|
BÀI CHÒI
Huỳnh Hữu Uỷ
Suốt trên dải đất dọc miền Trung Trung bộ, từ Bình Trị
Thiên qua Nam Ngãi và vào đến Bình Định, Phú Yên, cứ vào những
ngày Tết đến lại xuất hiện trong sinh hoạt giải trí dân giã
một trò chơi bài bạc mang nặng tính chất đình đám hội hè: trò
chơi bài chòi. Bài chòi sử dụng những quân bài của bộ bài tới
thường được chơi giữa sáu người là anh em, bà con trong gia
đình, rồi biến thành một lối chơi nơi công cộng, trước sân
đình làng hay bên đình chợ, ngồi trên 11 nhà chòi cao hai hay
ba thước, năm chòi dựng bên trái, năm chòi dựng bên phải, ở
giữa là một chòi “trung ương”. Đánh bạc không cốt ăn thua, mà
chỉ để vui xuân, để giải trí, cốt để hô bài chòi, một loại
sinh hoạt văn nghệ rất đặc biệt, đậm đà tính dân tộc, và có lẽ
ít nhiều cũng mang hơi hướm một buổi trình diễn hát bội hay
chèo tuồng nơi hương thôn ngày trước. Bài chòi, trước đây đã
có nhiều người nghiên cứu và khảo sát khá kỹ, riêng về bài tới,
cũng có một đôi người để ý đến nhưng chưa được đầy đủ gì lắm.
Hôm nay, chúng ta sẽ thử lật lại xem một số quân bài tới, đặc
biệt lưu ý đến những nét vẽ, hình tượng độc đáo trên các quân
bài, độc đáo đến độ đôi lúc rất kỳ dị, khó hiểu
[1] .
|
 |
|
Tổ tôm
điếm (trích từ sách Connaissance du Việt Nam) |
Bài tới ở miền Trung cũng như tranh Tết ở miền Bắc, thường chỉ
xuất hiện vào những ngày Tết đến, kéo dài trong tháng Giêng là
tháng ăn chơi, rồi sẽ tàn nát đi vì chất liệu thô sơ, giản dị,
nghèo nàn khi tháng Hai đến, khi nhân dân bắt đầu bắt tay trở
lại với nhịp sống lao động sản xuất bình thường.
Không được bền chắc, đẹp đẽ và sang trọng như một bộ bài Tây
hay bài Tàu, bài tới thường được in ra từ những làng quê xa
xôi, hẻo lánh, theo kỹ thuật mộc bản, in trên giấy dó, giấy
bản đã được phủ qua một lớp điệp, rồi bồi lên một lớp giấy
cứng, mặt sau con bài được quét một lớp phẩm màu đỏ, xanh lá
cây hay xám sẫm.
Trong chừng vài mươi năm trở lại đây, cách in ấn cũng như chất
liệu làm thành quân bài chẳng được canh tân hơn chút nào mà
lại còn kém đi nhiều, vẫn nét vẽ thô sơ, ngưòi ta không còn
phủ điệp trước khi in nét vẽ đen lên, giấy in thì mỏng và xấu,
rồi dán lên trên những tấm bìa cũng rất xấu. Chỉ có một điều
mới, là ngày xưa, trên quân bài có những tên gọi ghi bằng chữ
Nôm thì nay đã được đổi thành chữ quốc ngữ
[2] .
|
 |
|
Bốn
người chơi bài tam cúc (trích từ sách Connaissance du
Việt Nam) |
Ở Huế, có một địa phương là làng Sình, nơi mà cho đến hiện nay
cũng còn để lại rất nhiều vết tích về dân tộc học, về những
đình đám hội hè, trò vui chơi ngày Xuân như đấu vật, bơi
thuyền, nằm về phía đông bắc kinh thành Huế, đi về phía chợ
Bao Vinh thuộc làng Thế Lại, từ đấy vượt qua sông Bao Vinh sẽ
gặp làng Sình. Sình là tên gọi quen thuộc trong dân gian, tên
chính thức là làng Lại An, nằm cận kề vùng duyên hải, nơi có
tiếng lắm tôm nhiều cá như trong dân ca Huế vẫn thường nhắc
nhở: “Cá tôm mua tại chợ Sình. Triều Sơn bán nón, Bao Vinh bán
đường”, mà cũng là nơi chuyên nghề in tranh cung cấp cho các
cửa hàng vàng mã, đặc biệt nhất là sản xuất những bộ bài tới,
cung cấp cho đồng bào quanh Huế và các vùng phụ cận vui chơi,
giải trí trong những ngày Xuân mới. Về sau này, người Tàu sinh
cư buôn bán quanh vùng cầu Gia Hội, ngay ở chính trung tâm
thành phố, đã in ấn bộ bài tới một cách có kế hoạch và qui mô
hơn, tuy cũng chỉ bằng kỹ thuật mộc bản mà thôi.
Nếu bài chòi là một thú vui chơi hoàn toàn Việt Nam, do người
Việt tự nghĩ ra, không vay mượn của nước nào thì bài tới cũng
thế, rất Việt Nam, cả hình thức cũng như nội dung. Ở miệt Huế
và Quảng
Nam,
trong dân gian có bài vè:
Nghe vẻ
nghe ve
Nghe vè bài tới
Cơm chưa kịp xới
Trầu chưa kịp têm
Tôi đánh một đêm
Thua ba tiền rưỡi
Về nhà chồng chửi
Thằng Móc, Thằng Quăn
Đánh sao không ăn
Mà thua lắm bấy
Tôi lấy tiền cấy
Cho đủ mười ngày
Bảy giày bảy sưa
Cũng là nhịp kéo
Chị em khéo léo
Dễ mượn dễ vay
Thân tôi ngày rày
Dầm sương dãi nắng
Chị em có mắng
Tôi cũng ngồi đây
Nó là năm giày
Nó cũng a dua
Ăn thì tôi lùa
Thua thì tôi chịu.
[3]
|
 |
|
Một số
lá bài vẽ theo bộ bài do Ðoàn Viết Hùng sưu tầm được ở Phú
Yên (Xem chú thích số 2). Hàng trên, từ trái sang:
Cửu gấu, Thất liễu, Ngũ trợt, Tam quăng, Nhứt nọc. Hàng
dưới, từ trái sang: Ông ầm, Bát dừng, Lục chạng, Tứ
tượng, Nhì nghèo. |
Thằng móc, thằng quăn, bảy giày, bảy sưa, năm giày, là tên gọi
của mấy quân bài, chỉ cần kể đủ tên của ba mươi quân bài cũng
đủ làm cho chúng ta hết sức buồn cười. Những tên gọi nôm na,
dễ dãi, hài hước, tinh nghịch, tiếng Nôm pha tiếng Hán, khi
gọi thế này, khi gọi thế khác, có khi tên gọi chẳng gợi ý
nghĩa gì cả mà phải xem vào nét vẽ trên con bài mới thấy được
một điều gì đó. Xin kể đủ tên tất cả ba mươi con bài
[4] dưới đây, để trong thoáng chốc chúng ta có thể sống
lại và hoà vào giữa các trận cười ồn ào, dân dã, rất ngây ngô,
hồn nhiên. Tiếng cười của những bà mẹ quê chất phác, hiền hoà
vang lên dòn tan khi đang cùng nhau ngồi chơi bài tới giữa
những ngày Xuân Tết, trên một chiếc giường tre nơi góc nhà vừa
được trải lên một chiếc chiếu hoa mới, nghe gọi tên những con
bài rất vui tai, ngộ nghĩnh, đôi lúc tưởng như tục tĩu, thô lỗ,
nhưng vẫn rất tự nhiên: bảy giày, bảy sưa, ba gà, ba bụng, nọc
đượng, năm rún, ông ầm, bạch tuyết (đôi nơi gọi là bạch huê,
có khi còn gọi là con l…), tứ tượng, ngủ trưa… Tiếng cười cợt
ồn ào ấy đúng là chỉ phát xuất ở chốn thôn dã, đồng quê, chợ
búa, nơi sinh hoạt của quần chúng nhân dân lao động bình
thường, chứ chẳng thể nào nổ bung ra giữa những nho sĩ nghiêm
trang, đạo mạo, đúng mực chi hồ giả dã của một thời nào, thời
mà đạo lý, nếp nghĩ và nếp sống phong kiến đang đè nặng lên
các phần đất tổ quốc. Bộ bài tới cũng là một tấm gương nhỏ
phản ảnh phần nào dòng văn hoá nghệ thuật sống động và tự do
của nhân dân, không dính líu gì đến dòng nghệ thuật cung đình
chính thống.
Ba mươi con bài này cũng được xếp thành ba pho: văn, vạn, sách
như trong lối chơi tài bàn, tổ tôm, mỗi pho là chín con
(9x3=27), ba con còn lại được xếp thành ba cặp yêu: cặp ông
Am, cặp Thái tử, cặp Bạch Tuyết. Như vậy, lúc chơi bài tới
giữa sáu người với nhau, phải có 60 quân bài tức 30 cặp tất cả
(27x2=54+3 cặp yêu).
Dưới đây là tên tất cả 30 quân bài:
Chín
Gối, Lục Xơ, Nhì Nghèo,
Thất Nhọn, Trường Hai, Trường Ba,
Tứ Hường, Tám Giây, Đỏ Mỏ,
Sáu Tiền, Tám Tiền, Học Trò,
Cửu Thầy, Bảy Sưa, Bảy Liễu,
Ngủ Trưa, Tam Quăn, Năm Giày,
Ba Gà, Nọc Đượng, Tứ Gióng,
Bát Bồng, Nhị Đấu, Tứ Tượng,
Chín Xe, Năm Rún, Bằng Đầu,
Bạch Tuyết, Thái Tử, Ông Am.
Tên gọi các quân bài đã lạ lùng, kỳ dị, hình vẽ trên các quân
bài càng kỳ dị và lạ lùng hơn, nó gợi lên một thế giới đầy bí
hiểm, vượt lên trên cách nhìn bình thường. Tựa như cách nhìn
của những trường phái hội hoạ mới, từ chối hình thể hay thanh
lọc thực tại đến kỳ cùng, trừu tượng hoá sự vật, hoặc là đi
đến chỗ siêu thực tại, hoặc cách điệu và ghi nhận thực tại một
cách ngây ngô, hồn nhiên như trẻ con, Những hình vẽ mà chúng
ta không sao hiểu nổi đã phát xuất từ những cơ cấu trí tuệ như
thế nào. Nó phảng phất đâu đây một chút không khí u uất rất
Chàm hay Phù Nam, những hình ảnh, đường nét, kiểu thức rất Tây
Nguyên, có khi gợi dậy một chút xa xăm phi thực, mù mờ của bùa
chú, hay của một cuộc sống hoang dã bên ngoài cõi đời văn minh.
Trong một khảo sát về trò chơi bài chòi trước đây, Võ Phiến đã
nhận xét về hình tượng các quân bài này: Nó gợi lên cảm tưởng
hoặc nét vẽ của các hoạ phái siêu thực, vô hình dung, lập thể,
hoặc nét vẽ trên các mộ cổ Ai Cập. Nhận xét ấy tương đối tinh
tế, thú vị và xác đáng
[5] .
Về hình vẽ trên các quân bài, sắp riêng theo từng pho một,
chúng ta sẽ thấy ở mỗi pho có một cách biểu đạt gần gần giống
nhau. Các quân bài thuộc pho văn sử dụng những cách điệu gần
gũi lối hình học, có những miếng tròn như bánh xe, đồng tiền
hay nửa đồng tiền.
|
 |
|
Hình
các con bài, trái: Nhị đấu [thuộc pho Vạn]; phải: Bảy liễu
[thuộc pho Văn] |
Các quân bài thuộc pho vạn thì đều vẽ mặt người với những nét
rằn rịt theo kiểu tranh thờ khắc gỗ dân gian, trên mỗi quân
bài có ghi thêm hai chữ nho từ nhất vạn đến cửu vạn như chín
quân bài trong bộ bài tổ tôm. Ba cặp bài yêu cũng chứa đựng
lối vẽ như thế. Các quân bài thuộc pho sách thì đặt biệt có
những nút tròn nhỏ, giữa vòng tròn có một chấm đen, ngoài
những vòng tròn này còn có những đường vạch ngang rất đều, có
thể hình dung như được quấn tròn đều đặn bằng dây mây. Ông
Nguyễn Văn Y, nguyên Giám đốc Viện Bảo tàng Mỹ thuật Hà Nội,
trong một bài giới thiệu sơ lược về những bản in tay khắc gỗ
của bộ bài tới, trên tuần báo Văn hoá Nghệ thuật khoảng giữa
năm 1977, do vậy, đã tạm xếp các quân bài theo lối vẽ này là
quấn mây thắt nút.
Chúng ta hãy lật lại một số quân bài đầy thú vị này, thưởng
thức hương vị kỳ lạ của cuộc sống dân dã, là bó hoa đồng nội
mà chắc chắn đã được dần dà hình thành từ một trường kỳ lịch
sử, trên chuyến viễn du hùng tráng và kỳ thú của dân tộc, giữa
những giao lưu, gặp gỡ của đất nước anh hùng và cuộc sống mới
trong thời quá vãng.
Trước tiên hãy xem qua vài quân bài thuộc pho văn, với lối vẽ
gần gũi những cách điệu hình học, chỉ trừ con chín gối (còn
gọi là chín nút), những điểm chính giống với loại quấn mây
thắt nút, có chín nút tròn nhỏ và những vạch ngang. Con sáu
tiền, vẽ sáu nửa đồng tiền ghép lại với nhau, từng đôi một,
đôi này chồng lên đôi kia. Hình này khá giản dị, ai cũng hình
dung được, nếu vận dụng để đưa vào trong những mô típ đề-co
hiện đại cũng sẽ rất hay. Con tám tiền cũng như thế, là tám
nửa đồng tiền ghép lại. Ở vùng Bình Định, lại gọi là sáu miểng,
tám miểng (miểng: tiếng địa phương có nghĩa là mảnh).
|
 |
|
Hình
các con bài, từ trên xuống, từ trái sang: Tám tiền, Học
tro, Bạch tuyết, Cửu thầy, Tứ tượng (con Voi) và Ngủ trưa. |
Con bảy liễu (thất liễu), tính cách trang trí đã phức tạp hơn
con sáu tiền và tám tiền, vẽ bốn đồng tiền ghép lại với nhau,
ở chỗ ghép lại có một nút tròn nhỏ. Giữa các khoảng trống do
các đồng tiền ghép lại có một cành liễu nhỏ không có vẻ gì là
liễu, trông đúng là một thứ phức diệp (foliole), hay thứ lá có
răng cưa (feuille dentée) nhưng vì có chữ liễu trên các con
bài nên ta hãy xem đây là một cành lá liễu. Phía trên bốn đồng
tiền có một hình xoắn trôn ốc như ta vẫn bắt gặp chạm trổ trên
các đồ dùng của người Tây Nguyên.
Con voi, cũng gọi là tứ tượng, ở Quảng Nam lại gọi rất nghịch
ngợm là dái voi. Chúng ta sẽ không thể nào hình dung được đây
là con voi, nhưng với chữ voi chú thích trên con bài, hãy tập
trung cách nhìn, gạn lọc đối vật đến mức độ giản dị nhất,
nghĩa là trừu tượng hoá hình ảnh một con voi được trang trí
vào ngày lễ hội, nhìn từ trên xuống, chúng ta sẽ đoán được các
phần đầu voi, hai tai voi, lưng voi, bành voi. Lối trang trí
cách điệu này vẫn thường được gặp khắp các vùng dân tộc thiểu
số như Thái, Mường, H’ Mông, Dao, Ê-đê, v.v… đặc biệt nhất là
trên các cạp váy, đồ thêu, những chạm khắc bằng tre, gỗ, đồng
ở vùng Tây Nguyên. Lấy một vài mẫu thêu, vài mẫu khắc trang
trí rất trừu tượng của người miền núi, hỏi về ý nghĩa, chúng
ta sẽ được giải đáp rất rành mạch, đây là hoa ban, cây Kơ-nia,
đoàn người, là những thứ hoa sặc sỡ và vui tươi nhất của dân
tộc Ê-đê: hoa Dua, hoa Ê-prang, hoa Gấc, hoa Mi-ê, là chim
Xìn-tra của dân tộc Ta-pan, là hình cỡi ngựa, chim đậu trên
cây trên các trang phục của người Dao.
Con trường hai, vùng Bình Định gọi là nhì bánh, tương tự như
một phần của hình con voi, in hình hai mảnh hình thuẫn, có
người cho là hình hai chiếc bánh xe, thực ra, có thể đây là
hình ảnh của bất kỳ thứ bánh gì: bánh xe, hay là hai ổ bánh
lớn để ăn, muốn nghĩ thế nào thì ra thế ấy.
Con trường ba, cũng như con trường hai, nhưng khác ở chỗ là
chồng vào giữa hai mảnh hình thuẫn trên một mảnh hình thuẫn
khác, và giữa mảnh hình thuẫn này là những đường hình thoi lớn
nhỏ, chồng chồng lên nhau. Con trường ba rất nhiều người ở Huế
gọi là trạng ba, cắt nghĩa là ông Trạng đỗ ba khoa, nhưng như
vậy có nghĩa là thế nào? Chẳng có chút gì ở đây để có thể gợi
nên hình ảnh một con người, chứ chưa nói đến hình ảnh một ông
Trạng, chẳng có một chút liên hệ nào giữa tên gọi và hình vẽ.
Với con bài Trạng ba chẳng hạn, người ta có thể cắt nghĩa rằng
đây là quân bài do một hoạ sĩ tài tử nào đấy vẽ ra, hình vẽ
đôi lúc chẳng cần biểu lộ một ý nghĩa nào cả, nó chỉ mang tính
chất một dấu hiệu mà thôi. Những người lưu đãng xa nhà, không
có sẵn trong tay một bộ bài thực đàng hoàng để giải trí với
nhau, đành tự tạo ra ba mươi dấu hiệu cho ba mươi quân bài, để
làm thành một bộ bài hoàn toàn mới mẻ. Và cũng do tính cách
tài tử ấy mà chúng ta có một bộ bài vô cùng hấp dẫn, cái hấp
dẫn của một thứ mời gọi bí hiểm, lạ lùng. Vậy nên, trước một
quân bài, đôi lúc phát giác thêm một ý nghĩa mới, người ta lại
đặt thêm một cái tên nữa cho lá bài, có lúc rất vui, rất dí
dỏm, bộc ra được tất cả tiếng cười đùa tự nhiên, thoải mái.
Tên gọi những con bài do thế cũng thay đổi tuỳ vào địa phương,
như con voi cũng gọi là tứ tượng, dái voi; tám giây cũng gọi
là tám hột; trường hai có nơi gọi là nhì bánh, có lúc gọi là
nhì xe; chín gối có khi gọi là nhất gối, có khi gọi là chín
nút; con tứ hường cũng gọi là cẳng hương, hay tứ cẳng v.v… Và
ở vùng Qui Nhơn, Bình Định, Phú Yên lại có những tên gọi rất
quái quỷ, không có nghĩa gì cả, mà âm thanh gọi lên lại bày ra
cả một thế giới của những trận cười cợt ồn ào, thô sơ, hoang
dã: cửu điều, ngũ trợt, ngũ dụm, ngũ dít, đổ ruột, sáu miểng,
chín gan, lục chạng, sáu bường…
Bây giờ chúng ta xem đến một số quân bài thuộc pho sách, đặc
biệt có những nút tròn nhỏ và các vạch ngang đều đặn, rồi phía
dưới là những vạch chồng chéo đối xứng nhau. Trước tiên là con
tứ gióng, vẽ một đôi quang gióng, ở trên có quai xách, dưới có
chân đế kiềng ra hình tam giác, thân gióng là bụng phình hình
bầu dục, nơi điểm tiếp giáp của thân gióng, quai xách và chân
đế là hai nút tròn nhỏ, giữa nút tròn là chấm đen như mắt cua.
Đã nhìn thấy đôi gióng ở miền Trung Trung bộ, rất giản dị,
bằng tre, mây hay bằng thép, có bốn quai, phía trên túm lại,
phía dưới xòe ra và thắt nút rồi quấn chặt cân bằng trên bốn
điểm của một vòng tròn, chúng ta sẽ không thể tưởng tượng nổi
làm thế nào nhà nghệ sĩ dân gian tài tử của chúng ta đã quan
sát, suy nghĩ và vẽ nên đôi gióng trên con bài này. Hẳn rằng
đấy là cách thu nhận sự vật với đôi mắt thơ dại tuyệt vời.
Về mặt nội dung, dù thế nào cũng hiển nhiên là những đôi gióng
này đã nặng nợ lắm với dân tộc trên hành trình tay xách nách
mang tiến về phương Nam, đấy là hình ảnh đôi gióng của gần 10
thế kỷ trước, từ thời quân đội nhà Lý đặt chân lên thành Đồ
Bàn, hay từ hơn ba thế kỷ trước, cùng với những bước chân của
lưu dân đi xây dựng đất mới dưới thời các Chúa Nguyễn?
Con nọc đượng có lẽ là con bài đáng chú ý nhất, đối lập với
con bạch tuyết sẽ đề cập ở dưới.
Trong một cuộc chơi bài chòi, khi rút đến con nọc đượng, anh
hiệu, một người có nhiều khả năng văn nghệ giữa thôn xóm, làng
mạc, hô những câu hát bài chòi báo hiệu cho mọi người trong
cuộc chơi về quân bài vừa rút được, có thể sẽ hô lên như vầy:
Cần
trúc, ống trắc, lưỡi sắc, chỉ nọ tơ Tàu
Anh đây muốn câu con cá mại biển
Cá mại bàu sá chi!
Mấy câu trên, nghe qua, chúng ta cũng phần nào thấy được cái
chí của kẻ nam nhi; sống đời phong lưu thì cũng phải vác cần
đi câu ngoài biển Đông, chứ sá gì con cá mại tẹp nhẹp trong
vũng bàu. Mà hơn thế nữa, câu hát cũng có gợi lên đôi chút
hình ảnh chiếc cần câu ngúc ngắc, vậy thì đúng là con nọc
đượng rồi. Cũng có lúc anh hiệu lại cất lời với một câu thai
man mát, có gợi âm gợi hình đôi chút về chiếc cọc đã cắm xuống
rồi lại nhổ lên; cắm xuống để giữ con thuyền, rồi nhổ lên để
đẩy thuyền đón khách.
Đò em
đưa rước bộ hành
Thuyền nan một chiếc tử sanh trọn bề
Trải qua bãi hạc, gành nghê
Quanh năm chèo chống, tứ bề sóng xô
Tiếng ai văng vẳng gọi đò
Mau mau nhổ nọc chèo qua đón người.
Cắm cọc, cắm nọc, hay cắm sào đợi khách sang sông, những từ
ngữ và hình ảnh ấy đều để dẫn đến con nọc đượng, hay nọc thược,
hay nhất nọc trong pho sách của bộ bài chòi. Có lúc khác nữa,
mấy câu hát trên chưa đủ mạnh, anh hiệu sẽ cương lên mà hô với
giọng nghịch ngợm, pha đôi chút phấn khích, hồ hỡi.
Năng
cường, năng nhược,
Năng khuất, năng sanh,
Nó thiệt cục gân,
Ngồi gần con gái trân trân chẳng xìu.
Lời hô trên nghe có vẻ như tục tĩu, thô lỗ, sống sượng, nhưng
đào sâu vào chúng ta sẽ thấy đáng được quan tâm nghiên cứu đến,
bởi lẽ nó mang nhiều dấu vết về cách nhìn của con người trước
thế giới tự nhiên, dấu vết của một vũ trụ quan vào những thế
kỷ xa xưa.
Ngày nay, đi ngược lên những vùng thượng du, quan sát sinh
hoạt của người miền núi, chúng ta sẽ thấy đời sống sinh dục ở
nhiều nơi vẫn còn là một điều rất tự nhiên. Người ta tắm rửa
với nhau trần truồng bên bờ suối không một chút e dè. Những
phần cơ thể cần phải che giấu, cấm kỵ ở miền xuôi, nơi đây
ngượi lại, hoàn toàn phô bày ra không có gì phải xấu hổ. Người
Ê-đê và Gia-rai vẫn nói đến cái đẹp của một đôi vú cong vút
lên như ngà voi, đôi mông tròn đầy như trứng chim. Cái đẹp ấy
rất phù hợp với bản năng sinh tồn để bảo vệ giống nòi.
Xa xôi hơn trong lịch sử và thời gian, trên suốt dải đất miền
Trung và Nam Trung bộ hiện nay, người Chàm của đất nước Champa
cổ có tục thờ Linga tượng trưng cho dương vật và Yoni tượng
trưng cho âm vật. Việc thờ phượng vật tổ này, bắt nguồn từ tục
thờ đá rất xưa ở hải đảo và khắp vùng Đông Nam Á, chắc chắn
phải có nhiều liên quan đến hình thái thờ phượng đất đai, là
thần linh mang lại sức sống, năng lực sinh tồn, sự phồn thịnh
của mọi loài sinh thực vật trên địa cầu.
Linga là một cột đá, gồm ba phần: đầu tròn, thân tám cạnh và
một chân đế hình vuông. Yoni là một chậu đá hình vuông hay chữ
nhật, có một rãnh nước thoát gần như phần dưới của một cối đá
xay bột. Các vua Chàm lúc vừa lên ngôi đều cho dựng cột Linga
quốc bảo, có nghĩa là nhà vua đã tự mình đồng nhất với thần
linh, với con mắt thấu suốt và tái tạo, với năng lực sinh tồn
hằng cửu, khẳng định quyền lực của mình và dòng họ trước trời
đất và con người. Các tô-tem này cũng thường được rước theo
trong những ngày hội có nhảy múa, ca hát.
Trên miền Bắc đất nước, một số nhà nghiên cứu văn học, sử học,
dân tộc học, khảo cổ học cũng ghi nhận được nhiều vết tích còn
đậm nét những hình thái tương tự như thế, đề cao sự sinh sôi
nẩy nở, đề cao tính năng và sự tự do luyến ái, như việc thờ
dâm thần và một số tập tục khác rải rác nhiều nơi tỏ ra rất
quí trọng sinh thực khí, như đám rước âm vật ở làng Đông Kỵ,
rồi trò chơi tranh giành nõn nường, mà theo Bình Nguyên Lộc
thì dân miền Trung gọi là lỗ lường. Với tục múa mo, âm vật và
dương vật được thay bằng cái mo và cây tre; con trai được gọi
là Chày, và con gái là Sọt, y hệt như các tiệm chạp phô ở Ấn
Độ bày chày và cối bán cho người ta mua về để thờ.
[6]
Một hình ảnh khác được ghi nhận cũng rất sống động là chiếc
thạp đồng Đào Thịnh (Yên Bái) cao trên 80 phân được tìm thấy
năm 1960 đã trở nên quen thuộc với nền văn minh Đông Sơn của
người Việt cổ. Trên nắp chiếc thạp này, bốn chiếc quai đắp nổi
là bốn cặp nam nữ đang giao hợp xen kẽ vào giữa những hoa văn
chạm nổi. Người dân Việt cũ, trên đường thiên cư từ Bắc vào
Nam, mang những cảm quan và suy nghĩ ấy đi theo cuộc hành
trình, đã gặp gỡ quan niệm của dân tộc Champa, và khi vì nhu
cầu giải trí, phải làm ra một bộ bài để vui chơi với nhau,
những hình tượng ấy đã xuất hiện trở lại trên hai con bài bạch
huê, nọc đượng. Ông Hoàng Chương, trên tạp chí Văn nghệ xuất
bản ở Hà Nội, số 50, tháng 7-1961, trong một bài nghiên cứu về
hát hô bài chòi đã cho rằng: Những vật thể ấy (tức là Linga và
Yoni của người Chiêm Thành) được vẽ trên những con bài gọi là
bạch huê, nọc đượng, của bài chòi hiện nay. Tôi không biết lúc
viết bài này, ông Hoàng Chương có nắm trong tay các quân bài
hay không, nhưng thực sự chỉ có con bạch huê, về mặt hình
tượng, gợi lên ít nhiều hình dạng của âm vật, còn con nọc
đượng, chỉ có tên gọi gợi lên một cách khá sống động hình ảnh
Linga, hình vẽ thì tuyệt nhiên không còn liên hệ gì đến vật
thể ban đầu.
|
 |
|
Hình
các con bài, từ trái sang: Ba gà, Tứ gióng, Nọc đượng,
Nhì nghèo. Hãy đối chiếu với hình chim và mái nhà sàn
trên trống đồng Ngọc Lũ (Bản vẽ của Hà Nguyên Ðiểm) để có
thể cảm ra một bầu không khí chung, một gốc gác chung của
nền văn minh trải rộng ở vùng Ðông Nam Á cổ đại và cận đại
mà bộ bài tới hẳn có nhiều liên hệ đến.
|
Con nọc đượng, từ Quảng Nam đến Bình Định thì gọi khác đi một
chút, là nọc thược. Nọc đượng, có lẽ chỉ nhấn mạnh ở chữ nọc,
đượng là từ phụ không có nghĩa gì cả, ghép vào chỉ để hài
thanh, tạo nên sự trôi chảy về âm thanh, cho dễ đọc, dễ nói,
dễ hô lên mà thôi. Tuy nhiên, đượng cũng có thể là do biến âm,
hoặc đọc trại ra từ tiếng dượng hay trượng. Dượng có nghĩa là
bố ghẻ hoặc chồng cô, chồng dì, như trong câu hát Dì rằng mang
rổ hái dâu, gặp dượng thằng đỏ ngồi câu bên đường. Thấy dì
dượng nó cũng thương.
[7] Và trượng, từ Hán-Việt, có nghĩa là cây gậy hay cái
hèo. Một chữ trượng khác trong trượng phu lại có nghĩa là
người đờn ông, hoặc là tiếng vợ gọi chồng
[8] Như vậy, có thể tạm hiểu nọc đượng như là hình ảnh của
cái cọc hay một cây gậy thẳng đứng được vạt nhọn để cắm vào
đất, và bóng bẩy hơn, đó chính là tiếng gọi thông tục của
linga.
Hình vẽ con nọc đượng quả là hết sức lạ. Xem kỹ, chúng ta sẽ
thấy là một mái nhà sàn ở Tây Nguyên, nhìn từ một bên (profil),
mái nhà nghiêng dốc cao vút. Trên đỉnh mái nhà, đầu một con
chim đã được kiểu thức hoá, khó lòng mà biết loại chim nào,
trông tương tự như chim gõ kiến mà cũng có thể là đầu một con
gà, bởi vì cũng chính đầu con chim ấy lại xuất hiện trên nhiều
quân bài khác, và trên con ba gà thì lại ghi rõ ràng là gà. Ở
đây, tại sao là đầu của một con chim mà không phải của một
loài thú khác? Ở Trung bộ, tiếng chim vẫn được dùng để chỉ đến
dương vật, nhưng thường thì để nói đến trẻ con hơn là người
lớn. Cũng rất có thể, khi vẽ con bài nọc đượng, người vẽ đã
chọn biểu tượng ấy như một ngôn ngữ gián tiếp để phô diễn nội
dung muốn đạt đến.
Trước hình vẽ này, có lẽ chúng ta cũng nên nhớ đến những mái
nhà sàn trên các trống đồng Ngọc Lũ, Hoàng Hạ, chắc chắn rằng
sự đối chiếu cũng sẽ rất hữu ích. Những nhà sàn trên các trống
đồng, ngược lại, được nhìn thẳng vào chính diện, hai đầu cuối
cùng của mái nhà cũng có những nút tròn nhỏ, ở giữa có chấm,
trông tựa như mắt của hai con chim đang vươn cánh bay lên trời,
trên mái nhà thường khắc hình chim rất lớn, đè nặng cả mái nhà.
Chim mỏ ngắn, chân ngắn, mào nhỏ, lông đuôi dài và to, nên có
người đã ước đoán là người làm trống đồng muốn thể hiện hình
dáng con gà lôi (Lophura Nycthemera). Cũng là chim (hay gà)
đậu trên mái nhà sàn, nhưng mỗi nơi lại được nhìn theo một
cách, người nghệ sĩ tài tử của bộ bài tới ghi nhận và cách
điệu sự vật khác hẳn hoàn toàn với người thợ chuyên nghiệp tài
tình đã sản sinh ra những trống đồng của mấy ngàn năm trước
[9] .
Con ba gà và con nhì nghèo, cũng gần với thế giới của nọc
đượng, vậy nên sự gợi cảm mang lại cho người xem đều từ bầu
khí chung ấy. Phần trên quân bài là một đầu chim, bên dưới là
hình ảnh của một mái nhà sàn, từ giữa thân bài, có một đường
giải chạy viền lên đến đầu chim, có thể đấy là túp lông từ cổ
qua bụng nối liền với đuôi chim được cách điệu như thế. Toàn
bộ con nghèo, đầu chim, mình chim, hai nút tròn nhỏ chồng lên
nhau nằm ở giữa thân thắt eo lại, thêm vào đấy là phần cái nhà
sàn bên dưới ghép vào như một thứ đuôi chim xòe ra, tất cả hợp
lại thành hình ảnh một con chim rất kỳ dị giữa những giấc mộng
lạ lùng của chúng ta. Con ba gà, cũng gần như con nọc đượng và
nhì nghèo nhưng có khác đi một tí. Trong cuộc chơi bài chòi,
khi bốc đến con ba gà, anh Hiệu sẽ hô lên hai câu rất vui, lột
tả được tất cả tính mèo mả gà đồng của họ gà, se sua chưng
diện, áo quần sặc sỡ xinh đẹp, suốt ngày là anh chàng họ Sở
ngoài đường phố nhưng tối về cũng chỉ co ro buồn thiu một mình.
Mình
vàng bận áo mã tiên,
Ngày ba bốn vợ tối nằm riêng một mình.
Khi bốc được con Nhì nghèo, anh hiệu lại hô lên mấy câu nói về
cảnh nghèo, mà lại rất vui, đúng ra đó chỉ là một tiếng cười
đùa dí dỏm, vô hại.
Mẹ ơi
chớ đánh con đau
Để con bắt ốc hái rau mẹ nhờ
Bắt ốc, ốc nhảy lên bờ
Hái rau rau héo, mẹ nhờ chi con.
Đến như than vãn thân phận nghèo khổ, thì cũng là lời bông
phèng vui vẻ.
Ngày
thường thiếu áo thiếu cơm
Đêm nằm không chiếu lấy rơm làm giường
Dù dơi, dép bướm chật đường
Màn loan, gối phượng ai thương thằng nghèo.
Con Tám giây, cũng gần tựa như hai cặp gióng chồng lên nhau
nhưng không có quai xách. Tám giây cũng gọi là tám hột vì nó
có tám nút tròn nhỏ cân đối trên hình vẽ của quân bài. Và gọi
tám giây có lẽ vì có tám sợi dây hình vòng cung nối tám nút
trong quân bài thành hai cặp gióng.
Chúng ta hãy xem đến vài con bài thuộc pho vạn gồm chín con từ
thất vạn đến cửu vạn. Phong cách khá lạ, chủ yếu trên mỗi quân
bài là một mặt người tạo thành bằng những nét rằn rịt, gần với
bầu khí chung của loại tranh thờ dân gian nhưng pha nhiều vẻ
hoang sơ hơn. Thô kệch, ngô nghê, vụng về nhưng chính vì thế
rất hấp dẫn, rất gần với cái đẹp hoang dại nơi các điêu khắc
gỗ mộc mạc của Tây Nguyên, của Phi Châu đen hay một số bộ tộc
Úc Châu và Mỹ Châu La Tinh.
Con cửu thầy tức cửu vạn, cũng gọi là cửu chùa vì vẽ hình một
đầu người đội chiếc mũ như các ông thầy cúng, thầy pháp, rất
nhiều nơi không có sự phân biệt rõ ràng, là tình trạng nhập
nhằng của một số người lợi dụng tiếng kinh mõ ê a, rồi cũng
khua chiêng đánh trống, thổi kèn, trộn nhào cả kinh Phật với
bùa chú, bắt quyết gọi âm binh, trừ tà ma, để nhận xôi, gà,
oản chuối của những gia chủ rước thầy về.
Con ngủ trưa tức ngũ vạn, cũng cùng một lối vẽ như con cửu
thầy, chỉ đổi khác đi một chút mà thôi. Ngay giữa con bài,
hình một người có vẻ như đang ngái ngủ, gật gà gật gưỡng giấc
trưa. Hình vẽ này có lẽ cũng mang một chút tinh thần châm biếm
trào lộng đối với những kẻ thích ngủ trưa, mang tật chây lười.
Con lục xơ tức lục vạn, cũng như các con trên, ở đầu quân bài
có chữ xơ, kế tiếp là hai chữ nho lục vạn, kế đến là hình
người. Không có gì chắc lắm, nhưng có người đã giải thích rằng
sở dĩ có có tên là lục xơ hay lục chuôm vì phía trên đầu hình
người có những ô chéo như mảng xơ hay hình nan chuôm.
Tất cả chín con trong pho vạn đều có cùng một phong cách, chỉ
thay đổi thêm bớt một đôi tí mà thôi. Như con học trò (nhất
vạn) thì ở trên đầu nhân vật có đội thêm một cái khăn đóng cho
ra vẻ hẳn hoi là con nhà nghiên bút! Anh Hiệu sẽ hô về con học
trò:
Đi đâu
ôm tráp đi hoài,
Cử nhân không thấy tú tài cũng không.
(Là con học trò)
Nghe hô như thế, lại nhìn vào con bài thì người đến giải trí
trong cuộc chơi bài chòi sẽ có thể phá lên mà cười như nắc nẻ.
Con tứ cẳng cũng gọi là con cẳng hương (tức tứ vạn): cũng như
tất cả các con bài thuộc pho vạn nhưng chỉ riêng ở con này là
khuôn mặt người không nhìn thẳng mà hơi lệch đi, ở phần dưới
có bốn mảnh hình tam giác gần như bốn màng chân vịt xòe ra, có
thể vì thế mà gọi là tứ cẳng. Ở Huế, người ta còn gọi là tứ
hường. Hường tức là hàm Hồng Lô Tự Khanh của triều đình nhà
Nguyễn cũ, kêu tắt lại, như trong các tiếng quan hường, quan
thị. Như vậy con bài ở đây cũng mang một nội dung châm biếm
trào lộng cay độc, quan hường đã xuất hiện nơi đây với một thể
dạng xô lệch rằn rịt, không mang bài ngà mà lại kéo theo bốn
cái chân vịt lạch bạch. Xét về mặt kỹ thuật khắc gỗ, nét vẽ
đen nổi trên nền trắng, chỗ đậm chỗ nhạt đặt đúng nơi đúng chỗ,
phải công nhận là lối cách điệu này tuy giản dị nhưng rất tài,
bố cục chặt chẽ, nhuẫn nhuyễn, hấp dẫn. Phải nhớ một điều, nếu
là người nghệ sĩ chuyên nghiệp, rất khó mà cống hiến được cho
ta một hình tượng như thế, ở đây là nghệ thuật của bản năng,
của tài tình tự phát, của tài tử nghiệp dư mà dần dà, vì gần
gũi với cuộc sống của đại chúng nên đã nhập vào sâu sắc trong
cuộc sống của nhân dân. Những nét nghệ thuật độc đáo của một
dòng nghệ thuật tự do như vậy rất đáng cho chúng ta ngày nay
phải lưu tâm nghiên cứu và học hỏi.
Ba lá bài thuộc ba cặp yêu: ông ầm, thái tử, bạch tuyết, về
mặt phong cách tạo hình, có thể xếp luôn vào loại vừa đề cập.
Con bạch tuyết, đối lập với con nọc đượng, là quân bài cũng
hết sức đáng chú ý. Nọc đượng là biểu tượng của dương vật thì
bạch tuyết là biểu tượng của âm vật, là vật tổ Iôni của dân
Champa cổ tái hiện trở lại theo một cách khác. Bạch tuyết ở
vùng Bình Định gọi là bạch huê, và khi rút được từ trong ống
lá bài này giữa một hội chơi bài chòi, anh Hiệu có thể rề rà
hát lên một bài thơ lục bát, chữ nghĩa dân dã nhưng cũng pha
một chút văn chương bác học, phảng phất chút đỉnh hơi thơ Hồ
Xuân Hương:
Hoa phi
đào phi cúc
Sắc phi lục phi hồng
Trơ như đá vững như đồng
Ai xô không ngã, ngọn gió lồng không xao
Mỉa mai cụm liễu cửa đào
Ong qua muốn đậu, bướm vào muốn bu
Bốn mùa đông hạ xuân thu
Khi búp, khi nở, khi xù, khi tươi.
Chúa Xuân ngó thấy mỉm cười,
Sắc hay vương vấn mấy người tài danh.
Có bông, có cuống, không cành
Ở trong có nu, bốn vành có tua.
Nhà dân cho chí nhà vua
Ai ai có của cũng mua để dành.
Tử tôn do thử nhi sanh,
Bạch huê mỹ hiệu xin phành ra coi.
Trong không khí riêng của đất Huế, về con bạch tuyết, anh hiệu
lại có thể cất giọng hát lên mấy câu rất dân dã mà vẫn óng ả,
cầu kỳ, và kiểu cách:
Cần
vàng, ống bạc, chỉ tơ
Anh móc mồi thơm thả xuống
Cá nọ giả lơ không thèm.
Cũng vậy, là mấy câu khác nữa:
Tiếc
con tôm rằn nấu với rau má
Tiếc con cá bống thệ nấu với lá cỏ hôi
Tiếc công em trang điểm phấn dồi
Ra lấy chồng không đặng cân đôi cũng buồn.
Chúng ta hãy xem qua hình vẽ trên quân bài này. Hình tượng
trông tựa như hai nhánh lá hoặc hai nhánh rong, nhánh ở trên
là nét đen nổi bật trên nền trắng, nhánh dưới là nét trắng nổi
bật trên nền đen. Nhánh lá rất có thể là một nhành liễu vẫn
tượng trưng cho người phụ nữ, nhưng theo ý tôi, đấy là âm vật
được cách điệu một cách bay bướm, nhẹ nhàng, do thế đã tránh
được cái nặng nề phải mô tả đối tượng theo lối chính xác.
Về mặt kỹ thuật, với nét đen và trắng của hai nhánh lá ở đây,
tuy rất giản dị nhưng đã tỏ ra biết đào sâu vào phương thức
tạo hình của nghệ thuật mộc bản dân tộc, biết khắc hoạ những
nét đen, biết đục sâu vào nền gỗ để tạo những nét trắng, gây
nên tương phản về sắc độ rất hấp dẫn.
Con thái tử vẽ hình người mang hia, đội mão ra vẻ con nhà vua,
người được chỉ định sẽ nối nghiệp cha trị vì đất nước. Hình vẽ
giản lược phần thân mình, chỉ còn là một hình vuông giữa một
khối bầu dục có những nét rằn rịt, hình vuông chứa những chấm
đen nhỏ chạy thành hàng đều đặn. Hình vẽ nặng tính cách biểu
tượng với thể dạng cái mão và đôi hia, lộ ra ngay dáng dấp áo
mão cân đai. Phía trên đầu nhân vật, một mảnh son đỏ hình hơi
tròn in chồng lên đấy như một dấu triện. Sự tham dự của màu đỏ
son ấy cũng tìm thấy trên con đỏ mỏ tức con ác, con ma trùng,
và đặc biệt nhất là trên con ầm tức con sấm, người ta in chồng
lên các nét vẽ đen một lớp son đỏ phủ lấy toàn thể quân bài
như vẫn thấy trên các đạo bùa, những nét vẽ đen, đỏ, ngoằn
ngoèo chồng chéo lên nhau.
Nhắc đến con ầm tức con sấm, có lẽ chúng ta cũng nên nhớ lại
hai câu hát bài chòi khá vui mà anh hiệu có thể sẽ hô lên khi
rút đến thẻ bài này. Chỉ cần một tiếng ầm âm vang để mọi người
dự cuộc chơi biết ngay là đã bốc trúng con Am, chứ chẳng cần
tiếng ầm ấy liên hệ gì với cái nghĩa tiếng sấm ầm ầm, giữa bầu
trời đầy mây tối hay mưa gió bão bùng mù mịt.
Nửa đêm
gà gáy le te
Muốn đi rón rén đụng nghe cái ầm.
(Ông Am!)
Chúng ta vừa xem qua một số hình tượng lạ lùng trên các quân
bài tới. Với các hình ảnh ấy, với những ý nghĩa ấy, có lẽ
chúng ta phải thừa nhận rằng chúng hết sức lạ lùng, hấp dẫn,
đặc sắc. Từ hình vẽ cho đến tên gọi, đều là quá đỗi kỳ lạ. Ở
nơi đây, tất cả đều tan biến,chỉ còn lại tiếng cười đùa dí dỏm,
thoải mái, nghịch ngợm của nhân dân. Chúng ta thấy những hình
ảnh con gà nằm cạnh ông Thái tử, đôi gióng đứng bên ông ầm,
con voi chơi đùa với ông thầy chùa, anh học trò, anh chàng ngủ
trưa, con nọc đượng cũng như con bạch huê đuề huề với một quan
hường (cẳng hương). Dưới những triều đại phong kiến cũ, tiếng
cười dòn dã và hồn nhiên ấy tất nhiên còn phải được lý giải
trên cả những nhịp điệu của đời sống chính trị, đó cũng là một
thứ vũ khí, dù tiêu cực và có thể là vô thức, để đấu tranh
chống bạo lực và cường quyền thống trị.
Về mặt nghệ thuật tạo hình là điều cốt yếu mà bài viết này
nhằm đạt đến, bộ bài tới chắc chắn sẽ có nhiều đóng góp hữu
ích, phong phú đối với kho tàng nghệ thuật đất nước. Các nghệ
sĩ hiện đại chắc chắn sẽ tìm được ở đây nhiều điều rất mới mẻ.
Và hẳn rằng các nhà dân tộc học, khảo cổ học cũng sẽ còn nhiều
vướng bận ở đây.
Viết ở Sài Gòn năm 1985
Sửa chữa lại ở
California,
2005.
[1]
Về bài chòi, xem thêm:
-
“Khảo về
bài chòi”, Võ Phiến, Tân Văn, số 1 tháng 4, 1968
-
“Bài
chòi ở Bình Định”, Tạ Chí Đại Trường, Sử Địa số 5, tháng 1,
2, 3, 1967.
-
“Những
hội mùa Xuân”, Nguyễn Văn Xuân, Tân Văn, số 9, 10, tháng 1,
2, 1969.
-
Nước non
Bình Định, Quách Tấn, Nam Cường xuất bản, Sài Gòn, 1967.
-
“Phong
thổ Huế” trong Lược khảo về mỹ thuật Việt Nam, Từ Lâm Nguyễn
Xuân Nghị, Quốc Học thư xã, Hà Nội 1942.
-
Đào Đức
Chương,“Bài Chòi Bình Định”, Giai phẩm Tây Sơn Xuân
CanhThìn2000
http://chimviet.free.fr/dantochoc/baichoi/baichoi1.htm
(18 tháng 4, 2005).
-
Cũng xin
xem thêm Connaissance du Việt Nam, Pierre Huard và Maurice
Durand, Ecole Francaise d’Extrême-Orient xb, trang 224-226,
Hà Nội, 1954, viết về Tổ tôm Điếm, cũng là một loại bài chòi
nhưng có vẻ sang trọng hơn. Nhân đây, chúng tôi trích in lại
bản vẽ về Tổ tôm Điếm trên đất Bắc ngày trước, từ sách
Connaissance du Việt-Nam. Cạnh đó, chúng tôi cũng trích in
hình vẽ cảnh bốn người chơi bài tam cúc, chẳng khác mấy với
cảnh tượng một đám chơi bài tới, tuy nhiên chơi bài tới đòi
phải có 6 tay, để chúng ta có thể sống lại phần nào một khía
cạnh sinh hoạt của đất nước ngày xưa.
[2]
Về sau này, ở vài nơi sản xuất bài tới, người ta còn xoá hết
tất cả phần chữ viết, bất kể Nôm, Hán, Quốc ngữ, hoặc chỉ còn
giữ lại vài chữ mà thôi trên toàn thể các con bài. Ví dụ, đó
là bộ bài tới do ông Đoàn Việt Hùng sưu tầm được ở thôn Phú Ấn,
xã Hoà An, huyện Phú Hoà, tỉnh Phú Yên, in đính kèm bài viết
“Ngày Tết đánh bài chòi” của Trần Sĩ Huệ trên tạp chí Xưa và
nay của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Xuân Quý Mùi, TP Hồ Chí
Minh, số 132-133, tháng 1-2, 2003, trang 62-64.
Xoá hết chữ thì không nói làm gì, nhưng đáng tiếc là hình vẽ
trên các quân bài giản lược rất cẩu thả, khờ khạo, hoặc vẽ
thay vào bằng một hình ảnh khác, không còn chút gì cái đẹp dân
dã mạnh khỏe, kỳ lạ và đầy tính sáng tạo của các hình tượng
trên bộ bài tới xưa nay nữa. Tuy nhiên, về chuyện này thì
chúng ta có thể yên tâm phần nào, vì cách đây khoảng 20 năm,
chúng tôi có nhìn thấy trong bộ sưu tập của Viện Bảo tàng Mỹ
thuật Hà Nội một bộ bài tới rất đẹp. Không những thế, các hình
vẽ của từng quân bài còn được phóng lớn cỡ bàn tay và in trên
giấy dó rất hấp dẫn. Vết tích này còn được giữ gìn như vậy, có
lẽ nhờ ở sự lưu tâm đặc biệt của ông Nguyễn Văn Y thuở còn
sinh thời, lúc bấy giờ đang đảm trách chức vụ giám đốc của Nhà
Bảo tàng. Ông Nguyễn là một nhà nghiên cứu mỹ thuật, hoạ sĩ mà
cũng là nhà tạo hình về gốm rất đặc sắc. Nhắc lại sự kiện này
cũng là dịp để chúng ta tưởng nhớ và bày tỏ đôi chút lòng biết
ơn đối với một con người tâm huyết trước sự nghiệp văn hoá
nghệ thuật của đất nước.
[3]
Bài vè này chúng tôi ghi chép lại được ở Huế. Trong Thi ca
bình dân Việt Nam của Nguyễn Tấn Long và Phan Canh, Nxb Sống
Mới, Sài Gòn, 1971, ở trang 391, bài vè có khác một đôi chữ.
Và trong Tự điển thành ngữ điển tích của Diên Hương, bản chụp
in lại của Nxb Zieleks ở Houston Texas, năm 1981, cũng vậy,
lại có khác một số chữ nữa, như vậy rõ ràng là do tam sao thất
bổn, hoặc có thể vì đã biến đổi dần do giọng phát âm của từng
địa phương chăng?
[4]
Con bài: Tiếng miền Trung, ở miền Bắc gọi là quân bài.
[5]
Võ Phiến, “Khảo về bài chòi”, bài đã dẫn, trang 5.
[6]
Bình Nguyên Lộc, Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam, Xuân
Thu tái bản ở Hoa Kỳ, chụp lại bản in ở Sài Gòn năm 1971,
trang 387.
[7]
Trích dẫn theo Việt Nam tự điển, hội Khai Trí Tiến Đức, Nxb
Trung Bắc Tân Văn, Hà Nội, 1931, Mặc Lâm tái bản ở Sài Gòn,
không ghi năm xb, trang 162.
[8]
Đại
Nam
quấc âm tự vị, Huình Tịnh Paulus Của, bản chụp in lại của Nxb
Khai Trí, Sài Gòn, 1974, trang 503.
[9]
Từ hình dáng mái nhà sàn trên con nọc đượng hay nhì nghèo,
biến dạng hơn một chút là con ba gà, biến dạng nhiều hơn nữa
là các con bảy sưa, năm giày, đỏ mỏ, chúng ta đang đứng trước
một đề tài khá lớn vô cùng thích thú trong lĩnh vực dân tộc
học và cả mỹ học, khi đối chiếu với nhiều vết tích về nhà sàn
trên suốt vùng Đông Nam Á và hải đảo, chưa kể đến những mái
nhà sàn khác xa xôi hơn bên kia nửa trái đất. Trong chừng mực
của bài viết này, chúng ta không thể đi xa hơn được. Đề nghị
xem thêm:
-
“Tìm
hiểu Nhà Đông Sơn qua ngôi nhà cổ của người Toradja
(Indonesia)”, Tạ Đức, Khảo sổ học số 1, 1987.
-
Những
trống đồng Đông Sơn đã phát hiện ở Việt Nam, Nguyễn Văn
Huyên, Hoàng Vinh, Viện Bảo Tàng Lịch Sử Việt Nam xuất bản,
1975.
-
Introduction à l’Etude de l’habitation sur pilotis dans
L’Asie du Sud-Est. Nguyễn Văn Huyên, Librairie Orientaliste,
Paul Geuthner, Paris, 1934.
-
The Art
of East Asia, Gabriele Fahr-Becker (Ed.), Volume 1, Konemann
Verlagsgesellschaft mbH, An bản tiếng Anh, Oldenburg,
Germany, 1999. Phần viết về Nam Dương của Sri
Kuhnt-Saptodewo, “Indonesia, Architecture and Symbolism”,
p.p 312-324.
|