
Trung Cộng, Thái Lan... cũng như các Trung tâm văn hoá Phật
Giáo xây dựng tại đây. Riêng ngôi chùa VN dù nay chưa hoàn
thành, đă nằm trong một khu đất gần nơi ra đời của Đức Phật.
Tuy vậy Lâm Tỳ Ni vẫn chưa khởi sắc là một trung tâm du lịch
như Bồ Đề Đạo Tràng, dù đă có một vài khách sạn nhỏ của người
Nhật hay Tích Lan. Do trên hầu hết du khách hay khách hành
hương đều cư ngụ tại Sunauuli hay thị trấn Bhairahawa cách
Lâm Tỳ Ni chừng 20 km.
Đây là một xứ Phật duy nhất trên thế giới, v́ tất cả đều có
dính dấp tới nhà Phật, như quốc lộ Tất Đạt Đa
(Siddhartha-highway), khách sạn Niết Bàn (Nirvana hotel), hăng
hàng không Đức Phật (Buddha Air)... Thị trấn tuy nhỏ hẹp nhưng
có đủ khách sạn, hàng ăn, cửa hàng buôn bán kể cả cơ sở lo
dịch vụ Internet. Ngoài ra c̣n có một sân bay nối liền với
kinh dô Népal là Kathmandu. Trong khu vực Lâm Tỳ Ni c̣n một di
tích lịch sử cũng quan trọng, đó là Hồ Pushkarni, tương
truyền là nơi Hoàng Hậu Maya đă tắm trước khi sinh Thái Tử Tất
Đạt Đa. Hồ được trùng tu vào năm 1933 h́nh vuông nhưng theo
truyền thuyết nguyên thủy có h́nh tṛn hoặc chữ nhật.. Trong
khu vực này, khang trang hơn hết là ngôi chùa của Trung Cộng
xây theo mô h́nh Thiếu Lâm Tự với kinh phí hơn 5 triệu đô la,
trong đó tại Bồ Đề Đạo Tràng, chùa Phật của Trung Cộng rất
khiêm tốn. Điều này đă nói lên Trung Cộng chỉ phô trương chính
trị, v́ bang giao giữa Ấn-Trung chỉ ngoại giao, trong lúc
tại Népal, cọng sản theo Maoit.
4-NƯỚC PHẬT TRÊN ĐẤT ÂU CHẬU :
Tại Âu Châu, chính những nhà truyền giáo theo chân các đoàn
quân viễn chinh Anh, Pháp, Bồ, Y Pha Nho, Ḥa Lan..là các nhân
vật đầu tiên tiếp xúc với Phật Giáo Á Châu., từ thế kỷ thứ
XIII nhưng chính Triết Gia Pháp là Eugène Burnouf (1801-1852),
được đánh giá là người Âu đầu tiên có công tŕnh nghiên cứu
Phật giáo một cách nghiêm túc đứng đắn của một học giả, qua
các bản kinh Phật gốc viết bằng các cổ ngữ Ấn như Pali,
Sanskrit, Tây Tạng... Về sau có rất nhiều học giả lỗi lạc,
tiếp tục các công tŕnh nghiên cứu quy mô hơn nhưng họ vẫn
đánh giá cao tác phẩm mở đường vào Phật giáo của Burnouf.
Nhưng chỉ mấy chục năm sau, Âu Châu đă nở rộ phong trào nghiên
cứu các tông phái Phật giáo đương thời, gồm các học giả, trí
thức trong ba trường chính, thuộc các nước Anh-Đức (chuyên về
kinh tạng Pali), Pháp-Bỉ ( về PG Ấn qua tiếng Sanskrit và PG
Trung Hoa-Tây Tang) và Nga (PG Ấn-Trung và các quốc gia Á Châu).
Năm 1819, triết gia Đức Arthur Schopenhauer (1788-1860) qua
tác phẩm ‘thế giới là ư chí và biểu tượng’, đă tạo một ảnh
hưởng sâu sắc tại Âu Châu, qua phong trào cổ xuư PG Âu Châu
trong suốt thời gian đầu của thế kỷ XX. Rồi th́ K.E Neumann(Bỉ),
George Grimm vàPAUL Dahlke (Đức), Edwin Arnold (Anh)..đưa Phật
giáo từ một học thuyết nghiên cứu, trở thành một tôn giáo
đương thời. Năm 1901 Thượng Tọa Nyanatiloka đă xây dựng một tu
viện tại Tích Lan, để đào tạo các vị tu sĩ Âu Tây. Cũng từ
đó, mà bắt đầu là PG nguyên thủy và kinh tạng tiếng Pali được
phổ quát rộng răi khắp nơi nhưng phải đợi tới năm 1960, giai
đoạn Phật giáo phổ cập, chính thức thu hút nhiều tín đồ trong
mọi giai cấp. Từ sau năm 1975 tới nay, cho thấy rơ sự chuyển
hướng của PG tại Âu Châu, phần lớn là do một số tín đồ PG là
người tị nạn cọng sản tại các nước và trên hết là công lao
hoằng pháp của các vị Đại Sư Nhật, Tây Tạng, Nam Á và chính
những Thượng Tọa, Tu Sĩ người Âu. Đặc điểm của PG Âu Châu là
thực hành tu tŕ hơn là bàn cải lư thuyết suông. Tóm lại PG
đối với họ là một phương tiện, để chuyển hóa đời sống tinh
thẩn hữu hiệu và thiết thực, đối với đa số người Âu Tây sống
trong cuộc xô bồ vật chất.
** SAMYELING, TU VIỆN PHẬT GIÁO ĐẶC BIỆT TẠI SCOTLAND :
Năm 1995, tu viện PG Đại Thừa Samyeling của người Scotland,
nằm về phía tây thành phố Lockerbie, trên đảo Holy Island, kỷ
niệm năm thứ 25 thành lập. Tu viện ngoài việc tu luyện và
chiêm bái Phật pháp, c̣n giúp cho nhiều thành phần trong xă
hội làm lại cuộc đời như cai nghiện ma túy hoặc chuyển đổi
cuộc sống sa đoạ thành người lương thiện. Đây cũng là một sự
lạ lùng v́ ai cũng biết người Anh, Ái, Scotlad rất bảo thủ,
bao đời chỉ có đạo Thiên Chúa, Tin Lành hay Anh giáo..nay bỗng
dưng hoan hỉ đón nhận một tôn giáo ngay trên đất nước ḿnh.
Từ một khu trại bỏ hoang của công ty Johnstone House Trust
của người Anh bán lại năm 1963, hai Đại sư tị nạn cọng sản Tây
Tạng là Trungpa Tulku và tiến sĩ Akong Tulku Rinpoche, đă bỏ
tiền bạc cũng như công sức, biến thành một Trung tâm PG Đại
Thùa theo kiểu Tây Tạng, vừa là chốn tu hành, đồng thời cũng
là một tu viện nổi tiếng hiện nay. Nhiều người Âu giàu có đă
giúp đỡ nhà chùa xây dựng các cơ sở từ thiện như pḥng dạy mỹ
thuật, dạy cách chữa bệnh theo phương pháp cổ truyền, lập vườn
trồng các cây thuốc Đông phương và chửa bệnh miễn phí.. Đặc
biệt ở đây không bắt buộc mọi người phải theo hay tu đao Phật,
sau một năm thụ huấn tại Trung tâm. Ngày nay ai tới chốn này,
trước cảnh trời mây non nước muôn trùng, cũng bổng thấy ḿnh
khác nào những cánh chim bay, những áng mây trắng và chớp mắt
tất cả, ta cũng như đời cùng khuất dần trong cơi xa mù.
Hơn mấy ngàn năm trước, Phật Tổ Như Lai trong lúc xuôi ngược
t́m chân lư trên ḍng sông thiêng của đất nước, qua lớp cát
phù trầm, đă sớm nghỉ tới bể khổ của cuộc đời, thật ‘Hằng Hà
Sa Số‘. Chí lư thay về một khái niệm so sánh, giữa cái khổ của
đời và cái nhiều như cát sông Hằng, như vậy biết lấy ǵ để mà
trang trải, họa chăng chỉ có tu niệm và thành khẩn, để cho
ḷng nhẹ tếch theo gió, họa chăng mới thoát được bể khổ cuộc
đời.
Xưa nay con người lúc nào cũng mơ mộng t́m kiếm sự bất tử. Mới
đây người Mỹ đă tuyên bố t́m ra rồi, khi tiến được hai bước
quan trọng trong việc thực hiện giấc mơ trên, đó là sự lấy ra
và làm đông lạnh tế bào tinh hoàn, mà các nhà kho học gọi là
sự bất tử bằng sinh học.
Câu chuyện làm ta nhớ lời Phật dạy : ’trong lúc tịnh tâm, nghĩ
về điều thiện, điều lành, th́ sẽ giúp cho con người sống khoẻ,
sống vui. C̣n nếu cứ nghĩ tới cái xấu, điều ác, lập tức tim co
thắt, máu lên cao và có thể quỵ‘ Đó chính là quán chiếu bát
nhă sâu xa, có thể độ nhất thiết khổ ách. Phật nghĩ vậy nên
trên 2500 qua đă trường sanh bất tử mà không cần phải t́m
kiếm sự khổ lụy -/-
Xóm Cồn
Mùa Phật Đản 2006 – Phật lich 2550
MƯỜNG GIANG
MƯỜNG GIANG - Viết tặng
Mai Minh – Vơ Đ́nh Dược – Khai Trinh – Cát Biển – Nguyễn thi
Dung Và Nguyễn Văn Đồng (Na Uy)
Từ miền Nam nước Népal, dưới chân rặng Hy Mă Lạp Sơn cao
ngất, là quê hương ngàn đời của Dân Tộc Sakya chuyên sống bằng
nông nghiệp.
Theo sử liệu nói về tiểu sử của Thái Tử Siddhartha, tức Đức
Phật Tổ, người sáng lập Phật Giáo, th́ đây là sinh quán của
Đức Phật. Năm đó, thân mẫu Ngài, Hoàng Hậu Maya đă 45 tuổi
mới mang thai Ngài. Trên đường trở về quê nhà, đă hạ sanh Đức
Phật tại vườn Lâm T́ Ni, từ nách phải. Ta biết xă hội Ấn Độ
thời thượng cổ, theo chế độ đẳng cấp rất nghiệm ngặt. Theo
đó, giai cấp thượng đẳng, được dành cho các giới tăng lữ Bà
La Môn, từ Trời sinh ra, gọi là Bràhinana. Kế đó là đẳng cấp
Chiến Sĩ hay Quư Tộc cầm quyền, gọi là Kshatriya, sinh ra từ
bên sườn. Ngoài ra c̣n có đẳng cấp Vaishya (thương nhân-địa
chủ) sinh ra từ bụng và áp chót là Shùdra (thợ thuyền-công
nhân-tôi tớ), từ đáy bàn chân. Việc Đức Phật sinh ra từ nách
phải, không phải là sự ngẫu nhiên nhưng hàm ư cho biết Ngài
thuộc một đẳng cấp cao quư trong xă hội Ấn Độ lúc đó.
Hiện nay thành phố Kapilavastu không c̣n nữa và quê hương của
Đức Phật Tổ cũng bị xóa tên trên bản đồ thế giới. Phần lớn
lănh thổ của Dân Tộc Sakya nay thuộc nước Népal, số c̣n lại
nằm ở biên giới Ấn Độ. Nhưng mấy ngàn năm qua, vết chân của
Thái Tử Tất Đạt Đa hầu như vẫn nguyên vẹn khắp hai miền Đại
Giang nước Ấn. Tại Magada c̣n di tích Linh Tựu Sơn, trên
một ngọn núi có h́nh dáng như một con chim Tựu. Đây là thánh
địa nổi tiếng của Phật Giáo mà thuở sinh thời Đức Phật đă tới
truyền đạo và qui tụ hơn 1220 đệ tử của Phật.
Riêng Hằng Hà, muôn đời với nước Ấn, được coi như con sông
thiêng bất tử. Sông phát nguồn từ hai nhánh trên đỉnh Hy Mă
Lạp Sơn, sau đó băng qua hơn 2500 cây số và ra biển khơi tại
vịnh Bangal. Đây là cái nôi của nền văn hóa Ấn Độ, v́ thế hai
bên bờ có rất nhiều thánh địa của mọi tôn giáo. Đây cũng là
phạm vi truyền giáo của Đức Phật, cho nên thế nhân đă so sánh
tư tưởng nhà Phật như nước sông Hằng, nguồn xa, van dặm, nước
chảy không ngừng, có đến tận chỗ mới thấy chí lư. Thật vậy,
sông Hằng đối với người Ấn, hầu như đa số khi ra đời, đều t́m
đủ mọi cách cho được tắm gội trên ḍng sông. Đến khi qua phần,
th́ lại mong được hỏa táng thi thể và đem tro cốt phóng vào
trong sông nước muôn trùng. Đức Phật Thích Ca trong khi xuất
gia cũng đă trải qua nhiều phương cách, trong đó có nhiều năm
hành xác khổ hạnh và cuối cùng đă ngộ.
Nơi đó, nay gọi là bến Ni Liên Thiền, nơi Phật tắm gội tẩy
trần và được một bé gái mục đồng bố thí cho một bát sữa ḅ.
Chỗ bố thí này, ngày nay là một thánh đường Ấn Độ Giáo. Ngay
chiều đó, Ngài qua sông và đến tọa dưới gốc một cây Bồ Đề,
thuộc vùng núi Caya, với tâm nguyện ‘không Chính Giáo, sẽ
không bao giờ đứng dây‘. Cỏ ngày xưa, Phật trải để ngồi, được
gọi là Kim Cương Ṭa, c̣n ngôi Tháp cao lớn uy nghi kế đó,
cũng là Thánh Địa của Phật Giáo, được gọi là Đại Tháp Bồ Đề
Caya. Ngày đắc đạo, Đức Phật trở lại thành Madaga và được nhà
vua tặng Trúc Lâm Tịnh Xá, cũng chính là Ngôi Chùa đầu tiên
của Đạo Phật nhưng Trung Tâm Thuyết Pháp đương thời lại là Kỳ
Viên Tịnh Xá, ngày nay di tích này chỉ c̣n lại có một Đại
Phật Tháp hư phế, đứng cheo leo cô độc, trên một đỉnh núi cao
chừng 100m. Năm 35 tuổi, Đức Phật ngộ đạo và bắt đầu sự
nghiệp truyền giáo.
Từ đó gót chân của Ngài gần như giẫm nát từ Lộc Dă Uyển Tự
Miếu, ở ngoại ô thành phố Varasani (nay là Bénares), thu lại 5
đại đệ tử đầu tiên và những thánh tăng này về sau trở thành
những Tăng Già sớm nhất trong Phật Giáo. Ngày Thánh Tăng Đại
Đường Trần Huyền Trang, tức Tam Tạng đến tham quan Lộc Dă
Uyển, th́ nơi đó đang có 1500 tăng lữ theo học. Năm 80 tuổi,
sau 45 năm truyền đạo, Đức Phật đă viên tịch tại Thành
Kusinàrà, bên cạnh đệ tử là Canan. Ngày nay khu rừng nơi Phật
tịch, gọi là Niết Bàn Đường. Nhân mùa Phật Đản 20045, theo
vết chân Đức Phật thăm lại những nơi chốn ngày xưa, nay đă trở
thành những địa danh nổi tiếng, gắn liền với một tôn giáo hoàn
cầu cũng là một nền văn hóa tuyệt diệu.
1-T̀M VỀ NGUỒN GỐC CỦA BỤT-PHẬT VÀ CHỮ VẠN :
Hai nhà nghiên cứu Đinh Gia Khánh và Chu Xuân Diên, khi phân
tích hai danh từ Bụt và Phật, đă viết rằng, ‘Bụt và Phật‘ phản
ảnh hai con đường của Đạo Phật, từ Ấn Độ du nhập vào Việt
Nam. Bụt phiên âm từ chữ Phạn ‘Buddha’, nên coi như trực tiếp
từ Ấn Độ. C̣n danh từ Phật, th́ bắt nguồn từ Hán Việt, nên
coi như gián tiếp ở Trung Hoa sang. C̣n hai tác giả Thích
Minh Châu và Minh Chí, lại viết rằng, Bụt và Phật đều có
nghĩa giống nhau nhưng Bụt là từ ngữ dân gian, c̣n Phật là
danh từ bác học. Hai tác giả này c̣n căn cứ vào danh từ Bụt
để chứng minh là đạo Phật truyền vào nước Nam trước khi sang
nước Tàu.
Theo từ nguyên, ta biết hai danh từ Bụt và Phật, đều là những
h́nh thức phiên âm của Phạn ngữ (sanakrit) ‘Buddha’, được
người Hán phiên âm ra nhiều cách và chúng ta đọc theo âm Hán
Việt là Phật Đà, Phật Đồ, Phù Đồ hay Phật... Riêng chữ Bụt
cũng là Phật nhưng đọc theo âm Hán Việt xưa. Tóm lại cả hai
danh từ Bụt và Phật đều là chữ Hán Việt, chỉ khác một đằng
đọc theo âm xưa (Bụt), c̣n một cách đọc theo nay (Phật), chứ
không phải khác biệt, v́ con đường du nhập hay tính cách b́nh
dân hoặc bác học.
Ngày xưa, trong khi phiên âm các tiếng từ Phạn ngữ sang Hán
học, họ hay chọn các danh từ có lối phát âm rất gần với từ
nguyên (âm gốc) như Bụt th́ đọc gần tương ứng với Buddha.
Trái lại ngày nay chữ Phật đọc lên rất khác biệt với âm Bud,
nguyên do được giải thích, v́ sự biến đổi của ngữ âm qua nhiều
giai đoạn. Nói chung Bụt và Phật là hai cách đọc khác nhau của
cùng một chữ Hán, phiên âm âm tiết của danh từ Sanskrit
Buddha. Do trên không thể vin vào đó mà kết luận rằng Đạo Phật
đă tới VN trước khi du nhập Trung Hoa.
Riêng chữ Vạn trong Phật giáo, được coi như Tiêu Chí Cát Tường.
Đó là 1 trong 32 tướng của Phật. Ngoài ra trong các h́nh thức
kiến trúc chùa chiền hay các vật dụng thuộc về Phật giáo, chữ
Vạn luôn là biểu tương của các h́nh vẽ hay trang trí. Nói
chung, đó là nét đặc trưng của nền văn hóa đạo Phật... Giống
như cách giải thích về hai danh từ Bụt và Phật, cách phát âm
của chữ Vạn cũng đă từng gây tranh căi nhiều thời trong lịch
sử học thuật tại Trung Hoa. Thời Bắc Ngụy, Phổ Đề Lưu Kỳ đă
dịch biểu tượng của Phật là Vạn, trong tác phẩm ‘Thập Địa
Kinh Luận‘ nhưng sau đó thời Đại Đường, các Thánh tăng như
Cưu Ma La Thập, Huyền Trang... trong các tác phẩm như
Nghiêm Hoa Kinh, Vô Lượng Nghĩa Kinh... đều dịch chữ Vạn là
Đức.
Ai vũng biết tại Ấn Độ, hầu như các kinh điển cơ bản, khởi
nguồn của Phật giáo gần như bị tiêu hủy, không c̣n nguyên vẹn,
cho nên người sau đă không thể căn cứ để chứng nhận là Giới
Phật Học lúc đó, đă đọc biểu tượng của Phật là ǵ. Chữ Vạn
hiện nay, theo cách mà chúng ta đang đọc. Qua sử liệu cho thấy
đă căn cứ theo tài liệu phiên dịch từ thời nhà Tống. Ta biết,
Phật giáo từ Ấn Độ du nhập vào Trung Hoa cũng như mọi nơi trên
thế giới và dĩ nhiên chữ Vạn cũng là độc sáng của giới tăng
già Ấn Độ. Thế nhưng trên thực té, ai là tác giả của chữ Vạn,
đă có nhiều tranh chấp phức tạp và chiến trường chữ nghĩa này,
đă khởi nguồn ngay từ đời nhà Tống. Sự tranh chấp khởi đầu,
khi các tăng nhân trong lúc phiên dịch bổ túc bộ ‘Danh Nghĩa
Tập‘ đă ghi chú chữ Vạn, với nghĩa là ‘Cát Tường Vạn Đức‘ và
khẳng định tác giả chữ này, là Vơ Tắc Thiên, đă sáng chế vào
năm Trường Thọ thứ 2, khi cướp ngôi nhà Đường đổi thành nhà
Châu. Dĩ nhiên giả thuyết này đă bị đánh đổ ngay lúc đó, v́
thực tế thiếu các minh chứng khoa học và trên hết chữ Vạn đă
có mặt hầu hết trong các kinh điển, khi Phật giáo du nhập vào
Trung Hoa, trước khi Vơ Tắc Thiên chào đời.
Sóng gió lại nổi lên, vào năm 1980 tại huyện Dân Ḥa, tỉnh
Thanh Hải bên Tàu, các nhà khảo cổ đă khai quật được một b́nh
gốm sứ cổ cao, chung quanh có vẽ bốn chữ Vạn bằng nét nghiêng,
có ṿng tṛn bên ngoài. Qua nghiên cứu cùng phỏng đoàn, chiếc
b́nh này ra đời vào thời kỳ Đồ Đá Mới, cách đây chừng 6 tới
7000 năm. Sự trùng hợp trên, cũng đă được t́m thấy nhiều văn
vật, cũng thuộc thời kỳ Đồ Đá Mới, ở Cam Túc, Thanh Hải, Mông
Cổ, Quảng Đông và đặc biệt trong một ngôi mộ cổ thời Chiến
Quốc, cũng có nhiều tiêu chí, khắc h́nh các thiên thể bằng chữ
Vạn, và chua đó là ngôi sao Chổi. Dù tŕnh độ về hội họa có
khác biệt nhưng nói chung mô h́nh của chữ Vạn thi giống nhau
như khuôn đúc. Điều này, cho thấy những cổ dân ở Trung Hoa, đă
sử dụng phù hiệu của Chữ Vạn, trước khi Phật giáo từ Ấn Độ du
nhập vào đất nước này.
Nhưng đồng thời tại nhiều nơi trên thế giới, phù hiệu Chữ Vạn
cũng được các học giả t́m thấy trong nhiều di chí cổ tại Hy
Lạp, Ba Tư và Ấn Độ. Do trên người ta đă lập luận rằng, chữ
Vạn là một loại kư hiệu, phù chú hay là biểu tượng của một nền
văn minh cổ, thờ Lửa và Mặt Trời. Điều kỳ lạ là h́nh thức chữ
Vạn, từ mọi nơi trên thế giới đều giống nhau. Điều trên đă
khiến cho bí ẩn của biểu tượng trên càng lúc càng trở nên bí
mật và do thế, chẳng ai nhịn ai về tác quyền của chữ này.
2-RƯỚC XÁ LỢI PHẬT TỪ TÂY AN TỚI ĐÀI LOAN :
Tại chùa Pháp Môn ở cố đô Tây An (Trựng An) Trung Hoa, đă lưu
giữ được ‘Xa Lợi Phật Chỉ‘, là di cốt ngón tay của Đức Thích
Ca Mâu Ni. Đây là kỳ quan thứ chin trên thế giới, có lịch sử
hơn 2500 năm, được Trung Hoa xem như là báu vật của nước ḿnh.
Ngày mồng tám tháng tư năm 1987, đúng vào ngày Đản sinh Đức
Phật Thích Ca, lúc đó chùa Pháp Mông cũng đang trùng tu lại
Bảo Tháp, nên t́nh cờ mới khám phá được một Địa cung của
chùa. Sau đó cũng trong năm 1987, Đội khảo cổ thuộc Cục Văn
Vật, tỉnh Thiểm Tây đến khai quật Địa Cung, nhờ vậy Xá Lợi
Phật mới tái hiện với nhân thế, sau hơn 1100 năm, bị nhà Đường
bí mật niêm phong và cất giữ dưới ḷng đất.
Theo sử liệu được Tuần San Châu Á trích dẫn, ta biết các vị
Hoàng Đế nhà Đường rất sùng đạo Phật. Chùa Pháp Môn được xây
dựng tại kinh đô Trường An, chẳng những là một tu viện của
Hoàng Gia, mà c̣n là Thánh địa của Phật giáo lúc đó. Năm 873
vua Đường Hi Tông dời Xá Lợi Phật về chùa Pháp Môn và ban lệnh
niêm phong táng dưới Địa Cung của một Bảo tháp trong chùa từ
đó. Trước đó, vua Đường Hiến Tông, trong khi trị v́ đă bảy lần
tổ chức cung nghinh Phật Cốt từ Lạc Dương về Trường An. Việc
làm trên đă bị Hàn Dũ cực lực phản đối.. V́ yêu tài một văn
hào, nhà vua chỉ đầy ông ta tới Triều Châu mà thôi.
Năm 1989, Pháp sư Tịnh Vân thuộc Hội Phật Quang Sơn Đài Loan,
nhân chuyến về Hoa Lục thăm quê, đă cùng một phái đoàn tới
chùa Pháp Môn, chiêm bái di cốt thật của Đức Phật. Trở về Đài
Loan, tháng 6-2000 nhà sư đă viết thư cho Lư Ngọc Linh, Hội
trưởng Hội từ thiện người Mỹ gốc Hoa, đồng thời cũng cậy nhờ
Liễu Chính Hào, Bộ trưởng Pháp Vụ Đài Loan, can thiệp với
Trung Cộng, rước Xá Lợi Chỉ từ Tây An sang Đài Loan, để Phật
tử được chiêm bái. Thỉnh nguyện trên đă được, Chủ tịch Trung
Cộng là Giang Trạch Dân đồng ư, cho phép rước Xá Lợi Phật từ
Tây An sang Đài Loan một thời gian.
Do trên ngày 21-2-2002, nhằm ngày mồng mười tháng giêng năm
Nhâm Ngọ, một Ủy Ban Phật Pháp Đài Loan, đông tới 300 người,
đă sang Hoa Lục để cung đón Xá Lợi Phật. Chiều ngày 22, chùa
Pháp Môn-Tây An đă tổ chức lể Cung Tống Xa Lợi Phật. Trong
buổi lễ, có tới 40 vị Pháp sư và hơn 600 vị Cao tăng, Đại Đức,
Cư sĩ của hai phía tham dự, hành lễ cực kỳ trang trọng.
Qua tường thuật của nhà báo Tăng Tịnh Y, cũng là người giới
thiệu chương tŕnh của Đài Phượng Hoàng, đăng trên Tuần san
Châu Á số ra ngày 10-3-2002. Theo đó, ta biết máy bay của
Hăng Càng Long-Hồng Kông phụ trách vận tống ‘Xá Lợi Phật Chỉ’
từ Tây An tới Đài Loan vào ngày 23-2-2002. Riêng Đài truyền
h́nh Phượng Hoàng-Hồng Kông, được giao nhiệm vụ, truyền h́nh
trực tiếp, suốt cuộc hành tŕnh rước Xá Lợi Phật. Máy bay khởi
hành từ 9 giờ sáng ngày 23-2-2002 tại phi trường Hàm
Dương-Trung Quốc, ngừng lại sân bay Hồng Kông tượng trưng 45
phút, sau đó tiếp tục bay và đúng 1 giờ 30 phút chiều cùng
ngày, đáp xuống sân bay Trung Chính-Đài Bắc-Đài Loan.
Theo lời nhà báo họ Tăng, th́ trong mấy tháng qua tại cố đô
Tây An, trời gần như bị hạn hán không có một giọt mưa. Nhưng
kỳ diệu thay, sau khi lễ cung Tống Xá Lợi chấm dứt, th́ trời
đất nổi mưa như trút nước. Người trong thành Tây An, cho rằng
đó là nước Cam Lồ. Theo Pháp sư Măn Liên, Phân viện trưởng Hội
Phật Quang Sơn Đài Loan tại Hồng Kông cho biết, v́ hai nước
Trung Cộng-Đài Loan chưa có bang giao, nên hàng không của hai
phiá không thể qua lại được, v́ vậy hàng hàng không Càng Long
của Hồng Kông phải đảm trách. Đào Truật Nhân, Phó Hội trưởng
Hiệp Hội Phật Giáo Trung Quốc, cũng là Phó Trưởng đoàn hộ tống
Xá Lợi Phật, cho biết v́ lư do bảo vệ, nên từ khi Xá Lợi Phật
được đem từ Điạ cung lên, được Nhà Nước Trung Cộng cất giữ
Linh Cốt Phật, trong một Ngân Hàng vàng tại Tây An. Ngày 22 Xá
Lợi Phật đưọc thỉnh về chùa Pháp Môn và ngay trong đêm, linh
cốt Phật được đem gắn vào một chiếc hộp thủy tinh, có thể
chống được đạn. Hộp được đặt giữa một kim tháp, cũng là một
văn vật, được chọn lựa trong hàng ngàn báu vật của Kho Báu Vật
tại Cố Cung Bắc Kinh.
Có hơn 100.000 người chờ sẵn tại sân bay, để cung nghinh Linh
cốt Phật. Tất cả Đài Bắc hôm đó, hầu như chỉ có một màu vàng
cờ Phật. Nhiều nhà đặt bàn thờ ở hai bên lộ, trên tuyến đường
rước Phật Xá Lợi Ch́ ngang qua. Tất cả mọi người vẫy cờ Phật,
chắp tay chiêm bái. Cảnh tượng đúng như lời b́nh của Tuần San
Châu Á : ’Tín ngưỡng tôn giáo, đă vượt qua những phân kỳ chính
trị‘ Và đúng như nhà Phật đă nói : ’Nhân duyên câu túc‘. Đây
là lần đầu tiên, trong bao nhiêu năm ngăn cách, có một sự giao
lưu giữa eo biển Đài Loan. Như nước tự chảy về sông biển, Linh
Cốt của Đức Phật cũng nhờ ḍng nước xuôi buồm từ chốn ngàn
trùng tới Dài Bắc. Đó không phải là sự linh ứng của Phật hay
sao ?
3-HÀNH HƯƠNG XỨ PHẬT MIỀN THIÊN TRÚC :
Bang Bihar nằm về phía đông bắc Ấn Độ, có diện tích bằng nữa
VN nhưng dân số lên tới 90 triệu người. Đây là bang được xem
như nghèo nhất của nước này v́ khí hậu khô hạn và bất thường,
không thích hợp với một quốc gia sống chủ yếu bằng nông nghiệp.
Tại biên giới Ấn-Népal dưới chân rặng Hy Mă Lạp Sơn, cách
Bihar chừng 300 km về phía bắc, có thánh địa Lâm Tỳ Ni (Lumbini)
nơi ra đời của Đức Phật Thích Ca. Riêng tại bang Binar từ lâu
đă nổi tiếng khắp thế giới, v́ có tới ba thánh địa của Phật
Giáo như Bodh Gaya (Bồ Đề Đạo Tràng) là nơi mà 2500 trước đây,
Đức Phật Thích Ca đă đắc đạo dưới cội bồ đề. Thành Kushinagar
(Câu Thị Na) nơi Phật nhập niết bàn và Vườn Lộc Uyển (Sarnath)
là chốn mà Đức Phật thuyết pháp lần đầu tiên, sau khi đắc đạo.
Tuy mang tiếng là quê hương của Đức Phật và là vùng đất có
nhiều Thánh Địa – Thánh Tích, Thiền Viện quan trọng và nổi
tiếng nhất thế giới nhưng tới nay, số tín đồ Phật Giáo tại hai
nước Népal-Ấn Độ, chỉ chiếm một tỉ lệ quá thấp, không vượt quá
2%.
** BỒ ĐỀ ĐẠO TRÀNG (BODH GAYA) :
Tuy không phải là thủ phủ của bang Bihar (Patna) mà chỉ là một
quận nhưng Gaya lại được cả thế giới biết tới qua du lịch,
hành hương tại ba thánh địa của Phật giáo. Từ năm 2003, Gaya
đă có một phi trường quốc tế nhưng do giá vé rất mắc mơ, nên
hàng tuần, chỉ có một chuyến bay thẳng của Hăng Hàng Không Ấn
Độ, từ Bangkok tới Gaya.
Bồ Đề Đạo Tràng hiện nay là một thánh địa lớn nhất của Phật
Giáo, hằng năm thu hút hàng triệu khách hành hương, du lịch,
không riêng ǵ Á Châu mà có cả Âu-Mỹ-Phi-Úc... t́m tới đây để
tận mắt chiêm ngưỡng các di tích xa xưa của một trong những
nền văn hóa lớn nhất của hoàn cầu. Thánh tích ngày nay nằm
cách khu phố cổ Gaya chừng 12 km về hướng bắc và thủ phủ Patna
của bang Bihar khoảng 106 cây số. Dù chỉ là một thị trấn nhỏ
nhưng Bodh Gaya rất nhộn nhịp và đầy đủ tiện nghi, từ nhà bưu
điện, ngân hàng, khách sạn, chợ buá, các công ty du lịch..cho
tới những cơ sở dịch vụ Internet. Do thời tiết khắc nghiệt
trong vùng, nóng quá độ c̣n lạng th́ chết người, nên Hành
Hương-Du Lịch chỉ nở rộ từ tháng 10-2 mà thôi.
Bồ Đề Đạo Tràng tới nay la một địa danh đă có bề dầy lịch sử
hơn 2500 năm. Đây là khoảng không gian rộng lớn, liên quan mật
thiết tới cuộc đời tu và hành đạo của Đức Phật, từ khi Ngài
quyết định, từ bỏ lối tu hành xác của các giáo sĩ Bà La Môn,
tới khi giác ngộ được chân lư dưới cội bồ đề. Theo tiến sĩ sử
học người Ấn là D.C.Ahir, th́ chính Đại Đế Ashoka (A Dục) là
người đă khai sinh ra thánh địa nổi tiếng này vào năm 259
trước tây lịch, sau một lần tới hành lễ. Từ đó trong suốt
1500 năm, nơi này đă thu hút không biết bao nhiêu là khách
hành hương. Năm 250 trước TL, chính Ngài đă cho xây ngôi đền
thờ Phật đầu tiên tại thánh địa. Hiện nay c̣n lưu lại nhiều di
tích quan trọng tại chỗ như Tháp Đại Giác, Cội Bồ Đề, Kim
Cương Toà, ḍng sông Ni Liên cùng với một số di tích liên
quan tới bảy ‘tuần thất’ của Đức Phật sau khi giác ngộ. Nhờ
những đồng tiền vàng chôn quanh quẩn khu vực, có ghi niên lịch
nên các nhà khảo cổ đă xác định được thời gian xây cất. Nói
chung thánh tích hiện c̣n tồn tại, tất cả hầu như đều đă trải
qua nhiều lần bị tàn phá, rồi trùng tu dưới nhiều triều vua
chúa Ấn Độ.
Cũng theo tài liệu dẫn trên, ta biết chính vua Brahmin của xứ
Bengal, v́ kỳ thị Phật giáo, nên vào năm 600 sau TL, đă ra
lệnh hủy hoại tất cả đền tháp ở vùng nay, kể cả cây bồ đề
nguyên thủy mà Đức Phật đă thiền định. Nhưng năm 620 sau TL,
một vị vua sùng đạo Phật tên Raja Purna Varmar đă cho trồng
lại cây bồ đề từ một cây con, xây lại bửu tháp và xây tường
cao 7m để bảo vệ. Về sau, thánh địa lại nhiều lần bị người Hồi
và Bà La Môn đốt phá, cuối cùng suy tàn theo đạo Phật trên đất
Ấn từ thế kỷ 13 sau TL.
Năm 1811, tiến sĩ Buchanan Hamilton, một nhà khảo cổ người
Anh, đă phát hiện ra Tháp Đại Giác tại Bồ Đề Đạo Tràng, trong
t́nh trạng đổ nát. Nhưng nhờ một nhà khảo cổ nổi tiếng của
thế giới là Cunningham, vào năm 1871 đă vận động với thế giới,
trùng tu và làm sống lại Thánh địa của Phật Giáo. Cũng từ đó,
Bồ Đề Đạo Tràng được người Ấn Độ giáo điều hành. Chính nhà
khảo cổ trên, đả chiết một cây bồ đề con từ gốc bồ đề nguyên
thủy trồng tại Tích Lan, đem về trồng ở Bồ Đề Đạo Tràng và đă
tồn tại tới ngày nay. Năm 1949 Ấn được độc lập nên Thánh Địa
lại do bang Bihar quản trị. Năm 1952, chính phủ Liên Bang Ấn
mới chính thức thành lập một Ủy Ban Quản Trị (gồm 4 tu sĩ
Phật và 4 tu sĩ Ấn giáo), điều hành và trách nhiệm ǵn giữ
bảo vệ các di tích lịch sử trên. Tháng 6-2002 cơ quan Unesco
chính thức thừa nhận Tháp Đại Giác là một kỳ quan của nhân
loại.
Bodh Gaya hiện tại, không khác ǵ một Liên Hiệp Quốc Phật
giáo, v́ đă có rất nhiều chùa chiền đủ quốc tịch Nhật Bản,
Trung Cộng, Thái Lan, Miến Điện, Bhutan, Népal, Tây tạng, Đài
Loan, Tích Lan.. tập trung trong khu vực, quanh quẩn Tháp Đại
Giác. Năm 1987, VN Phật Quốc Tự được khởi công và hoàn thành
vào năm 2003, trên một khuôn viên rộng 3 ha, cách tháp Đại
Giác chừng 2 km.
* * LÂM TỲ NI, NƠI ĐỨC PHẬT RA ĐỜI :
Lâm Tỳ Ni thuộc quận Basti của nước Népal, nơi mà cách đây
hơn 2500 năm Đức Phật Tổ đă chào đời. Dựa theo tác phẩm ‘Lịch
sử văn minh ‘ của sử gia Will Durant, ghi lại truyền thuyết về
sự ra đời của Đức Phật, cũng như gia thế của Ngài., trong đó
có địa danh Lâm Tỳ Ni đi vào thiên cổ.
Năm 250 trước TL, hoàng đế A Dục (Ashoka), trong khi du hành
các thánh tích của Phật Môn, đă cho dựng một Bia đá và bức
tường bao quanh, ghi lại chuyến công du của ḿnh. Tại Lâm Tỳ
Ni c̣n có đền thờ của Hoàng Hầu Maya, xây dựng vào thế kỷ thứ
3 trước Tl và một bia đá, khắc họa Phật Đản Sinh. Thế kỷ thứ
7 sau TL, nhà sư Huyền Trang khi tới Thiên trúc thỉnh kinh, có
ghé thăm Lâm Tỳ Ni, ghi lại trong bút kư rằng Tr5 đá do vua A
Dục dựng vẫn c̣n nhưng đă bị hư hại theo thời gian. Sau đó
Lâm Tỳ Ni đă ch́m trong bóng tối quên lăng suốt 10 thế kỷ
biển dâu.
Năm 1895, tiến sĩ người Đức là Alois Fuhre, cũng là một nhà
khảo cổ. Trong một cuộc khai quật, đă t́m thấy Cột đá của vua
A Dục, dù bị chôn vùi trong ḷng đất bao nhiêu thế kỷ nhưng
mầu nhiệm thay, những hàng chữ Brahmi và Prakrik năm xưa vẫn
in đậm nét trên thân tru : ‘Đây là nơi sinh của Đức Phật, nên
vùng Lâm Tỳ Ni được miễn thuế, c̣n mức lợi tức th́ giảm c̣n
1/8... Tuy nhiên, dù phát hiện được một nơi chốn quan trọng
hàng đầu của Phật giáo, nhưng phương tây vẫn không giúp ǵ để
làm hồi sinh thánh tích Lâm Tỳ Ni. Năm 1967, U Thant người
Miến Điện, đắc cử chức vụ Tổng Thư Kư Liên Hiệp Quốc, tới
viếng thánh tích và sau đó kêu gọi các nước giúp đỡ, làm hồi
sinh phát triển Lâm Tỳ Ni. Kế hoạch được 13 quốc gia hưởng
ứng, trong đó có Hoa Kỳ, Nhật Bản, Đại Hàn, Ấn Độ đóng góp tài
chính và giao cho một kiến trúc sư người Nhật, là giáo sư
Kenzo Tenge thực hiện các kế hoạch xây dựng tu viện, nhà bảo
tàng, kể cả con đường dẫn tới Lâm Tỳ Ni.
Trong sự làm hồi sinh Lâm Tỳ Ni ngày nay, phải nhắc tới công
lớn của một nhà sư VN là Thượng Tọa Huyền Diệu, người khai phá
VN Phật Quốc Tự tại Bồ Đề Đạo Tràng. Chính Ông là người từ năm
1987 đă vận động với quốc vương Népal cùng Thủ Tướng nước này,
xin cấp đất dựng chùa VN, đồng thời đă đi chu du nhiều quốc
gia Phật giáo Châu Á, kêu gọi xây dựng chùa tại Lâm tỳ Ni. Do
trên tới nay, đă có 17 ngôi chùa của các nước Nhật, Đại Hàn,
Trung Cộng, Thái Lan... cũng như các Trung tâm văn hoá Phật
Giáo xây dựng tại đây. Riêng ngôi chùa VN dù nay chưa hoàn
thành, đă nằm trong một khu đất gần nơi ra đời của Đức Phật.
Tuy vậy Lâm Tỳ Ni vẫn chưa khởi sắc là một trung tâm du lịch
như Bồ Đề Đạo Tràng, dù đă có một vài khách sạn nhỏ của người
Nhật hay Tích Lan. Do trên hầu hết du khách hay khách hành
hương đều cư ngụ tại Sunauuli hay thị trấn Bhairahawa cách
Lâm Tỳ Ni chừng 20 km.
Đây là một xứ Phật duy nhất trên thế giới, v́ tất cả đều có
dính dấp tới nhà Phật, như quốc lộ Tất Đạt Đa
(Siddhartha-highway), khách sạn Niết Bàn (Nirvana hotel), hăng
hàng không Đức Phật (Buddha Air)... Thị trấn tuy nhỏ hẹp nhưng
có đủ khách sạn, hàng ăn, cửa hàng buôn bán kể cả cơ sở lo
dịch vụ Internet. Ngoài ra c̣n có một sân bay nối liền với
kinh dô Népal là Kathmandu. Trong khu vực Lâm Tỳ Ni c̣n một di
tích lịch sử cũng quan trọng, đó là Hồ Pushkarni, tương
truyền là nơi Hoàng Hậu Maya đă tắm trước khi sinh Thái Tử Tất
Đạt Đa. Hồ được trùng tu vào năm 1933 h́nh vuông nhưng theo
truyền thuyết nguyên thủy có h́nh tṛn hoặc chữ nhật.. Trong
khu vực này, khang trang hơn hết là ngôi chùa của Trung Cộng
xây theo mô h́nh Thiếu Lâm Tự với kinh phí hơn 5 triệu đô la,
trong đó tại Bồ Đề Đạo Tràng, chùa Phật của Trung Cộng rất
khiêm tốn. Điều này đă nói lên Trung Cộng chỉ phô trương chính
trị, v́ bang giao giữa Ấn-Trung chỉ ngoại giao, trong lúc
tại Népal, cọng sản theo Maoit.
4-NƯỚC PHẬT TRÊN ĐẤT ÂU CHẬU :
Tại Âu Châu, chính những nhà truyền giáo theo chân các đoàn
quân viễn chinh Anh, Pháp, Bồ, Y Pha Nho, Ḥa Lan..là các nhân
vật đầu tiên tiếp xúc với Phật Giáo Á Châu., từ thế kỷ thứ
XIII nhưng chính Triết Gia Pháp là Eugène Burnouf (1801-1852),
được đánh giá là người Âu đầu tiên có công tŕnh nghiên cứu
Phật giáo một cách nghiêm túc đứng đắn của một học giả, qua
các bản kinh Phật gốc viết bằng các cổ ngữ Ấn như Pali,
Sanskrit, Tây Tạng... Về sau có rất nhiều học giả lỗi lạc,
tiếp tục các công tŕnh nghiên cứu quy mô hơn nhưng họ vẫn
đánh giá cao tác phẩm mở đường vào Phật giáo của Burnouf.
Nhưng chỉ mấy chục năm sau, Âu Châu đă nở rộ phong trào nghiên
cứu các tông phái Phật giáo đương thời, gồm các học giả, trí
thức trong ba trường chính, thuộc các nước Anh-Đức (chuyên về
kinh tạng Pali), Pháp-Bỉ ( về PG Ấn qua tiếng Sanskrit và PG
Trung Hoa-Tây Tang) và Nga (PG Ấn-Trung và các quốc gia Á Châu).
Năm 1819, triết gia Đức Arthur Schopenhauer (1788-1860) qua
tác phẩm ‘thế giới là ư chí và biểu tượng’, đă tạo một ảnh
hưởng sâu sắc tại Âu Châu, qua phong trào cổ xuư PG Âu Châu
trong suốt thời gian đầu của thế kỷ XX. Rồi th́ K.E Neumann(Bỉ),
George Grimm vàPAUL Dahlke (Đức), Edwin Arnold (Anh)..đưa Phật
giáo từ một học thuyết nghiên cứu, trở thành một tôn giáo
đương thời. Năm 1901 Thượng Tọa Nyanatiloka đă xây dựng một tu
viện tại Tích Lan, để đào tạo các vị tu sĩ Âu Tây. Cũng từ
đó, mà bắt đầu là PG nguyên thủy và kinh tạng tiếng Pali được
phổ quát rộng răi khắp nơi nhưng phải đợi tới năm 1960, giai
đoạn Phật giáo phổ cập, chính thức thu hút nhiều tín đồ trong
mọi giai cấp. Từ sau năm 1975 tới nay, cho thấy rơ sự chuyển
hướng của PG tại Âu Châu, phần lớn là do một số tín đồ PG là
người tị nạn cọng sản tại các nước và trên hết là công lao
hoằng pháp của các vị Đại Sư Nhật, Tây Tạng, Nam Á và chính
những Thượng Tọa, Tu Sĩ người Âu. Đặc điểm của PG Âu Châu là
thực hành tu tŕ hơn là bàn cải lư thuyết suông. Tóm lại PG
đối với họ là một phương tiện, để chuyển hóa đời sống tinh
thẩn hữu hiệu và thiết thực, đối với đa số người Âu Tây sống
trong cuộc xô bồ vật chất.
** SAMYELING, TU VIỆN PHẬT GIÁO ĐẶC BIỆT TẠI SCOTLAND :
Năm 1995, tu viện PG Đại Thừa Samyeling của người Scotland,
nằm về phía tây thành phố Lockerbie, trên đảo Holy Island, kỷ
niệm năm thứ 25 thành lập. Tu viện ngoài việc tu luyện và
chiêm bái Phật pháp, c̣n giúp cho nhiều thành phần trong xă
hội làm lại cuộc đời như cai nghiện ma túy hoặc chuyển đổi
cuộc sống sa đoạ thành người lương thiện. Đây cũng là một sự
lạ lùng v́ ai cũng biết người Anh, Ái, Scotlad rất bảo thủ,
bao đời chỉ có đạo Thiên Chúa, Tin Lành hay Anh giáo..nay bỗng
dưng hoan hỉ đón nhận một tôn giáo ngay trên đất nước ḿnh.
Từ một khu trại bỏ hoang của công ty Johnstone House Trust
của người Anh bán lại năm 1963, hai Đại sư tị nạn cọng sản Tây
Tạng là Trungpa Tulku và tiến sĩ Akong Tulku Rinpoche, đă bỏ
tiền bạc cũng như công sức, biến thành một Trung tâm PG Đại
Thừa theo kiểu Tây Tạng, vừa là chốn tu hành, đồng thời cũng
là một tu viện nổi tiếng hiện nay. Nhiều người Âu giàu có đă
giúp đỡ nhà chùa xây dựng các cơ sở từ thiện như pḥng dạy mỹ
thuật, dạy cách chữa bệnh theo phương pháp cổ truyền, lập vườn
trồng các cây thuốc Đông phương và chửa bệnh miễn phí.. Đặc
biệt ở đây không bắt buộc mọi người phải theo hay tu đao Phật,
sau một năm thụ huấn tại Trung tâm. Ngày nay ai tới chốn này,
trước cảnh trời mây non nước muôn trùng, cũng bổng thấy ḿnh
khác nào những cánh chim bay, những áng mây trắng và chớp mắt
tất cả, ta cũng như đời cùng khuất dần trong cơi xa mù.
Hơn mấy ngàn năm trước, Phật Tổ Như Lai trong lúc xuôi ngược
t́m chân lư trên ḍng sông thiêng của đất nước, qua lớp cát
phù trầm, đă sớm nghỉ tới bể khổ của cuộc đời, thật ‘Hằng Hà
Sa Số‘. Chí lư thay về một khái niệm so sánh, giữa cái khổ của
đời và cái nhiều như cát sông Hằng, như vậy biết lấy ǵ để mà
trang trải, họa chăng chỉ có tu niệm và thành khẩn, để cho
ḷng nhẹ tếch theo gió, họa chăng mới thoát được bể khổ cuộc
đời.
Xưa nay con người lúc nào cũng mơ mộng t́m kiếm sự bất tử. Mới
đây người Mỹ đă tuyên bố t́m ra rồi, khi tiến được hai bước
quan trọng trong việc thực hiện giấc mơ trên, đó là sự lấy ra
và làm đông lạnh tế bào tinh hoàn, mà các nhà khoa học gọi là
sự bất tử bằng sinh học.
Câu chuyện làm ta nhớ lời Phật dạy : ’trong lúc tịnh tâm, nghĩ
về điều thiện, điều lành, th́ sẽ giúp cho con người sống khoẻ,
sống vui. C̣n nếu cứ nghĩ tới cái xấu, điều ác, lập tức tim co
thắt, máu lên cao và có thể quỵ‘ Đó chính là quán chiếu bát
nhă sâu xa, có thể độ nhất thiết khổ ách. Phật nghĩ vậy nên
trên 2500 qua đă trường sanh bất tử mà không cần phải t́m
kiếm sự khổ lụy -/-
Xóm Cồn
Mùa Phật Đản 2006 –
Phật lich 2550
MƯỜNG GIANG |