|
Bối Cảnh Xă Hội và
Tư Tưởng
Khi Đức Phật Thích
Ca Ra Đời
HT. Thích Nguyên Hiền
Bài
viết này không phải tŕnh bày vấn đề lịch sử, mà thông qua
lịch sử, xin tŕnh bày vài nhận định của ḿnh về sự ra đời
của Đức Phật. Mục đích chính là khẳng định vai tṛ, vị trí
của Đức Phật trong lịch sử tư tưởng triết học Ấn Độ cổ đại,
đồng thời nêu ra vài điểm tương tác của bối cảnh xă hội
lên giáo pháp của Đức Phật mà thôi !
Những ai đă từng nghiên cứu lịch sử với cái nh́n lăng mạn
một tư, hẳn sẽ thấy Đông Tây kim cổ, mỗi thời kỳ, mỗi địa
phương, dường như Thánh nhân Hiền triết xuất hiện từng đợt
như sao trên trời sa xuống. Khi đóng hết vai tṛ của ḿnh
giữa thế nhân, bẵng đi một thời gian, lại có một đợt sao
khác sa xuống, tiếp nối sứ mệnh dẫn đạo đời sống văn hóa
của nhân loại.
Bên
trời Tây, chúng ta chứng kiến một loạt sự ra đời của các
nhà Hiền triết cổ Hy Lạp, như Socrate, Platon, Aristote,
Diogène, Epicure, Pythagore v.v… Ảnh hưởng của các vị này
đối với mấy ngàn năm tư tưởng Tây phương vô cùng sâu đậm,
tiếp đến là sự ra đời của Jésus Christ cách đây 2000 năm.
Đến thời Trung cổ cũng có một loạt các nhà Hiền triết ra
đời, đến Descartes, Voltaire, sau đó là Hégel, Kant,
Schopenhaure, đến cận đại là Karl Marx, Nieztsche,
Heidegger, Jean Paul Satre v.v…
Bối
cảnh Triết học Đông phương nh́n chung có vẻ nhất quán hơn.
Đức Phật ra đời như một cáo chung của tư tưởng Phệ-đà, ở
Trung Quốc cùng thời xuất hiện hai trào lưu tư tưởng Lăo
Trang và Khổng Mạnh, tất cả dung hợp và làm nền tảng văn
hóa suốt mấy ngàn năm. Kỳ thực, nếu nghiên cứu kỹ, khi Đức
Phật Thích-ca ra đời, bối cảnh xă hội và triết học tại Ấn
Độ cực kỳ phức tạp.
Một
đám sao băng xuống, lớp trước lớp sau, v́ sao nào cũng có
một ảnh hưởng nhất định của nó. Do vậy, để một v́ tinh tú
có thể chói sáng và kéo dài ánh sáng của ḿnh cho cả mấy
ngàn năm tư tưởng, hẳn đó phải là một ngôi sao chói lọi,
có sức công phá mănh liệt và phải biết vận dụng sự tương
phản, tương tác của các v́ sao khác. Điều này giải thích
v́ sao trong kinh điển Phật giáo c̣n tồn đọng một số quan
niệm về thế giới và con người phảng phất quan điểm truyền
thống. Chúng ta có thể khảo sát theo từng khía cạnh.
1.
Bối cảnh xă hội khi Đức Phật ra đời
Tất
nhiên, trước hết phải xác định niên đại trước sau khi Đức
Phật ra đời, tức khoảng thế kỷ VI đến V trước Tây lịch.
Thời kỳ này lịch sử Ấn Độ có sự chuyển biến rất lớn. Các
quan hệ chính trị, văn hóa, học thuật dường như đang nằm
trong một cuộc vận động mạnh mẽ. Trước khi Đức Phật ra đời
vài trăm năm, nền văn minh Ấn Độ nằm ở các khu vực thượng
lưu sông Hằng như Kuruksetna, Pancàla, Matsya và Suracena
… Ở thời kỳ này, trong tầng lớp Bà-la-môn đă h́nh thành
quan điểm "trung quốc" mà họ gọi là Medhyadesa, tức chỉ
cho trung tâm văn hóa, chính trị quốc dân (về sau thuật
ngữ trung quốc được kinh sách Phật giáo dùng để chỉ cho
nơi có Phật pháp lưu hành). Trong khi các quốc gia ở phía
Nam và phía Đông th́ bị xem như chưa tiếp xúc được với nền
văn minh trung quốc, như các nước Kosala (Câu-tát-la),
Kase (Ca-thi), Videba (Vi-đề-ba). Riêng nước Magadha th́
từ thời kỳ A-thát-bà Phệ-đà đến Kiền-đà-la đều xem là
không có văn hóa, hạ đẳng. Đến thời đại Đức Phật ra đời
th́ cuộc vận động văn hóa đă làm cho vũ đài chính trị,
kinh tế gần như đảo lộn. Các quốc gia mạnh trước kia đă
dần suy yếu. Các thủ phủ như Savathi (Xá-vệ) thuộc
Câu-tát-la, Rajagaha (Vương-xá) thuộc Ma-ha-đà, Kosambi (Kiều-thưởng-di)
thuộc Vamsa hay Vasali (Phệ-xá-ly) thuộc Bạt-kỳ … đều trở
thành những đô thị lớn nổi tiếng. Các quốc gia này tuy ảnh
hưởng văn hóa Bà-la-môn, tuy có giống người Aryan nhưng
không phải từ trung quốc di cư đến, huyết thống của họ đă
có pha trộn nhiều chứ không thuần chủng, nên việc h́nh
thành một nền văn minh mới là điều hiển nhiên. Đặc biệt là
ở Ma-ha-đà vào thời Đức Phật, ngoài Câu-tát-la ra th́
không có một vương quốc nào cường thịnh bằng. Tương truyền
thời vua Tần-bà-sa-la, ở Ma-ha-đà đă đặt ra niên lịch
riêng (cứ 5 năm lại có 1 năm nhuần) và tất cả ngoại đạo
Bà-la-môn đều áp dụng theo. Nền văn minh này dần dần chiếm
ảnh hưởng lớn, chỉ c̣n lại sự tranh hùng giữa Câu-tát-la
và Ma-ha-đà, đến cuối thời đại Đức Phật, Ma-ha-đà đă chiếm
ưu thế rơ rệt. V́ vậy nếu căn cứ theo quan điểm lịch sử để
luận th́ ta có thể xem Phật giáo là sản phẩm của văn minh
Ma-ha-đà.
Về
thứ tự giai cấp, từ xưa Ấn Độ vẫn xem Bà-la-môn là trên
hết, kế đến là Sát-đế-lợi, Phệ-xá rồi Thủ-đà-la. Đến thời
kỳ này th́ do Đức Phật xuất hiện từ ḍng Sát-đế-lợi, thứ
tự giai cấp này cũng có phần thay đổi. Bằng chứng là trong
tư tưởng thời kỳ trước nặng về h́nh thức, tĩnh tại và
nhuốm nặng chất thi ca, h́nh nhi thượng; đến thời kỳ Đức
Phật th́ tư tưởng thực tế, năng động và thiên về h́nh nhi
hạ, gần gũi với con người hơn. Nói như một học giả người
Nhật - Kimura Taiken, nếu cho văn minh thời trước là văn
minh Bà-la-môn th́ có thể nói văn minh thời Đức Phật là
văn minh Sát-đế-lợi. Tóm lại, khi Đức Thích Tôn dựng ngọn
cờ hoằng dương Phật giáo th́ được sự thúc đẩy quan trọng
và có sự liên hệ vô cùng mật thiết với t́nh h́nh xă hội.
Đó là biểu hiện văn hóa bên ngoài. C̣n về t́nh h́nh tư
tưởng th́ sao, ta sẽ khảo sát ở một phần sau.
2.
Bối cảnh tư tưởng triết học khi Đức Phật ra đời
Không thể phủ nhận tư tưởng Bà-la-môn sâu đậm đối với nền
văn hóa Ấn Độ khoảng thế kỷ V - VI trước Công nguyên.
Nhưng dựa vào sự nứt rạn về cuộc vận động văn hóa chuyển
di vào phương Nam, chúng ta có thể thấy qua các kinh điển
hiện c̣n những trào lưu tư tưởng khác biệt về xă hội Ấn Độ
lúc bấy giờ. Thứ nhất là Bà-la-môn giáo chính thống, chủ
trương chủ nghĩa Thiên khải Phệ-đà, chủ nghĩa Bà-la-môn
chí tôn chí thượng và chủ nghĩa tế thần Vạn năng.
Bà-la-môn giáo là tôn giáo quốc dân, tuy thế lực đă suy
yếu nhưng về h́nh thức vẫn c̣n uy quyền rất lớn. Trong các
kinh điển Phật giáo hiện c̣n có nói nhiều về vị trí của
các Bà-la-môn, xem họ là những người am tường Tứ Phệ-đà
thánh điển. Đức Phật Thích-ca là người từ nhỏ cũng được
hấp thu giáo lư Phệ-đà nên Ngài cũng rất tinh thông những
nghi thức tế lễ, hẳn nhiên danh xưng các thần được tế bái
như A-kỳ-ni (thần lửa), Tô-ma (thần rượu) hay Tô-lợi-da (thần
mặt trời) vẫn c̣n được tôn sùng. Nhưng ở thời kỳ này, có
một sự biến đổi lớn là thế lực các thần được tập trung lại
và được đại biểu bằng Phạm thiên (Brahma)- vị thần sáng
lập ra thế giới. Ngoài ra c̣n có Đế Thích thiên (Sakkadevanam
Indo) làm chủ 33 tầng trời, Tứ thiên vương thủ hộ bốn
phương … Tín ngưỡng này vẫn c̣n lưu lại rải rác trong các
kinh điển Phật giáo, chúng ta sẽ bàn về những khái niệm
này trong một mục khác.
Ngoài Bà-la-môn giáo chính thống c̣n có một trào lưu tín
ngưỡng tập tục, tức không chấp chặt vào h́nh thức tín
ngưỡng của Bà-la-môn mà sùng bái nhiều loại nhân cách thần,
trong đó lấy ba thần Phạm thiên (Brahma), Tỳ-nữu-noa (Visnﵩ
và Thấp-bà (Siva) làm trung tâm và h́nh thành một hệ thống
Thần giáo. Tác phẩm đại biểu của trào lưu này là Đại Tự Sự
Thi (Mahàbharata). Theo khảo sát của người viết, tín
ngưỡng Thần giáo của thời kỳ này rất mạnh, nhưng ảnh hưởng
đối với kinh Phật th́ rất hiếm, bởi thực chất, tuy trào
lưu này c̣n tín ngưỡng tập tục, nhưng h́nh thái vẫn không
thoát khỏi Bà-la-môn giáo, trong khi những quan niệm tế tự
cũng như tư tưởng vẫn không có ǵ mới, ít tác động được
đến thượng tầng trí thức bấy giờ.
Trào lưu thứ ba diễn ra trong thời kỳ này là trào lưu
triết học, lấy Phạm thư và Áo nghĩa thư làm chủ yếu. Các
học phái Số luận, Du-già cho đến Lục đại học phái sau này
phần lớn cũng đă manh nha từ trào lưu này. Dấu ấn của họ
c̣n hiện rơ trên một số giáo lư của Đức Phật, mặc dầu đă
được hóan đổi bằng cái nh́n khoa học hơn. Chẳng hạn thuyết
Thập nhị nhân duyên, Tứ đại, Pháp, Nghiệp …, dầu có phảng
phất khí vị của Áo nghĩa thư. Ảnh hưởng của trào lưu này
đối với Phật giáo lớn hơn trào lưu thứ hai.
Trào lưu thứ tư là trào lưu phản Phệ-đà. Ba trào lưu trên
không nhiều th́ ít vẫn c̣n quan hệ với Phệ-đà. Đến trào
lưu này th́ hoàn toàn phủ nhận uy quyền của Phệ-đà, đứng
trên lập trường tự do để nghiên cứu. Đây là thời đại các
học phái đua nhau phát khởi, khoảng từ 600 đến 400 năm
trước Tây lịch, và Phật giáo cũng h́nh thành trong khoảng
thời gian này. Chúng ta thấy nhan nhản trong kinh Phật các
cuộc đối thoại của Đức Phật hoặc đệ tử của Ngài với Lục sư
ngoại đạo, hoặc bối cảnh 96 phái ngoại đạo châu tuần xung
quanh giáo lư của Phật, vô t́nh tạo thành một cuộc hùng
biện đầy quy mô qua từng đối tượng để rốt cùng ngôi sao
sáng nhất lại thu hết quang lực của các ngôi sao khác và
tạo thành một v́ tinh tú chói lọi suốt xưa sau.
Trong bối cảnh phức tạp của các trào lưu tư tưởng, trào
lưu phản Phệ-đà không phải là ít, đặc biệt lại có những
học phái có thế lực vô cùng lớn lao, đó là các đoàn Sa-môn.
Trong kinh Phật chúng ta thường nghe nói đến các Sa-môn,
Bà-la-môn, từ ngữ Sa-môn đă h́nh thành từ trước, trong đó
có những vị là bậc thầy của Đức Phật. Hàng đệ tử Phật sau
này cũng được gọi là Sa-môn (cần tức), chắc chắn là chịu
ảnh hưởng rất lớn về phong cách và h́nh thức của các bậc
thầy này, trong đó có những vị như A-la-la Ca-la-ma (Alala
kalama), Uất-đà-ca-ma tử (Uddakarama utta). Các vị này
thống lănh các giáo đoàn Sa-môn cát cứ tại các miền phụ
cận Ma-ha-đà hay Phệ-xá-li. Thành Vương-xá cũng là nơi Lục
sư ngoại đạo phát triển mạnh. Trong quá tŕnh giáo hóa của
Phật, các đoàn Sa-môn cũng dần được thu phục, như ba anh
em nhà Ca-diếp hay Ni-câu-lư-đà …
Xem
lại lịch sử Đức Phật, khi mới xuất gia, Ngài đă không đi
đến căn cứ địa của Bà-la-môn mà lại đến Phệ-xá-ly hay
Vương-xá, bởi lẽ đó là quê hương của các nhà tư tưởng mới.
Ở đó, tuy Đức Phật không nhất trí với các đoàn Sa-môn về
tư tưởng, nhưng ít nhiều đă chịu ảnh hưởng của họ. Có một
chi tiết vô cùng thú vị trong lịch sử Đức Phật mà ngày nay
ta thường đọc, là sau khi Phật thành đạo, Ngài quyết định
không thuyết pháp độ sanh. Sau có chư Phạm thiên ba lần
thưa thỉnh Ngài mới chịu chuyển pháp luân. Phạm thiên đây
là ai chúng ta không rơ, nhưng căn cứ trên truyền thuyết
kết hợp với tương quan lịch sử, rơ ràng v́ một động cơ nào
đó, Đức Phật muốn im lặng mà không thể được. Không thể
ngồi nh́n các nhà tư tưởng mới xung quanh Ma-ha-đà làm
nguy hại cho thế đạo nhân tâm. Sự xuất hiện của Đức Phật
như một nhu cầu bức thiết đối với xă hội lẫn tư tưởng Ấn
Độ đương đại. Và Đức Phật là người đă làm tṛn vai tṛ, sứ
mệnh lịch sử của ḿnh trong bàn tṛn tư tưởng bấy giờ.
Có
vài ư kiến cho rằng nguồn gốc Phật giáo xuất phát từ Áo
nghĩa thư. Điều này hẳn không đúng. Chúng ta chưa hề nghe
nhắc đến tư tưởng này trong kinh điển nhà Phật, ngoại trừ
một vài tập quán ngôn ngữ. Có chăng là tư tưởng của các
học phái cùng thời với Đức Phật đă ảnh hưởng trực tiếp đến
quá tŕnh tham thiền nhập định của Ngài, để ngày nay ta
thỉnh thoảng vẫn c̣n nghe các thuyết Vô sở hữu xứ định của
A-la-la Ca-la-ma, thuyết Phi tưởng phi phi tưởng xứ định
của Uất-đà-ca-ma-tử … Nhưng những học thuyết này sau thời
Đức Phật không thấy có sự truyền thừa, cho nên khó đoán
định là chúng có hệ thống như thế nào. Tra cứu một số từ
điển Phật học, các cảnh giới thiền định này cũng chỉ được
giải thích trên danh nghĩa mà thôi. Chỉ có phái Lục sư là
được nói rơ trong Kinh Sa-môn Quả. Và cuộc cách mạng tư
tưởng được h́nh thành rơ nét nhất từ sự dung ḥa sáu phái
triết học này.
Chúng ta có thể chứng minh thành tựu của sự dung ḥa Lục
sư ngoại đạo thành Phật giáo như thế nào sau khi khảo sát
các học phái này. Người viết không có điều kiện nghiên cứu
hết các học phái, chỉ dựa trên những ghi chép của các sách
vở hiện có - nhất là trong Phật Học Tinh Yếu của Ḥa
thượng Thiền Tâm - để dẫn dụng. Theo Kinh Sa-môn Quả, Lục
sư gồm :
1.
Phú-lan-na Ca-diếp (Purana Kassapa) : Phái này theo chủ
nghĩa hoài nghi luân lư, cho rằng việc làm thiện ác là do
tập quán chứ không có một nghiệp căn tương ứng nào.
2.
Mạt-già-lê Câu-xá-la(Makkholi Gosala) : Phái này chủ
trương tự nhiên, tất cả mọi hành vi thiện ác đều tuân thủ
theo một quy luật tự nhiên, con người không thể quyết định
được điều ǵ. Vấn đề giải thoát cũng sẽ đến một cách tự
nhiên mà không cần sự nỗ lực của con người.
3.
A-di-đa Kê-sa-khâm-bà-la(Ajita Kesakambali) : Phái này chủ
trương Duy vật luận. Con người do tứ đại hợp thành, chết
rồi là hết, nên tận hưởng những khoái lạc, bác bỏ luân lư.
4.
Phù-đà Ca-chiên-diên(Pukudha Kaccayana) : Phái này chủ
trương Duy tâm luận, cho rằng tâm vật bất diệt, sự sống
chết của con người chỉ là sự tụ tán của những yếu tố tạo
thành con người, c̣n những yếu tố ấy th́ không bao giờ bị
tiêu diệt.
5.
Tán-nặc-da Tỳ-la-lê-tử(Sănyaya bellatthyputta) : Phái này
theo chủ nghĩa cảm hứng, có vẻ ba phải. Nếu cảm thấy thế
nào th́ nói thế ấy đối với thế giới hiện tượng, không xác
quyết là có hay không, đúng hay sai.
6.
Ni-kiền-đà Nhă-đề-tử(Nigandhà netaptta) : Nhân vật này
chính là thủy tổ của Kỳ-na giáo, thế lực của giáo đoàn này
tương đương với Phật giáo. Theo sự giới thiệu trong Kinh
Sa-môn Quả th́ phái này chủ trương Vận mệnh luận, lấy đó
làm cơ sở để thuyết minh tất cả. C̣n về sự thực hành th́
lấy sự khổ hạnh cực đoan và nghiêm tŕ giới bất sát làm
đặc sắc.
Tóm
lại, chúng ta có thể thấy những ưu khuyết của từng chủ
trương qua Lục sư ngoại đạo kể trên. Tuy nhiên không phải
cứ như thế mà cho rằng họ hoàn toàn sai lầm. Ở mỗi học
phái đều có một cách lư luận đặc biệt để chứng minh chủ
trương của họ là đúng. Nhưng v́ quá nhiều luận lư và ư
tưởng, khiến con người thời đại hoang mang, không có một
tư tưởng chủ đạo nhất quán. Và khi Phật giáo h́nh thành,
điều vĩ đại của Đức Phật là trực tiếp đối thoại với từng
quan điểm trên để dẫn đến một chủ trương dung ḥa, tiến bộ
hơn, dẫu vẫn c̣n chịu ảnh hưởng trực tiếp những khái niệm
về thế giới quan hay tập quán ngôn ngữ của họ. Tư tưởng
dung ḥa tiến bộ ấy như thế nào, chúng ta hăy biện biệt
riêng trong một phần nói về Phật giáo Nguyên thủy.
3.
Tư tưởng Phật giáo Nguyên thủy giữa nền tư tưởng Ấn Độ
Việc tŕnh bày giáo lư của Phật giáo Nguyên thủy, tất
nhiên không thuộc phạm vi bài viết này. Hơn nữa, Phật giáo
Nguyên thủy đă trở thành một hệ thống tương đối hoàn chỉnh
và được nhiều điển tịch ghi nhận, thiết tưởng không có ǵ
để bàn giải. Vấn đề chính ở đây là nêu lên điểm khác biệt
của giáo lư Đức Phật đối với bối cảnh tư tưởng Ấn Độ ở
phạm vi khái quát mà thôi.
Sau
khi đă quan sát các trào lưu tư tưởng có ảnh hưởng trực
tiếp đến việc h́nh thành giáo lư Phật giáo Nguyên thủy,
chúng ta có thể thấy các trào lưu này có nhiều giá trị tôn
giáo liên quan đến giáo lư Đức Phật, hoặc được thay đổi
h́nh thái, hoặc chuyển hóa theo những danh mục riêng. Ví
dụ quy định về ngũ giới hay phép tŕ trai đều đă có từ
trước. Đức Phật mệnh danh giáo lư của Ngài là Pháp
(Dharma) th́ cũng xuất phát từ Pháp Kinh (Dharma Sutra)
của Bà-la-môn. Thứ hai là về Nhân sinh quan và Thế giới
quan của Phật giáo chúng ta thấy có nhiều điểm tương đồng
với hệ thống Áo nghĩa thư, như sự h́nh thành thế giới, cấu
tạo của vũ trụ, các tầng trời … Thứ ba là h́nh thái luận
lư của Phật cũng phảng phất h́nh thái thuyết giáo của Lục
sư ngoại đạo, tạo thành một phong cách lư luận đầy vẻ bài
bản mà thỉnh thoảng ta bắt gặp ở một số kinh Phật. Tất cả
những ảnh hưởng ấy, người nghiên cứu lịch sử không thể phủ
nhận.
Nhưng đâu là điểm khác biệt của Phật giáo Nguyên thủy ? Rơ
ràng có những giáo lư hoàn toàn là sáng tạo của Đức Phật.
Những giáo lư này vô cùng mới mẻ và có sức thuyết phục rơ
ràng, có thể nói bao quát toàn bộ nền triết lư Phật giáo.
Nhưng trong ấy không thể không xét đến các quan điểm được
h́nh thành từ sự phản kháng và dung ḥa các học thuyết
trước đó để tạo thành quan điểm của ḿnh. Đức Phật không
phải là con người cực đoan, lập dị. Ngài đă biết chắc lọc
tư tưởng truyền thống rồi phả vào hơi thở tự chứng để biến
những tư tưởng cố hữu vốn phi thực tế thành những khái
niệm sống động khả dĩ làm tiền đề cho giáo lư của Ngài
được phát sinh. Thái độ ấy không phải chỉ đối với
Bà-la-môn hay Lục sư mà đối với tất cả các vấn đề. Ví dụ
đối với hai khuynh hướng khóai lạc và khổ hạnh, Ngài chiết
trung và chủ trương không khổ không vui; đối với hai kiến
chấp thường trụ và đoạn diệt, Ngài chiết trung và lập
thành Sinh mệnh quan theo quan hệ lưu động, tức do sự tác
động trực tiếp của nhân duyên. Ta có thể tạm gọi đây là
lập trường Trung đạo mà Phật giáo Đại thừa về sau đă khai
thác triệt để.
Nói
như vậy để thấy rằng sự phân chia của Phật giáo sau này và
sự h́nh thành A-tỳ-đạt-ma là sự hiển nhiên. Sự nội chứng
của Phật là toàn triệt, nhưng phương tiện thuyết giáo ở
mỗi địa vực và thời gian khác nhau sẽ tạo thành những giáo
lư khác nhau. Chúng không mâu thuẫn trên đại để, nhưng
chắc chắn sẽ có dị biệt đối với từng nhu cầu thuyết giáo
của các căn cơ. Nếu không khảo sát kỹ quá tŕnh này, người
học Phật sẽ hoang mang khi nghiên cứu Phật giáo Bộ phái,
và sẽ có nhiều điều bất tín khi đọc kinh điển Đại thừa sau
này. Đó là lư do lớn nhất để người viết tŕnh bày viết này.
4.
Nhận định về kinh điển Phật giáo hiện đại
Tất
cả các vấn đề được tŕnh bày ở trên, gần như chỉ là sự cóp
nhặt từ nhiều sách vở, quy nạp và phân tích. Các học giả
từ xưa đến nay đă luận bàn khá nhiều, chẳng có ǵ mới mẻ.
Có điều với người học Phật ngày nay, khi t́m ṭi học hỏi
qua kinh điển, khó tránh được những hoang mang khi bắt gặp
những khái niệm có vẻ mơ hồ đă được ghi chép thành văn tự.
Trước hết người viết xin xác định rằng dù nói ǵ, niềm tin
của ḿnh đối với Tam bảo vẫn là tuyệt đối. Đức Phật là bậc
Chánh biến tri, giáo pháp của Phật là giáo pháp như thật
và Tăng-già là tôn quư. Sau đó, bằng sự nhiệt thành vụng
dại, người viết xin có vài nhận định về một số trường hợp
bất cập.
Xét
về phương diện thuyết giáo của Phật, Đức Phật luôn lấy con
người làm đối tượng quan sát. Ngài luôn có thái độ im lặng
đối với những câu hỏi siêu h́nh. Hoài băo ra đời của Phật
là khai thị chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến, tất cả các
pháp đều nói cho con người, bởi con người và v́ con người.
Kinh điển Phật giáo không chủ trương thành lập một Vũ trụ
luận theo hệ thống. Thế giới quan của Phật giáo chỉ là đối
tượng quan sát để giải quyết vấn đề Nhân sinh quan. Phật
không bao giờ giải thích về thế giới như hữu biên hay vô
biên, ngoại trừ Vũ trụ quan được thuyết minh qua tinh thần
nội chứng của Bất tư ngh́ giải thoát cảnh giới nói trong
Kinh Hoa Nghiêm, Kinh Duy-ma-cật hay một số kinh điển Đại
thừa khác.
Nếu
là cảnh giới bất tư ngh́ giải thoát, người viết chẳng bao
giờ thắc mắc. Nhưng c̣n nhiều kinh điển như Kinh Quá Khứ
Hiện Tại Nhân Quả, Kinh Luật Dị Tướng, Luận Lập Thế A-tỳ-đàm
… nói về các thuyết như núi Tu-di, tứ châu, 33 tầng trời,
các lớp núi và biển quanh núi Tu-di, kiếp tăng kiếp giảm,
các thuyết đại tiểu tam tai v.v… và v.v…, quá nhiều những
luận thuyết như thế, mà những luận thuyết ấy đâu phải chỉ
cho cảnh giới bất tư ngh́, biết lấy ǵ để chứng minh cho
người học ? Phải chăng do ảnh hưởng của Bà-la-môn hay Áo
nghĩa thư c̣n sót lại mà quá tŕnh h́nh thành phát triển
Tam tạng chưa gạn lọc hết được ? Đức Phật không bao giờ
hướng người học đến những câu hỏi siêu h́nh. Nếu có đề cập
đến th́ mục đích của Phật cũng chỉ làm phương tiện dẫn dắt
nhân tâm tu tập thiền định, thực nghiệm để chứng đắc các
cảnh giới mà thôi. Trong Nykàya hay Agàma cũng đều như thế.
Ví dụ của Phật về mũi tên độc là chứng minh hùng hồn nhất
cho đạo lư này.
Chẳng hạn ngày nay người ta thường nói "người ngoài hành
tinh" để ám chỉ một siêu nhân nào đó, th́ chưa hẳn là
người ta đă tin có người ngoài hành tinh. Chẳng qua chỉ là
mượn một khái niệm trừu tượng đă được h́nh thành để dụ cho
tài năng vượt quá con người của kẻ ấy. Cũng vậy, như khi
Đức Phật nói "nhốt núi Tu-di vào trong một hạt cải" th́
chưa hẳn là Đức Phật muốn nói đến núi Tu-di, mà là mượn
h́nh ảnh núi Tu-di đă h́nh thành trong khái niệm của người
đương thời để thuyết minh đạo lư "Sự sự vô ngại pháp giới"
của Hoa Nghiêm mà thôi. Thế th́ nên chăng, thay v́ tổng
nạp các kinh điển vào Tam tạng như đă làm, cần phải có một
cuộc kết tập vĩ đại nữa để gạn lọc tất cả những ǵ không
phải Phật giáo ? Từ xưa Trung Quốc đă có những danh tăng
như Đạo An, Tăng Hựu … làm công việc này rồi, tức phân
loại kinh điển, xếp theo từng mục, đâu là ngụy kinh, đâu
là nghi ngụy, đâu là thất dịch … Thế rồi chẳng hiểu v́ sao,
các kinh ấy thỉnh thoảng vẫn bị chứa vào Đại Tạng. Đó là
chưa nói những kinh do chính chư Tổ truyền thừa vẫn bị pha
tạp tư tưởng ngoại đạo và có dấu ấn của phong tục tập quán
đương thời - nhất là kinh điển Mật giáo.
Trí
huệ của Phật là Chánh biến tri, là Thế gian giải. Nhưng
chưa bao giờ Phật giải thích thế giới ấy một cách tỉ mỉ và
có hệ thống cho người thế gian - vốn đang cần diệt khổ để
giải thoát. Phật chỉ nói những ǵ liên quan đến giải thoát
cho nhân sinh mà thôi. Chính v́ vậy, tốt nhất, khi gặp
những khái niệm siêu h́nh hay trừu tượng trong Phật giáo,
chúng ta chỉ nên hiểu nó như những ẩn dụ và không nên t́m
hiểu chúng như một đối tượng quan sát theo Vũ trụ luận của
Phật giáo.
Cũng về điểm này, chúng ta lại thấy vô cùng tuyệt diệu khi
giáo lư Bát-nhă, Tánh không hay tinh thần Thiền tông Trung
Quốc được h́nh thành và phát triển, như một chất tan có
khả năng xóa sạch mọi kiến chấp thông thường của đầu óc
duy lư và tư biện. Khi hiểu được bối cảnh xă hội và tư
tưởng triết học lúc Đức Phật ra đời, khi hiểu được quá
tŕnh h́nh thành và phát triển Tam tạng kinh điển, mọi
nghi vấn, hoang mang sẽ nhường chỗ cho niềm tin bất diệt
đối với giáo pháp của đấng Từ phụ Thích-ca Mâu-ni.
Mùa
Phật đản năm Tân Tỵ |