Nhắc
chiếc phone lên bỗng lặng người
Tiếng
ai như tiếng lá thu rơi
Mười
năm mẹ nhỉ, mười năm lẻ
Chỉ
biết âm-thầm thương nhớ thôi
Buổi
ấy con đi chẳng hẹn thề
Ngựa
rừng xưa lạc dấu sơn khê
Mười
năm tóc mẹ màu tang trắng
Trắng
cả ḷng con lúc nghĩ về
Mẹ
vẫn ngồi đan một nỗi buồn
Bên
đời gió tạt với mưa tuôn
Con
đi góp lá ngh́n phương lại
Đốt
lửa cho đời tan khói sương
Tiếng
mẹ nghe như tiếng nghẹn-ngào
Tiếng
Người hay chỉ tiếng chiêm-bao
Mẹ
xa xôi quá làm sao vói
Biết
đến bao giờ trông thấy nhau
Đừng
khóc mẹ ơi hăy rán chờ
Ngậm
ngùi con sẽ giấu trong thơ
Đau
thương con viết vào trong lá
Hơi
ấm con t́m trong giấc mơ
Nhắc
chiếc phone lên bỗng lặng người
Giọng
buồn hơn cả tiếng mưa rơi
Ví
mà tôi đổi thời-gian được
Đổi
cả thiên thu tiếng mẹ cười
TRẦN
TRUNG ĐẠO
MY
LIFE FOR
MY MOM'S LAUGHTER
Picking up the handset I was stunned
with surprise: Whose voice as light as falling
leaves in cold skies? Isn't it ten years,
ten odd years, dear mother, Just in
silence to miss and long for one
another?
I left without any promises
or pledges that day: The old wild horse
from its forest-land went astray. Ten
years for Mom's hair to turn mourning
white, And mourning-like my soul also in
such a plight.
You've still been
sitting there weaving your pain By an
existence of slapping wind and beating
rain. I've set off to set up from all
directions a pyre In order to disperse the
mist for life lighting a fire.
Your
voice was broken off, you choked up, I
found; Mom's endearing words or mere
in-reverie sound? You are too far, how
could I reach out for you? And when could
we meeting again look forward to ?
Do
not cry, my dear mother, and continue to
await. All my grief I will hide in the
rhymes I create. Of all my sorrow I will
write reams and reams, And find your
warmth my warmth in my dreams.
As I
picked up the handset how astounded was
I To hear my mom's voice sadder than the
rainy sky! Should I be able to give up
Man's time in hereafter, I would offer
mine to recover my mom's laughter.
Translation
by THANH-THANH
Mẹ và
Quê Hương
Tâm bút
Trần Trung Đạo
Một danh ngôn mà chúng ta thường nghe "thế giới
có rất nhiều kỳ quan, nhưng kỳ quan tuyệt vời và vĩ đại nhất
vẫn là trái tim người mẹ" Thật vậy, bao nhiêu thơ viết về mẹ
cũng không đủ, bao nhiêu nhạc hát về mẹ cũng không vừa. Biển
Thái B́nh bao la, nước sông Hằng cuồn cuộn nhưng không sao có
thể so sánh được với tấm ḷng của mẹ. Bản nhạc nào viết về mẹ
cũng hay, bài thơ nào viết về mẹ cũng cảm động bởi v́ ngôn ngữ
dành cho mẹ là ngôn ngữ của trái tim.
Mẹ là biểu tượng trọn vẹn và tuyết đối của tinh
thần Chân Thiện Mỹ. Nếu có một người để chúng ta có thể san sẻ
những điều thầm kín, riêng tư nhất, th́ người đó phải là mẹ.
Nếu có một người có thể tha thứ cho chúng ta dù phạm phải bất
cứ một lỗi lầm ǵ, người đó sẽ là người mẹ. Tôi tin, nếu chúng
ta biết dành ư nghĩ đầu tiên của một ngày, thay v́ để nghĩ đến
chuyện hơn thua, danh lợi nhưng là để nghĩ về mẹ, nghĩ về
khuôn mặt của mẹ, tiếng cười của mẹ, lời dặn ḍ của mẹ hay
thậm chí chỉ để gọi tiếng mẹ thôi, chúng ta sẽ có một ngày an
lành và hạnh phúc.
Mẹ là người mang ta đến cuộc đời, và cũng là nơi
ta trở về. Người đàn bà chân mang đôi dép ngược, khoát chiếc
mền rách, như trong một câu chuyện thiền mà chúng ta có thể đă
từng nghe kể, dù bao mùa mưa nắng vẫn không than van, không
oán trách, vẫn chờ đơi ngày về của đứa con măi mê trên đường
đi t́m chân lư. Nếu chân lư mà chàng trai trẻ kia đi t́m là
t́nh thương và sự thật th́ chân lư sẽ không ở đâu xa mà trái
lại vô cùng gần gủi. Trong tấm thân gầy yếu nhỏ nhoi của người
mẹ chứa đựng cả một đại dương của hy vọng, t́nh yêu, sự thật
và ḷng vị tha sâu thẳm.
Hơn mười năm trước, tôi có viết một bài
thơ về mẹ, trong đó có hai câu đă trở thành quen
thuộc:
Ví mà tôi đổi thời gian được Đổi cả thiên thu
tiếng mẹ cười.
Bài thơ ra đời trong một đêm mưa, sau
lần điện thoại đầu tiên với mẹ tôi từ Việt
Nam. Giọng của mẹ như
vọng lại từ một thế giới khác xa xôi. Tôi viết rất nhanh,
nhanh hơn khi viết những bài thơ khác nhiều. Những ḍng chữ,
những câu thơ đúng ra là từ mơ ước, thao thức đă ấp ủ trong
tâm thức tôi từ lâu lắm, chỉ chờ dịp để tuôn ra. Tôi không làm
thơ, tôi chỉ chép như có một người nào đang nhắc nhở bên tai
ḿnh. Nguyên văn bài thơ như thế này:
Nhấc chiếc phone lên bỗng lặng người Tiếng ai
như tiếng lá thu rơi Mười năm mẹ nhỉ, mười năm lẻ Chỉ
biết âm thầm thương nhớ thôi * Buổi ấy con đi chẳng hẹn
thề Ngựa rừng xưa lạc dấu sơn khê Mười năm tóc mẹ màu
tang trắng Trắng cả ḷng con lúc nghĩ về * Mẹ vẫn
ngồi đan một nỗi buồn Bên đời gió tạt với mưa tuôn Con
đi góp lá ngh́n phương lại Đốt lửa cho đời tan khói
sương * Tiếng mẹ nghe như tiếng nghẹn ngào Tiếng
Người hay chỉ tiếng chiêm bao Mẹ xa xôi quá làm sao
vói Biết đến bao giờ trông thấy nhau * Đừng khóc mẹ
ơi hăy ráng chờ Ngậm ngùi con sẽ dấu trong thơ Đau
thương con viết vào trong lá Hơi ấm con t́m trong giấc
mơ * Nhấc chiếc phone lên bỗng lặng người Giọng buồn
hơn cả tiếng mưa rơi Ví mà tôi đổi thời gian được
Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười.
Bài thơ đơn giản và dễ hiểu, không có ǵ phải
cần b́nh giải. Tất cả chỉ để nói lên tâm trạng của một người
con xa mẹ, bay đi như chiếc lá xa cành, mười năm chưa về lại
cội. Năm tôi viết bài thơ, mẹ tôi, đă ngoài 60 tuổi và đang
sống trong căn nhà tôn nghèo nàn ở Ḥa Hưng Sài G̣n. Căn nhà
nhỏ có giàn hoa giấy đỏ đó là nơi tôi đă sống 8 năm.
Nhớ lại đêm cuối cùng ở Sài G̣n, tôi đón xe
xích-lô từ cửa sông về chào mẹ. Trời mưa lớn. Nhưng khi gặp
mẹ, với tâm trí ngàn ngập những lo âu, hồi hộp cho chuyến đi,
tôi không kịp nói một câu cho trọn vẹn ngoài ba tiếng "con đi
nghe". Và như thế tôi đi, đi không ngoảnh lại, đi như chạy
trốn. Để rồi hai ngày sau, khi chiếc ghe nhỏ của chúng tôi
được hải quân Mỹ cứu vớt trên biển Đông vào khuya ngày 13
tháng 6 năm 1981, đứng trên boong chiến hạm USS White Plains
nh́n về phía Nam, tôi biết quê hương và mẹ đă ngoài tầm tay
vói của ḿnh. Đời tôi từ nay sẽ như chiếc lá, bay đi, bay đi,
chưa biết ngày nào hay cơ hội nào trở về nguồn cội. Nếu có
một quốc gia mà những người dân của quốc gia đó đă phải từ
chối chính đất nước ḿnh, từ chối nơi đă chôn nhau cắt rốn của
ḿnh, tôi nghĩ, đất nước đó không c̣n bao nhiêu hy vọng. Việt
Nam sau 1975 là một đất nước sống trong
tuyệt vọng như thế. Dân tộc Việt
Nam những năm sau 1975
là một dân tộc sống trong tâm trạng những kẻ sắp ra đi. Sài
G̣n giống như một sân ga. Chào nhau như chào nhau lần cuối và
mỗi ngày là một cuộc chia ly. Bắt tay một người quen, ai cũng
muốn giữ lâu hơn một chút v́ biết có c̣n dịp bắt tay nhau lần
nữa hay không. Gặp người thân nào cũng chỉ để hỏi "Bao giờ anh
đi, bao giờ chị đi", và lời chúc nhau quen thuộc nhất mà chúng
thường nghe trong những ngày đó vẫn là "Lên đường b́nh an
nhé."
Đất nước tuy đă ḥa b́nh rồi, quê hương đă không
c̣n tiếng súng nhưng ḷng người c̣n ly tán hơn cả trong thời
chiến tranh. Đêm cuối ở Sài G̣n ḷng tôi ngổn ngang khi nghĩ
đến ngày mai. Ngày mai sẽ ra sao? Nếu bị bắt tôi sẽ ở tù như
lần trước nhưng nếu đi được th́ sẽ trôi dạt về đâu? Suốt
sáu năm ở lại Sài G̣n, tôi chỉ nghĩ đến việc duy nhất là ra
đi. Khi chiếc ghe nhỏ bị mắc cạn trong một con lạch ở Hải Sơn
buổi sáng ngày 11 tháng 6 năm 1981, trời đă sáng, nhiều người,
kể cả một trong hai người chủ ghe, cũng bỏ ra về, nhưng tôi
th́ không. Tôi phải đi dù đi giữa ban ngày. Tôi phải t́m cho
được tự do dù phải bị bắt và ngay cả phải trả giá bằng cái
chết. Tự do đầu tiên, biết đâu cũng sẽ là cuối cùng và vĩnh
viễn. Nhưng hai ngày sau, khi đứng trên boong tàu Mỹ, tôi biết
ḿnh vừa mất một cái ǵ c̣n lớn hơn ngay cả mạng sống của
ḿnh. Đó là đất nước, quê hương, bè bạn, con đường, tà áo, cơn
mưa chiều, cơn nắng sớm, và trên tất cả, h́nh ảnh mẹ. Không
phải những người ra đi là những người quên đất nước hay người
ở lại bám lấy quê hương mới chính là người yêu nước. Không.
Càng đi xa, càng nhớ thương đất nước, càng thấm thía được ư
nghĩa của hai chữ quê hương. Không ai hiểu được tâm trạng
người ra đi nếu không chính ḿnh là kẻ ra đi.
Nói như thế không có nghĩa là tôi hối hận cho
việc ra đi. Không, tôi phải đi. Nhưng chọn lựa nào mà chẳng
kèm theo những hy sinh đau đớn. Bài hát Sài G̣n Vĩnh Biệt, tôi
thỉnh thoảng nghe trên đài VOA khi c̣n ở Việt
Nam như những mũi kim
đâm sâu vào tâm thức. Bao nhiêu điều hai ngày trước tôi không
hề nghĩ đến đă bừng bừng sống dậy. Bao nhiêu kỷ niệm tưởng đă
ch́m sâu trong kư ức đă lần lượt trở về. Tự do, vâng, tôi cuối
cùng đă t́m được tự do nhưng đó chỉ là tự do cho chính bản
thân ḿnh. Những ǵ tôi đánh mất c̣n lớn hơn thế nữa.
Nhớ lại đêm thứ hai trên biển, khi biết chiếc
ghe chiều dài vỏn vẹn mười mét rưỡi nhưng chứa đến 82 người
của chúng tôi vừa cặp vào thành tàu chiến của Mỹ thay v́
Ba-Lan hay Liên-Xô như mọi người trên ghe lo sợ, ai cũng hân
hoan mừng rỡ. Đám bạn tôi, có đứa thậm chí c̣n hô lớn
"USA, USA" và ôm chầm lấy những người lính hải
quân Mỹ đang dang tay đỡ từng người bước lên khỏi chiếc cầu
dây đang đong đưa trên sóng. Tôi cũng vui mừng, biết ơn và cảm
động nhưng không ôm chầm hay hô lớn. Ḷng tôi, trái lại, chợt
dâng lên niềm tủi thẹn của một người tỵ nạn. Chiếc cầu dây
mong manh tôi bám để leo lên chiến hạm, trở thành chiếc cầu
biên giới, không chỉ cách ngăn giữa độc tài và tự do, của quá
khứ và tương lai, mà c̣n giữa có quê hương và thiếu quê hương.
Tôi nghĩ thầm, cuối cùng, tôi cũng như nhiều người Việt
Nam khác, lần lượt bỏ
đất nước ra đi mà thôi. Dù biện minh bằng bất cứ lư do ǵ, tôi
cũng là người có lỗi với quê hương.
Tôi nhớ đến mẹ, người mẹ Ḥa Hưng vất vả nuôi
nấng bảy đứa con, trong đó tôi là con lớn nhất, trong một hoàn
cảnh hết sức khó khăn. Mẹ tôi bán bánh bèo ở đầu đường để nuôi
chúng tôi ăn học. Mẹ tôi t́nh nguyện đi kinh tế mới ở Sông Bé
để các em tôi c̣n được phép ở lại Sài G̣n học hết bậc phổ
thông. Mẹ tôi đi mót lúa, mót khoai gởi về nuôi nấng chúng tôi
trong những ngày đói khổ.
Trong tâm trí tôi, h́nh ảnh bà mẹ Ḥa Hưng, đêm
đầu tiên trong căn nhà không vách trên vùng Kinh Tế Mới,
khoảng 20 cây số phía Nam thị trấn Đồng Xoài
vào năm 1976. Cánh rừng vừa được khai hoang vội vă này không
ai nghĩ một ngày sẽ được gọi bằng một cái tên rất đẹp, khu
Kinh Tế Mới. Kinh Tế Mới là những căn nhà lá mỗi chiều chỉ hơn
mười mét do những bàn tay học tṛ của thanh niên xung phong
dựng lên, nối nhau chạy dọc theo cánh rừng hoang.
Tôi kính yêu me. Mẹ Ḥa Hưng là người săn sóc
tôi trong những tháng ngày khó khăn nhất của tôi và người đă
thôi thúc tôi viết nên bài thơ Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười
trong đêm mưa hơn mười năm trước. Tuy nhiên, mẹ của Đổi Cả
Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười không phải là người đă mang tôi vào
cuộc đời này. Người mẹ sinh ra tôi đă chết khi tôi c̣n rất
nhỏ. Nhỏ đến nỗi tôi gần như không biết mặt mẹ ḿnh. Trong
tuần hoàn của vũ trụ, giọt nước c̣n biết mẹ ḿnh là mây, chiếc
lá c̣n biết mẹ ḿnh là cây, c̣n tôi th́ không. Tôi là đứa bé
cô độc, một con người cô độc, không anh em, không chị em. Tôi
lớn lên một ḿnh với cha tôi trong cảnh gà trống nuôi con
trong căn nhà tranh nhỏ ở làng Mă Châu, quận Duy Xuyên. Đêm
đêm nằm nghe cha kể chuyện thời trai trẻ buồn nhiều hơn vui
của đời ông. Những ngày tản cư lên vùng núi Quế Sơn. Những
ngày sống trong túp lều tranh dưới hàng tre Nghi Hạ. Và dưới
hàng tre Nghi Hạ nắng hanh vàng đó, cha mẹ tôi đă gặp nhau, đă
chia nhau ly nước vối chua chua thay cho chén rượu tân hôn
nồng thắm. Dù sao, bên khung cửi vải, bên ḷ ươm tơ, họ đă
cùng nhau dệt một ngày mai đầy hy vọng. Mặt trời rồi sẽ mọc
bên kia rặng tre già, mặt trăng rồi sẽ tṛn bên kia gịng sông
Thu, những ngày chiến tranh, tản cư cực khổ sẽ qua đi nhường
bước cho ḥa b́nh sẽ đến.
Nhưng rồi chiến tranh như một định nghiệp, đeo
đuổi theo số phận của đất nước chúng ta, đeo đuổi theo số phận
của đời tôi. Năm tôi 13 tuổi, chiến tranh đă cướp đi cha tôi,
người thân yêu cuối cùng của tôi. Chiến tranh lan tràn đến
làng Mă Châu, đẩy tôi ra khỏi xóm lụa vàng thân quen để làm
người du mục trên quê hương đổ nát của ḿnh. Từ đó tôi ra đi.
Từ chặng đường đầu tiên trên căn gác hẹp trong con hẻm 220
Hùng Vương Đà Nẵng, đến chùa Viên Giác Hội An, xóm nghèo Ḥa
Hưng, trại tỵ nạn Palawan và hôm nay trên nước Mỹ, nơi cách
chặng đầu tiên trong hành tŕnh tỵ nạn của tôi hàng vạn
dặm. H́nh ảnh duy nhất của tôi về mẹ là ngôi mộ đầy cỏ mọc
dưới rặng tre già ở làng Mă Châu. Ngày tôi c̣n nhỏ, mỗi buổi
chiều khi tan trường tiểu học, trên đường về tôi thường ghé
thăm mộ mẹ. Nhổ những bụi cỏ hoang, trồng thêm những chùm hoa
vạn thọ. Tôi ưu tư về cuộc đời và về thân phận của ḿnh ngay
từ thuở chỉ vừa năm, bảy tuổi. Tại sao tôi chỉ có một ḿnh?
Tại sao mọi người đều lần lượt bỏ tôi đi? Nếu mai mốt ba tôi
cũng đi th́ tôi sẽ sống với ai? Lớn lên tôi sẽ làm ǵ? Tại sao
đất nước tôi lại có chiến tranh? Những người du kích bên kia
sông là ai? Và ở đó những buổi chiều vàng, bên ngôi mộ nhỏ của
mẹ, tôi để ḷng tuôn chảy những suy tư, dằn vặt đang bắt đầu
tích tụ. Từ khi năm bảy tuổi tôi đă linh cảm cuộc đời tôi sẽ
là những ngày đầy biến cố. Tôi đă nghĩ đến chuyện một ngày nào
đó tôi sẽ đi xa khỏi rặng tre già, khỏi ngôi làng tơ lụa Mă
Châu dường như thôn làng nhỏ bé này sẽ không đủ lớn để chứa
hết những buồn đau, u uất của tôi. Nếu tuổi thơ là tuổi hồn
nhiên với những cánh diều bay, với những con bướm vàng thơ
mộng th́ tôi đă không có tuổi thơ. Tuổi thơ tôi là một chuổi
ngày ưu tư và chờ đợi một điều ǵ sắp đến.
Mẹ tôi qua đời v́ bịnh trong một xóm nhà quê
nghèo khó nên không có ngay cả một tấm h́nh để lại cho tôi.
Cha tôi thường bảo, tôi giống cha nhiều hơn giống mẹ. Tôi cũng
chẳng có cậu hay d́ nên tôi lại càng không thể t́m đâu ra được
một nét nào của mẹ trong những người thân c̣n sống. V́ không
biết mẹ, nên mẹ trở thành tuyệt đối. Khi nh́n ánh trăng tṛn
trong ngày rằm tháng Bảy, tôi nghĩ đó là khuôn mặt dịu dàng
của mẹ, nh́n nước chảy ra từ ḍng suối mát tôi nghĩ đến ḍng
sữa mẹ, nh́n áng mây trắng bay trên nền trời tôi nghĩ đến bàn
tay mẹ, nh́n những v́ sao trên dải thiên hà tôi nghĩ đến đôi
mắt mẹ. Nói chung, h́nh ảnh nào đẹp nhất, tinh khiết nhất,
thiêng liêng nhất, đều được tôi nhân cách hóa nên h́nh ảnh mẹ.
Vẻ đẹp của mẹ tôi là vẻ đẹp không những tuyệt vời mà c̣n tuyệt
đối.
Tôi về thăm mộ mẹ lần cuối vào năm 1980 trước
ngày vượt biển. Ngôi mộ đầy cỏ mọc hoang vu. Sau 1975, ngay cả
người sống cũng không ai chăm nom đừng nói ǵ chuyện chăm nom
cho người đă chết. Hôm đó, tôi ngồi nơi tôi đă từng ngồi trong
thời thơ ấu và kể cho mẹ nghe đoạn đời ch́m nổi của ḿnh. Tôi
nói với mẹ rằng tôi sẽ ra đi khỏi nước và hứa sẽ về dù biết
nói như thế chỉ để an ủi hương hồn mẹ mà thôi. Tôi cầu mong mẹ
pḥ hộ cho đứa con duy nhất của mẹ được b́nh an trong những
ngày sóng gió sắp xảy ra.
Ôi đời mẹ như một
vầng trăng khuyết Vẫn ngh́n năm le lói ở đầu sông.
Vâng, vầng trăng bên ḍng sông Thu Bồn
từ đó không c̣n tṛn như trước nữa. Ai cũng có một cuộc
đời để sống. Nỗi bất hạnh nào rồi cũng nguôi ngoai. Vết thương
nào cũng lành đi với thời gian. Tuy nhiên có một nỗi bất hạnh
sau bao nhiêu năm dài vẫn c̣n, đó là bất hạnh của dân tộc Việt
Nam. Điều làm tôi đau xót nhiều hơn cả,
không phải v́ tôi mất mẹ, không phải v́ tôi xa mẹ nhưng chính
là sự chịu đựng của hàng triệu bà mẹ Việt
Nam triền miên suốt mấy
chục năm qua, từ chiến tranh sang đến cả ḥa b́nh.
Trên thế giới này, bà mẹ Nga, mẹ Ư cũng thương
con như một bà mẹ Việt Nam. Trong lúc t́nh yêu của một bà mẹ ở
quốc gia nào cũng bao la, cũng rộng lượng, cũng vô bờ bến, tôi
vẫn tin một bà mẹ Việt Nam th́ khác hơn nhiều.
Bà mẹ Việt Nam, ngoài là biểu tượng cho tất cả những nét đẹp
của quê hương, đất nước, t́nh thương, c̣n là những h́nh ảnh
đầy thương tích, tủi buồn nói lên sự chịu đựng, gian nan, khổ
cực không thể nào đo lường hết được. H́nh ảnh bà mẹ giăng tấm
vải dầu trên một góc đường Trần Hưng Đạo để che nắng che mưa
cho bầy con thơ dại đang đói khát. H́nh ảnh bà mẹ chết đói sau
khi ghe của mẹ đi lạc nhiều tuần trên biển. H́nh ảnh bà mẹ
chết trong mỏi ṃn tuyệt vọng dưới gốc me già trên góc phố Sài
G̣n vào một ngày mưa băo. H́nh ảnh bà mẹ chết cô đơn trong
chiếc thuyền chài nghèo nàn. Tất cả h́nh ảnh đau thương đó đă
trở thành mối ám ảnh thường xuyên trong tâm trí tôi. Ám ảnh
nhiều đến nổi, dù viết về bất cứ chủ đề ǵ, thể loại ǵ, văn
hay thơ, cuối cùng tôi cũng trở về với h́nh ảnh mẹ. Mỗi bước
chân tôi đi trên đường đời mấy chục năm qua vẫn c̣n nghe vọng
lại tiếng khóc của những người phụ nữ Việt Nam bất hạnh, đă
khóc trong chiến tranh, khóc trong ḥa b́nh, khóc trong bàn
tay hải tặc giữa biển Đông và khóc trên xứ người hiu quạnh.
Mơ ước lớn nhất của tôi, v́ thế, không phải cho
tôi mà cho những người mẹ đang chịu đựng, để các mẹ có cơ hội
được sống trong một đất nước không c̣n hận thù, rẻ chia, ganh
ghét, một đất nước chan chứa t́nh đồng bào, một đất nước thật
sự tự do, ấm no, hạnh phúc. "Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười"
trong một ư nghĩa rộng hơn là ước mơ của tôi, của anh chị, của
cô chú và của tất cả những ai c̣n nghĩ đến sinh mệnh của dân
tộc, về một ngày đẹp trời cho đất nước ḿnh. Quá nhiều máu và
nước mắt đă đổ trên mảnh đất linh thiêng và thống khổ Việt
Nam. Mỗi người Việt
Nam, hơn bao giờ hết hăy
trở về với mẹ như trở về với chính cội nguồn uyên nguyên của
dân tộc ḿnh. Trong đêm rằm tháng Bảy này, xin hăy cùng nhau
thắp lên những ngọn nến, dù nhỏ, dù đơn sơ nhưng được làm bằng
chất liệu dân tộc, nhân bản và khai phóng đă được tổ tiên
chúng ta hun đúc sau hơn bốn ngàn năm lịch sử.
Đời tôi là những
cơn mưa dài. Mưa khi tôi rời làng Mă Châu, mưa trong đêm đầu
tiên trong căn gác trên đường Hùng Vương Đà Nẵng, mưa dưới gốc
đa già ở Chùa Viên Giác, mưa khi tôi vừa đặt chân đến Sài G̣n
lần đầu tiên và mưa lớn trong đêm tôi rời đất nước ra đi.
Nhưng tôi chưa bao giờ tuyệt vọng, chưa bao giờ cảm thấy cuộc
đời là hố thẳm. Tôi không sống trong hôm qua, trái lại mỗi
ngày là một chặng đường mới của đời ḿnh. Tôi b́nh tĩnh đến độ
hồn nhiên khi đón nhận những khắc nghiệt đến với đời tôi và
tôi rất lạc quan trong khả năng chuyển hóa hoàn cảnh của chính
ḿnh.
Trong cuộc đời này, tôi đă nhiều lần vấp ngă
nhưng nhiều người cũng đă giúp vực tôi dậy, lau khô những vết
thương trên thân thể và trong cả tâm hồn. Tôi mang ơn xă hội
nhiều đến nỗi biết ḿnh sẽ không bao giờ trả hết. Tôi biết ơn
những người đă che chở cho tôi và cũng cám ơn cả những người
đă dạy tôi hiểu giá trị của gian lao, thử thách. Cám ơn đất
nước đă cho tôi được làm người Việt Nam, cám ơn mẹ Duy Xuyên
mang tôi đến thế gian nầy, cám ơn mẹ Ḥa Hưng nuôi nấng tôi
trong những ngày bà con thân thuộc đă ruồng bỏ tôi, cám ơn cây
đa già chùa Viên Giác che mát cho tôi suốt năm năm dài mưa
nắng. Nếu một mai tôi ra đi không kịp viết điều ǵ, th́ đây,
những kỷ niệm của một lần ghé lại.
Trần Trung Đạo
http://www.trantrungdao.com/ (Giới thiệu
hai tác phẩm: Tâm Bút Trần Trung Đạo, và Thơ Trần Trung
Đạo. Để nhận các tác phẩm này xin quư vị liên lạc trong các
h́nh thức dưới đây: Bưu điện: Tran Trung Dao,
774 Granite Street, Braintree, MA 02184 USA
Email: trantrungdao@aol.com
hay trantrungdao@trantrungdao.com
Điện thọai: Trần Trung Đạo 781-848-0344)
|