|
Hát chèo Việt Nam
Đàm Ngọc Huy
Từ bao đời nay hát chèo đă trở
thành một loại h́nh sinh hoạt văn hóa nghệ thuật quen thuộc
của người dân Việt Nam, nuôi dưỡng đời sống tinh thần dân tộc
bởi cái chất trữ t́nh đằm thắm sâu sắc. Trong kho tàng văn hóa
nghệ thuật dân gian dân tộc chèo là một loại h́nh sân khấu
kịch hát đậm đà tính dân tộc, với sự kết hợp nhuần nhuyễn của
hàng loạt yếu tố: hát, múa, nhạc, kịch mang tính nguyên hợp vô
cùng độc đáo. Vùng trung châu và đồng bằng Miền Bắc là cái nôi
của chèo, từ cái nôi ấy sau bao nhiêu thăng trầm của lịch sử
nghệ thuật chèo ngày càng phát triển và khẳng định được tầm
quan trọng trong nền văn hóa dân gian dân tộc.
Có thể nói nghệ thuật chèo mang đậm
bản sắc dân tộc Việt Nam, chèo sử dụng ngôn ngữ đa thanh, đa
nghĩa kết hợp với cách nói ví von giàu tính tự sự trữ t́nh.
Đặc biệt hơn là tính tổng hợp của sân khấu chèo từ bản tṛ,
đến đề tài nhân vật với sự "pha âm cách điệu" giữa âm nhạc,
hát và múa. Sân khấu chèo xưa ra đời từ các làng chèo với các
múa hội hát. Cứ mỗi độ xuân sang người muôn nơi lại bồi hồi
bởi sự thúc giục của trống chèo và những lời ca tiếng hát của
nghệ nhân làng chèo. Người xưa có câu "nhất cử động giai điểm
vũ" điều đó biểu hiện nét đặc trưng của nghệ thuật chèo là "tính
múa", những diễn xuất tinh tế của nghệ nhân chèo đều ở điểm
này mà ra. Với đôi bàn tay khéo léo từng cử chỉ, động tác đă
toát lên cái "thần" của nhân vật, qua đó thấy được thành công
của người diễn. Từ mùa xuân rồi tới mùa thu trong các hội hè
đ́nh đám ở khắp vùng đồng bằng MIền Bắc không khi nào thiếu
vắng tiếng hát chèo. Cũng chính v́ thế mà chèo mang tính quần
chúng và được gọi là loại h́nh sân khấu của hội hè. Công chúng
đam mê chèo bởi khi đến với sân khấu chèo có thể tận hưởng
niềm vui từ những tiếng cười châm biếm đả kích sắc và tinh tế.
Trong mỗi vở diễn, mỗi t́nh tiết, mỗi lớp nhân vật của chèo
đều có cái hài xen kẽ với cái bi, người xem bao giờ cũng coi
trọng những yếu tố đó. Người xưa thường nói "có tích mới nên
tṛ" điều đó khẳng định tích chuyện là linh hồn của vở diễn.
Cũng chính v́ vậy mà chèo được đánh giá là loại h́nh sân khấu
kịch hát kể chuyện dân tộc. Điều này đă làm nên đặc điểm cơ
bản của nghệ thuật chèo cổ. Không những thế chèo c̣n thuộc
loại sân khấu ước lệ cách điệu, sự khoa trương- tô phóng có
tính chọn lọc đă làm nổi bật hơn những góc cạnh đặc trưng của
nghệ thuật chèo- những mảng chèo đặc sắc được ra đời từ nhân
tố đó.
Thời nào nghệ thuật đều chứng tỏ
những nét tương đồng với lối sống của xă hội thời đó. Thời xưa
chèo mang đậm dấu vết của những điệu múa dân gian, hàng loạt
lễ tiết của phần cúng tế trong các hội làng ở miền bắc Việt
Nam. Trong con đường phát triển của nghệ thuật chèo có h́nh
thức tương hợp song song với sự phát triển và sáng tạo. Cá
nhân các nghệ sĩ, những nhà nghiên cứu... đă đóng góp một phần
vô cùng quan trọng trong bước đường hoàn thiện thể loại kịch
hát dân tộc có tính bác học. Chèo hiện đại (chèo cải biên) đă
khẳng định được vị thế của ḿnh với những vở diễn và h́nh
tượng con người mới nhờ sự bảo tồn và phát huy truyền thống
của nghệ thuật chèo cổ, xứng đáng tiêu biểu cho nghệ thuật sân
khấu dân tộc.
Nghệ thuật chèo là một "viên ngọc
long lanh sắc màu" trong kho tàng văn hoá nghệ thuật chèo với
những nét độc đáo, tiêu biểu: quá tŕnh h́nh thành và phát
triển, đặc điểm cơ bản của chèo cổ-chèo hiện đại, trong đó
không thể thiếu một số gương mặt của các nghệ sĩ "làng chèo".
Những người làm chương tŕnh hy vọng rằng, đây sẽ là một tư
liệu cần thiết và bổ ích cho những ai yêu mến tiếng hát chèo
và nền văn hoá nghệ thuật dân tộc Việt Nam
Những ư kiến đă phát biểu về nguồn
gốc và sự h́nh thành chèo
CNnhiều ư kiến khác nhau về nguồn
gốc và sự h́nh thành của chèo, tuy nhiên có thể tóm tắt một số
ư kiến đă phát biểu từ trước đến nay, về nguồn gốc và thời
điểm xuất hiện của Chèo như sau:
- Chèo có nguồn gốc ngoại lai, bắt
đầu từ sự kiện quân ta cầm giữ nghệ nhân Lư Nguyên Cát ở trận
Tây Kết;
- Chèo khởi lên từ Trịnh Trọng Tử
cho quân hát khúc Long ngân đang khi đưa tang vua Trần Nhân
Tông:
- Danh xưng chèo do ghi Nôm, dịch
chữ Hán ra; hoặc từ chữ Trào (trào lộng) mà ra; hoặc chữ chèo
do phát âm sai mà thành chèo; do phiên Nôm, dịch Hán đồng dạng
những chữ chào (chào mừng), chữ chầu (chầu thần thánh), chữ
triều (triều đ́nh, đọc thành trào đ́nh)...
- Chèo chỉ động tác chèo thuyền, đề
nói nguồn gốc chèo xuất phát từ tṛ tang lễ và lao động;
- Chèo là h́nh thức sân khấu thuần
tuư dân tộc, bắt nguồn từ kho tàng văn hoá nghệ thuật dân gian
phong phú lâu đời Việt Nam;
- Về thời điểm thành h́nh, có những
ư kiến cho chèo có ở nước ta từ thời tiền sử, thế kỷ thứ IV
trước Công nguyên đến thế kỷ thứ I sau Công nguyên; hoặc thế
kỷ thứ X (thời nhà Đinh); hoặc thế kỷ XIV (cuối nhà Trần);...
2. Người ra c̣n có ư kiến cho rằng
chèo bắt đầu thành h́nh từ khi có nghệ sĩ Trung Hoa tên là Lư
Nguyên Cát (hay Hứa Tông Đạo)
Dựa trên những ǵ ghi khắc trong sử
sách, bi kư qua các đời Đinh, Tiền Lê, Lư đến cuối Trần, đă có
thể rút ra mấy nhận xét.
Một. Các h́nh thái hát (kết hợp)
múa, các tṛ hề riễu đă tồn tại ở xă hội ta khá phong phú và
ngày một phát triển:
- Đời Đinh tương truyền có Phạm Thị
Chân, Đào Văn Xó
- Đời Lư với tầng lớp tăng lữ đông
đảo có thế lực, kết hợp lại qua với quư tộc cũ mới, thêm Nho
giáo, rồi qua chiến tranh giữ nước mà chín muồi dần tinh thần
dân tộc đưa tới ra đời chữ Nôm với sự liên kết giữa tăng lữ Từ
Đạo Hạnh, nho sĩ Mai Sinh, nghệ nhân Sai ất (hay Phan Khất?).
Và rằng phần lớn các vua Lư đều thích múa hát với Đào Thị, Đỗ
Anh Vũ...
- Đời Trần, Nho giáo ngày một lấn
át Phật Giáo, Đạo Giáo, nẩy sinh tầng lớp nho sỹ vừa sử dụng
tốt chữ Hán, vừa mầy ṃ xây dựng chữ Nôm, vừa chan hoà với văn
hoá dân gian, như Chu Văn An, Nguyễn Thuyên, Dư Nhuận Chi,
Nguyễn Sỹ Cố, Trần Nhật Duật,...
Hai. Sự xuất hiện những mảnh tṛ có
tích đơn giản, những nghệ nhân vươn lên chuyên nghiệp nhiều
loại, như giáp (kép), đào, lăo, mụ, hề, những tṛ nhại (về hào
phú, trưởng giả), những bài giáo (như giáo trống, giáo hương,...)
để từ đấy tổ chức Giáo phường, tập hợp người nghề, lần đầu
tiên cho nhà nước quản lư, với những phường tṛ, phường hát,...
Ba. Trong bối cảnh ấy, một Tây
Vương Mẫu hiến bàn đào hát tiếng Trung Quốc, ăn vận kiểu Trung
Hoa , biểu diễn với dàn nhạc Trung Hoa, không thể xoá nhoà tất
cả, để có thể coi là khởi điểm cho sự ra đời một kịch chủng
thuần tuư Việt Nam như Chèo. Những cung cách tiến hành biểu
diễn tiết mục ấy, với sắc thái và âm hưởng như sử sách miêu tả,
xét các mặt nghệ thuật hát, múa, diễn kỹ, không ai có thể nhận
thấy là chèo.
Có chăng, với số điểm mới trong
tiết mục (như quần áo lại kiểu, âm nhạc lạ tai, sân khấu hẳn
hoi, nghệ nhân ra diễn, lại vào, lại ra diễn...) sẽ góp phần
thúc đẩy nghệ thuật bản địa thích ứng nhanh hơn với t́nh h́nh
và yêu cầu thưởng thức của nhân dân đương thời.
3. Từ trước đến nay, chúng tôi vẫn
cho rằng, chèo bắt nguồn từ kho tàng văn hoá nghệ thuật dân
chúng , với sự đóng góp quan trọng của giới trí thức b́nh dân
và quư tộc, từng tồn tại lâu đời trên đất nước Việt Nam, đúng
ra là vùng trung châu và đồng bằng miền Bắc
Khi nói chèo bắt nguồn từ kho tàng
dân ca cổ truyền Miền Bắc, lưu ư rằng, không phải loại dân ca
nào cũng có thể phát triển thành chèo, mà chỉ những loại hát
nói đậm đặc chất tự sự mới tiềm ẩn khả năng đó, chí ít cũng có
số h́nh thái mang âm hưởng gợi nhắc đến chèo. Tất nhiên, những
nghệ nhân chèo lành nghề có thể "chèo - hoá" không mấy khó
khăn bất cứ làn điệu hoặc bài dân ca nào.
Có vẻ như cổ xưa, mấy loại dân ca
đồng bằng miền Bắc, như Hát đúm, Hát ví, Hát trống quân... với
cấu trúc giai điệu ngắn gọn thẳng đuột, phụ thuộc vào ngữ điệu,
tiết nhịp câu dân dao 6/8, thêm dăm ba tiếng đệm lót vào đầu,
chen giữa hoặc vào cuối cho thành về trống vế mái. Về sau, tuỳ
địa phương, tuỳ người hát, chúng có chuyển hoá chút ít hoặc
thêm chữ để thành những câu thất tự, bát tự, cửu tự hoặc thêm
nội dung làm câu hát dài ra; hoặc thêm đảo nhịp, nghịch nhịp
cho câu hát thêm vui nhộn; hoặc gia tăng loại câu đố đó thêm
lề lối các loại dân ca khác, đặt vào "giọng vặt", làm buổi hát
là sự tập hợp sắc màu cho "xôm tṛ" hơn là một cách phát triển
nghệ thuật.
Những loại dân ca cổ hơn th́ qua lề
thói sinh hoạt và tiến tŕnh thực hiện, đủ nói sự phát triển
từng thời kỳ với số hiện tượng nghệ thuật khá gần gũi với chèo.
Như Hát Xoan (Phú Thọ) mà các hội
làng mấy huyện Phù Ninh, Lâm Thao, Tam Nông, Đoan Hùng, Hạc
Tŕ hàng năm mở đầu cầu thịnh đầu xuân, đều đón Phường Xoan về
đ́nh hát thờ và vui chơi. Việc Phường Xoan đi hát các làng
không phải v́ kế sinh nhai, mà do ràng buộc về tập tục "nước
nghĩa" với nhau.
Các buổi hát xoan thường bắt đầu từ
chập tối. Khi hát, đào thường đội khăn nhung, xống láng, áo
the thâm, thắt lưng đen, có khi bao xanh hoặc hồng; kép th́
khăn lượt hoặc khăn xếp, áo the thâm, quần trắng, cổ quàng
giải khăn nhiễu điều. Sau hồi trống dạo, Trùm phường cùng ông
Chủ tế hội làng ra trước hương án cất câu hát chúc (kiểu đọc
sớ). Dứt tiếng, một kép trẻ đeo trước bụng chiếc trống nhỡ,
vừa hát vừa nhún nhẩy, miệng Giáo trống, Giáo pháo. Rồi bốn
đào xếp hàng ngang, tay càm quạt khuỳnh ra trước mặt vừa hát
Thơ nhang vừa làm điệu bộ câu "Tiến nhang lên, lùi nhang xuống"
và bắt vào Đóng đám, chấm dứt 4 câu "vặt" mở đầu, để chính
thức vào hát Quả cách (gọi tắt là hát cách), theo trật tự quy
định từ quả 1 đến quả 14 (như Kiều giang cách, Nhàn ngâm cách,
Tùng mai cách, Xuân thời cách, Chèo thuyền cách, Tứ mùa cách,...).
Hát hết các quả lại chuyển sang hát các dọng "vặt", (như Bợm
giá, Bỏ bộ, Xin hoa, Bắt cá, Hát phú,...). Xem chừng đă ḥm
ḥm, ông Trùm và ông Chủ tế cất câu hát giă kết thúc đêm hát.
Trong bài Phú Năm canh thấy có
những câu giống in mấy câu trong vở chèo Quan Âm, như:
Bây giờ hồ sang trống canh một,
Chim bay về chân núi Lịch San,
Ve gợi sầu nhắn nhủ đê đàn,
Sông lai láng, buồn về góc bể....
Và c̣n không ít câu gợi nhắc văn vở
Lưu B́nh Dương Lễ....
Hay như Hát dậm (Hà Nam cũ) mà hàng
năm, làng Quyến Sơn (Kim Bảng) mở hội để tưởng vọng công tích
Lư Thường Kiệt đánh giặc Chiêm thuở nào, th́ Phường dậm lại tụ
họp nhau tập dượt hàng tháng trước. Hát dậm cũng nằm trong
phạm trù hát tờ và vui chơi, có những h́nh thái diễn xuất
không mấy khác Hát xoan, chẳng những thế, c̣n gây cảm giác "cổ"
hơn.
Nằm trong các sinh hoạt dân ca cổ,
như Hát cửa đ́nh, hát quan họ, hát dậm,... thường thấy đưa vào
vô số giọng "vặt" mang tên hát bỏ bộ, tức là hát có điệu bộ,
mà nhiều khi thực chất là những tṛ diễn giản đơn, hồn nhiên,
ở mức hoạt cảnh và nếu thêm tích th́ c̣n sơ lược, có tính chất
minh hoạ. Nhưng thú vị thay, chúng lại mang những ǵ gần gũi
nhau, trước hết về sự hài hước dung tục, anh em với hề chèo.
Song xét mặt ca nhạc, th́ gần gũi
với hát chèo hơn cả có lẽ là hát xẩm, loại nghệ thuật "đặc
biệt" của lớp người mù loà có năng khiếu văn nghệ, mà dân gian
gọi là xẩm. Bất chấp mọi điều kiện hết sức khó khăn, xẩm là
biết tổ chức nhau lại thành Làng, Phường hoặc Hội, có ông (bà)
Trùm (do làng bầu) và số nghệ sỹ giỏi nghề có uy tín, trông
coi cắt đặt công việc làm nghề, hàng năm có họp bàn xem xét
mọi mặt, bầu người cầm đầu, giải quyết các vụ việc tranh chấp,
dạy dỗ bọn trẻ...
Thành ra, hát xẩm từ yêu cầu của
khách thưởng thức đ̣i người nghề phải thể hiện nội dung ngày
một mở rộng (câu hát dài hơi hơn, tích chuyện đi sâu hơn, nhân
vật nhiều hơn,...), nên mặc dầu ở t́nh cảnh mù loà, ngồi một
chỗ vừa hát vừa đàn và làm điệu bộ, nó cũng đă gia tăng làn
điệu với sắc thái nhiều đến kết cấu làn điệu của hát chèo. Dĩ
nhiên, có thể nghĩ, là hát xẩm ra đời trước khi có hát chèo,
là một trong nhiều nguồn góp phần cấu thành hát chèo; hoặc
ngược lại, hát xẩm chỉ là bản sao vụng về của hát chèo trong
điều kiện và hoàn cảnh rất ư hạn chế của lớp người tật nguyền;
hoặc đây là mối liên quan ruột rà tất yếu không ai chối căi
giữa hai loại h́nh, bởi chính nghệ nhân xẩm xếp Hát xẩm và
Chèo cùng loại trung ca, trong khi Tuồng vào loại vơ ca, Ca
trù vào loại văn ca.
Những điều vừa tŕnh bày qua thực
tế nghệ thuật của một phần kho tàng hát múa dân gian vùng
trung chân và đồng bằng miền Bắc đă thấy chúng có những tố
chất khả dĩ dẫn đến sự h́nh thành hoặc có ảnh hưởng qua lại
đậm đặc hay nhẹ nhơm tới nghệ thuật chèo (cổ).
Đă nói chèo bắt nguồn từ kho tàng
dân ca, dân vũ, dân nhạc và tṛ diễn dân gian, bao gồm những
tṛ nằm trong phạm trù tín ngưỡng, những tṛ tŕnh diện, tŕnh
nghề luôn thấy trong các hội làng, mà nó cấu thành ngôn ngữ
nghệ thuật, để thể hiện một kịch bản với vở diễn mang sắc thái
hứa hẹn phong cách một loại h́nh cao hơn, hay nói cho đúng, là
tạo dựng được số h́nh ảnh có tính cách nói lên đức độ, với
nghệ thuật thể hiện phức tạp tinh tế hơn.
4. Hát múa thời Trần và Chèo thuyền
bản
Chèo thuyền bản đánh dấu sự thành
h́nh kịch chủng chèo, xuất hiện vào nửa sau đời Trần, khoảng
cuối thế kỷ XIV, với sự đóng góp của tầng lớp trí thức b́nh
dân-quư tộc. Những h́nh thái văn hoá nghệ thuật thành văn cũng
như dân gian thời ấy khả dĩ xem là những yếu tố cấu thành chèo:
- Đă có nghệ sỹ (Phạm Thị Chân),
nghệ sỷ làm tṛ nhại (Đào Văn Xó) từ thời Định;
- Đă tổ chức giáo phường và định
tên gọi đào, kép, hề ghi vào văn bản nhà nước từ thời Lư, với
nhà sư Từ Đạo Hạnh, sáng tác giáo trống, Sai ất làm tṛ cười;
- Thời Trần đă có những trí thức
làm nghệ thuật nổi tiếng như (Tiến sĩ) Dư Nhuận Chi giỏi soạn
bài hát, Thiên chương học sỹ Nguyễn Sỹ Cố giỏi nhạc giỏi đàn,
rất có tài khôi hài,...
- Đă có số tiết mục hát múa, tṛ
diễn thể hiện một tích truyện đơn giản (Trang Vương và 6 người
con), một loại người ở mức khái quát nhất định (các vai tŕnh
nghề: Thày Đồ, Thày Đạo,... cả những Thằng Ngô, con Bợm, Nhiêu
Lập, Nhiêu Oanh,...).
Nói đến chèo thuyền bản là nói đến
sự tích có 4 nhân vật do 3 người đóng vai. Nó đă có tích hẳn
hoi, tuy c̣n ở dạng truyện huyền thoại nhưng mang ư nghĩ quan
thiết đến đời sống con người.
Từ những cung cách thể hiện những
trog giáo, chèo thuyền bản nêu lên một kiểu kể chuyện bằng sân
khấu do chính những người sắm vai cung nhau thực hiện với số
nét riêng.
So sánh các sinh hoạt hát múa và
tṛ diễn dân gian đă nêu, nhất là qua kết cấu và chữ dùng
trong đó thấy Giáo đ̣ nếu không trước nhất, th́ cũng ra đời
cùng thời, với những giáo hương, giáo mơ, giáo trống, giáo đất,
giáo pháo...Đương nhiên, giáo đ̣ có thể có câu cú chữ nghĩa
trau tria hơn, do tăng lữ viết và được lưu truyền rộng khắp,
được dùng nhiều.
Chèo Thuyền bản là bản chèo xưa
nhất, ra đời vào thời kỳ khoảng giữa giáo đ̣ với chèo thuyền
lễ cách và tṛ diễn Mục liên địa tạng, đủ khả năng đánh dấu sự
thành h́nh kịch chủng chèo.
Chèo cổ có những đặc điểm sau:
Chèo thuộc loại sân khấu khuyến
giáo đạo đức
Chèo thuộc loại kịch hát dân tộc,
một dạng hát - múa - nhạc - kịch mang tính tổng hợp
Chèo thuộc loại kịch hát bi - hài
dân chúng
Chèo thuộc loại sân khấu kể chuyện
Việt Nam (c̣n gọi là sân khấu tự sự dân tộc)
Chèo thuộc loại sân khấu ước lệ và
cách điệu
Đặc điểm chuyên dùng và đa dùng
nghệ thuật bộc lộ quy luật phát triển của chèo cổ
Sáu đặc điểm trên liên quan mật
thiết với nhau, cái nọ bổ xung, hỗ trợ, tác động lại cái kia,
cùng đứng chắc trên quan điểm triết mỹ khá rơ. Tất nhiên tùy
quan niệm của người vận dụng, có thể đưa sân khấu kể chuyện
lên đặc điểm 2, đến kịch hát bi hài, đặc điểm 3, hát - múa -
nhạc - kịch cũng gọi là ngôn ngữ nghệ thuật kịch chủng, đặc
điểm 4, hoặc đặc điểm hát - múa - nhạc - kịch trên đặc điểm
kịch hát bi hài. Nhưng đặc điểm khuyến giáo đạo đức và đặc
điểm chuyên dùng đa dạng nghệ thuật th́ nhất thiết phải ở vị
trí một và sáu, do chúng chi phối quán xuyến cả bên trong lẫn
bên ngoài, cả quá khứ, đương đại và tương lai, có tính quyết
định bộ mặt và sức sống của kịch chủng. Cũng như đặc điểm ước
lệ - cách điệu thuộc phạm trù biểu diễn đặt vào vị trí năm là
thoả đáng.
Không quên, 6 đặc điểm trên h́nh
thành dần trong điều kiện và hoàn cảnh của một xă hội văn minh
lúa nước, diễn biến tự phát, lẻ tẻ, chậm chạp; lại bị một thời
gian thử thách với xă hội thời Pháp , nhất là trước tầng lớp
thị dân, nên có t́nh trạng đan xen đến phức tạp, giữa các yếu
tố hiện c̣n khả năng đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ của con người hôm
nay, với số yếu tố dẫu một thời được nhiều khách mê say, nhưng
giờ đă trở thành rườm rà, dài ḍng, nên đ̣i hỏi một sự nh́n
nhận biện chứng bằng những cặp "mắt xanh", mới hy vọng kế thừa
học tập thỏa đáng vốn cũ để xây dựng tốt cái mới.
1. Thử phác quá
tŕnh chuyển hóa và phát triển của sân khấu kịch hát chèo qua
thực tiễn nghệ thuật mấy vở truyền thống:
* Lưu B́nh tṛ:
Lưu B́nh tṛ có thể xuất hiện vào
thế kỷ XVII. Có thể nói đây là vở ở dạng cổ nhất. Các bản đều
có số lớp tṛ tuần tự như sau: Giáo đầu; Dương Lễ tới rủ bạn
là Lưu B́nh đi thi; Dương Lễ đậu "tam kỳ đệ nhất"; Lưu B́nh
thi trượt, về quê th́ nhà cửa bị "cơn binh hỏa" cháy sạch,
sang nhờ bạn, bị Dương Lễ sai Trù Pḥng làm nhục; Dương Lễ cậy
1 trong 3 vợ đi nuôi bạn ăn học, nhưng chỉ có Châu Long, vợ 3
khẳng khái nhận lời; Quán Nghênh Hương, Lưu B́nh gặp Châu
Long; hai người về sống chung; Lưu B́nh sau 3 năm dùi mài kinh
sử, thi đậu về nhà thấy Châu Long; Lưu B́nh buồn rầu, được
Dương Lễ cho lính mời sang chơi; Đôi bạn cũ gặp nhau, Lưu B́nh
than thở Nàng Ba ra hầu trà: Lưu B́nh chợ hiểu thâm ư bạn, cúi
đầu, vái Anh, kính Chị hát Kết tṛ.
Sự khác nhau giữa các bản tṛ
thường do sau này thêm vào tṛ diễn ư nghĩa sâu hơn và cũng
hấp dẫn hơn. Như có bản thêm vào lớp Thày Đ̣ dạy học tiếp theo
lớp Dương Lễ sang rủ bạn đi thi (nay đổi là đi học); có bản
thêm lớp Vợ chồng giữa lớp Lưu B́nh gặp gỡ Châu Long ở Quán
Nghênh Hương. Nhiều bản vở mở rộng 2 câu kết làm Văn tṛ nhấn
thêm chủ đề bằng hữu, Vợ chồng. Kể thêm vô số câu pha tṛ của
Trù, Pḥng dinh Dương Lễ, của chú Hề đi theo Lưu B́nh, tất cả
như cố ư nhắc nhở, cảnh tỉnh những học tṛ "cả tháng rông dài;
một ngày kinh sử"......
Nhưng so chiếu một số mặt nghệ
thuật giữa các bản tṛ, thấy có những điểm đáng lưu ư: Ở lớp
giáo đầu, Lưu B́nh chỉ dẫn chung chung:
Nhớ xưa tích cũ,
Có hai chàng Dương Lễ Lưu B́nh
Bạn đồng khoa đèn sách học hành.....
Rồi sau nói: "Đây đă đến Kinh Kỳ Kẻ
chợ" và "bên kia Tây Hán có tên học tṛ Lưu B́nh đỗ "tam kỳ đệ
nhất"; c̣n các bản Lưu B́nh lại nói:
Có hai chàng Dương Lễ Lưu B́nh,
Kẻ Sơn Tây, người Bắc Ninh...
Vở này được nhà nghề truyền ngôn là
"văn chương nghĩa lư", gồm phần lớn thơ thất ngôn, thỉnh
thoảng chen đôi câu ngữ ngôn. Riêng Lưu B́nh tṛ thấy một lần
viết theo thể 4/8 lồng cho sử rầu:
Công danh bởi trời,
Kim lan nghĩa cũ, trách trời sao
nên
Về nghệ thuật Lưu B́nh tṛ được nhà
nghề xếp vào loại tṛ nhời, sử dụng chủ yếu nói sử cùng với
các dạng sử rầu, than sử, mà "cao" nhất là sử chuyện đă thành
điệu, chen vào những ngâm thơ, nói vần, nói thường biền ngẫu.
ở đây không có sự biến đ̣i giải quyết gay gắt, dùng nhân vật ở
vào thế đối phó trực diện, mà là những hành vi và lời lẽ
thuyết phục nhau, xoay quanh mấy quan hệ b́nh thường nhưng "đặc
biệt" giữa bạn bè, vợ chồng, tớ thầy.
Lưu B́nh tṛ hoàn thiện dần một
cách kết cấu bản tṛ theo dạng sân khấu kể chuyện riêng, ở chỗ
các sự biến xẩy ra tuần tự, được nghệ nhân thể hiện bằng nói
lối và hát kết hợp mà lộ dần tính cách, thật ra là đức độ mỗi
lúc dầy thêm, cho đến khi đạt yêu cầu mà soạn giả đề ra cho
tích tṛ và cũng phân thành những lớp giáo đầu, lớp vào tṛ,
thân tṛ với số lớp ruột tṛ, lớp kết tṛ, rồi sau cùng lớp
văn tṛ.
Nh́n vào quá tŕnh chuyển hóa sáng
tạo nghệ thuật thấy Lưu B́nh tṛ đă đóng góp số lớp riêng giá
trị cho vốn nghề truyền thống ngày càng sắc sảo và thâm thúy
về Hề, về giá trị thơ văn và chất trữ t́nh khi miêu tả quan hệ
vợ chồng cả chân và giả làm cho tiết mục trở thành vở tṛ nhời
mẫu mực của nghề Tổ.
Đoán định Lưu B́nh tṛ có thể xuất
hiện khoảng thế kỷ XVII là từ những lẽ đó, mà chưa nại đến
nguyên nhân làm cháy nhà chàng Lưu ("qua cơn binh hỏa" hay tại
"nạn hỏa tai"?). Nghệ sỹ các thế hệ sau, cả các nho sỹ, các
nhà khoa cử, sẽ bồi đắp sáng tạo thêm về nhiều mặt nghệ thuật,
nhất là mặt hài hước với số câu, đoạn pha tṛ sắc bén, châm
chích "gán" vào miệng chú Trù Pḥng, chú hề gậy, cố ư để
chuyển thành chèo Lưu B́nh Dương Lễ của thế kỷ XIX sau này.
* Quan âm tṛ:
Từ Quan âm tṛ sang chèo Quan âm
đến Quan âm Thị Kính đánh dấu bước phát triển quan trọng hơn
nữa của nghệ thuật chèo sân đ́nh. Bản Quan âm tṛ cổ nhất t́m
được thấy ghi khắc in năm 1872. Các bản Quan âm tṛ bằng chữ
quốc ngữ la-tinh mới in năm 1924 tại Hà Nội.
Đây là vở chèo tiếp nối ḍng tṛ
nhà Phật được đông đảo dân chúng thích thú thưởng thức nhất từ
trước đến nay, kể lại 2 nỗi oan tày đ́nh, với sự chịu nhẫn
nhục cực kỳ của Thị Kính Phật Bà. Ngoài lớp giáo đầu, Quan âm
tṛ gồm hai phần: phần 1 kể sự kiện "thửa làm vợ để chồng ngờ
thất tiết" với các lớp (Thiện Sĩ) hỏi vợ, (ông Măng) gả con,
sự biến tỉa râu và nỗi oan giết chồng, (Thị Kính) than thở
phần 2 kể "lúc làm trai cho gái đổ oan t́nh" với các lớp Chùa
Vân (và Tiểu Kính) , (Thị Mầu) lên chùa, Nô và Màu, Việc làng
(gồm lớp Mẹ Đốp-Xă Trưởng, lớp Bắt khoán), "Trả" con, Nuôi
"con"; Nỗi oan giải tỏ, Phật tổ ban sắc và cuối cùng là lớp
Chạy đàn.
Quan âm tṛ đă chứng tỏ một tŕnh
độ phối kết nhuần nhị và một sức sáng tạo nghệ thuật phong phú,
các thủ pháp cấu thành ngôn ngữ nghệ thuật kịch chủng khi mô
tả những sự biến, những nhân vật trong quá tŕnh bộc lộ phẩm
cách, nhất là với số nhân vật có suy nghĩ và hành động vượt ra
ngoài khuôn khổ đạo đức nhân sinh của xă hội đương đại.
Có thể nói chèo Quan âm có nhiều
lớp tṛ mới với những khuôn diễn mới bao gồm làn điệu mới,
điệu múa mới và tất nhiên tạo h́nh mới. Như những lới tỉa râu,
đánh mắng con dâu, Thị kính than thở, Tiểu nuôi "con", chạy
đàn; đặc biệt là lớp lên chùa sử dụng chủ yếu hát múa kết hợp
với lời thơ và diễn xuất tạo h́nh, lớp Việc làng chỉ dùng nói
thường vần vè và nói lối cùng với số nhân vật biểu trưng sắc
sảo cho cái ngu dốt, thối nát của lũ hào lư nơi xóm thôn, kết
hợp với diễn kỹ tương hợp mà đạt hiệu quả sáng giá lâu dài. Sự
sáng tạo ở đây thật đáng lưu ư, bởi nay chân kinh và truyện
nôm cũng chỉ miêu ta đoạn
lên chùa trong 16 câu thơ 6/8; tả đoạn làng bắt khoán chưa đến
20 câu và không hề ló thấy những Vợ Mơ, Xă trưởng với lũ Đồ "điếc",
Hương "câm", thầy "mù".
Xét về mặt nghệ thật, có so chiếu
với văn chương và nội dung các bản chân kinh, truyện nôm, so
chiếu với kết cấu cả nội dung và nghệ thuật số vở vẫn được nhà
nghề coi là mẫu mực của vốn chèo truyền thống, có thể đoán
định Quan âm tṛ ra đời vào thế kỷ XVIII, sớm cũng là cuối thế
kỷ XVII. Tất nhiên do sự phổ biến sâu rộng trong quảng chúng,
Chèo Quan âm được lớp thế hệ nghệ nhân, cả nho sỹ sáng tạo bổ
sung không dứt, điều mà tất các loại h́nh văn nghệ dân gian
đều trải qua; để nói sang thế kỷ XIX, chèo quan âm dần chuyển
thành chèo Quan âm thị kính với các phần nghệ thuật vẫn trau
chuốt tiếp tục mà trở thành vở chèo cổ truyền hoàn chỉnh hơn
hết.
3. Tṛ Kiều: tṛ kiều, chèo
Kiều mới xuât hiện khoảng giữa thế kỷ XIX,hoặc muộn hơn vài
chục năm, thậm chí vào đầu thế kỷ XX, do chúng vẫn đang trên
đà tsáng tạo bổ sung nghệ thuật. Bởi ngay Truyện Kiều của
Nguyễn Du cũng mới thai nghén và ra đời những năm cuối thế kỷ
XVIII hoặc đầu thế kỷ XIX. Càng không thể có chèo Kiều ra đời
trước Truyện Kiều.
Từ những bản tṛ Kiều có hoặc không
mang tên soạn giả, đă hoặc chưa đưa ra công diễn, thử lấy ra
mấy nhận xét:" Thời kỳ Kiều ilấy Từ hải, đều không sử dụng
đoạn "đại đoàn viên" của truyện nôm, mà lại kết vở bằng cảnh "trẫm
ḿnh trên sông Tiền Đường". Phải chăng, đông đảo khán giả và
người nghề cũng cho là cảnh Kim Kiều đoàn tụ lúc kết truyện
mang nhiều giả tạo, không thực tế? Hoặc vào chiếu chèo, tṛ
Kiều có phần chịu ảnh hưởng về cái chết "trọn vẹn" của "con
vân bạc dạ hát hay múa lạ" mà điều kiện (tài năng, thời gian)
chưa cho phép họ tạo dựng một h́nh tượng nàng Kiều "đẹp và
hay" hơn vân dại? và quả thật, h́nh ảnh nàng Kiều chưa có thời
gian để nghệ nhân thể hiện thành sống động, gây ấn tượng sâu
sắc và mạnh tới nhiều người xem, như nàng Vân dại.
Thứ hai, kết cấu Truyện Kiều đầy
tính kịch, để lộ rơ từng mảng đời nhân vật chính, cho phép
những người làm chèo dễ dàng lẩy ra thành vở diễn, nói đủ một
sự kiện "lớn", qua các đận vào đề, gặp biến cố, mở ra t́nh
huống mới.V́ thế, chèo không qua lo lắng kể lại chuyện đời của
nàng kiều ngành ngọn trong đêm, hoặc trong vài đêm liên tục,
mà phân ra từng "vở nhỏ", song chẳng ai bảo làm thế là không
thoả măn thị hiếu đông đảo khán quan. Như vở vở Kiều du xuân (c̣n
có tên Kiều-Kim Trọng) đă thể hiện mối t́nh nồng nàn trong
trắng của đôi lứa, đẹp đẽ tới mức xem cũng mơ ước, được các
hội Xuân làng xă đón mời háo hức..Có lẽ chư một truyện nôm nào
được chèo khai thác sâu và kỹ, để nhân lên những bài học với
các cách đối phó, ứng sử trong cuộc đời trước mắt như Truyện
Kiều.
Thứ ba, tiếng cuời trong các vở
chèo Kiều cũng như hầu hết những vở truyền thống khác, chiếm
gần nửa, lắm khi khi hơn, thời gian buổi biểu diễn và ở nhiều
cung bực: vui vẻ thoải mái hư Hề đồng Kim Trọng, Lăo Mốc với
thày tṛ Kim Trọng; chê trách nhẹ nhàng th́ như Hề với Thúc
sinh….ở đây, nghệ nhân lợi dụng mọi t́nh huống cho phép để "pha
tṛ", theo cung cách thường gặp trong cấu trúc diễn chèo, là
xen kẽ "lớp" hài, "lớp" bi hoặc trữ t́nh và ngay ở ‘lớp’ bi
cũng cố chen vào đôi tiếng cười. Dường như lan tràn suốt vở là
những tiếng cười nhẹ nhơm đôn hậu, cốt xoá bớt nỗi cực nhục bi
phẫn của Thiúy Kiều; ngoại trừ đôi câu thô thiển tục tĩu khá "tương
xứng" với không khí sinh hoạt xuỗng xă chốn lầu xanh.
Nh́n chung, các vở chèo Kiều
nghiêng nhiều vở loại tṛ nhời, nhờ tính nhân bản và chất hiện
thực đậm đà của tích truyện khái thác, lại do nghệ sỹ được
đông đảo khách xem cổ vũ khuyến khích, đă bất chấp sự ra đời
muộn màng, mà có số mảng diễn, vai đóng mang những nét nghệ
thuật riêng khó lẫn lộn.
Nói đến mảng miếng "hay" trong chèo
Kiều, nhà nghề đều nhắc những cảnh thề nguyền, sai nha, khấn
Tiên Sư, lầu Ngưng Bích, báo ân trả oán...mỗi cảnh mỗi sắc,
thật rơ nét rơ người, gây nổi trong bà con ngồi xem sự thương
cảm ngậm ngùi dai dẳng khó dứt về số phận nhân vật chính.
Sự h́nh thành những vở chèo khai
thác Truyện Kiều, cũng như sự ít ỏi của số sáng tác nhạc mới,
"múa" mới, kể cả khuôn diễn mới, khả dĩ làm mẫu mực cho nghề
Tổ, có thể c̣n v́ nghệ nhân chưa đủ thời gian sáng tác tạo
nghệ thuật, để dần hoàn thiện chúng chăng? V́ lẽ đó mà có thể
đặt chèo Kiều vào thời kỳ cuối rốt của quá tŕnh phát triển
chèo sân đ́nh.
2. Mấy nhận xét
về quá tŕnh chuyển hoá và phát triển của chèo sân đ́nh:
Vậy là, chỉ cần căn cứ vào những vở
cổ c̣n lưu giữ trong nhà nghề, đặc biệt số vở được nghệ nhân
lấy ra những mảng miếng, thủ pháp đủ sức làm mẫu cho nghệ
thuật truyền thống, chúng ta đă thể nhận ra quá tŕnh chuyển
hoá, phát triển nhiều mặt của chèo cổ, đúng hơn chèo sân đ́nh.
Trên đường xâm nhập ngày càng sâu
vào mọi mặt sinh hoạt đời thường của bà con thôn xóm, những
người làm chèo đă nhanh chóng kịp thời chuyển địa điểm diễn
qua sân đ́nh, từ ḷng đ́nh hoặc thềm đ́nh quay ra ba phương
sáu hướng, lấy đấy làm khán trường ngoài trời rộng răi phóng
khoáng; Cứ thế, dần h́nh thành cả loạt nguyên tắc kịch thuật
linh hoạt độc đáo, mà nhiều nhà chuyên môn gọi là sân khấu ba
mặt.
Quá tŕnh t́m cách thể hiện các
tích mới, nhân vật mới, t́nh huống mới, nghệ nhân đă vay mượn
các loại dân ca, dân vũ tṛ diễn dân gian và "chèo hoá" chúng
dần cho tới khi thành thủ pháp của vốn nghề nhà. Không loại
trừ những cái mới không thể không sáng tạo, ban đầu có thể c̣n
vụng về, gồ ghề, sau được người này kẻ kia uốn nắn sửa sang mà
thành hay dần, đẹp dần, với sức diễn tả mạnh dần.
Dường như trong chèo cổ, cái cười
ngày càng chiếm thời gian dài, càng chú ư phản ánh những thói
hư tật xấu của đời thường. Điều đó, làm cho tính xă hội của
chèo ngày mỗi nổi đậm về sau. Nổi bật hơn cả là lớp việc làng
chỉ bằng nói thường, nói lối, nói rao, "ngâm thơ", với đủ
thành phần nhân sự của bộ máy chính quyền cơ sở đại diện cho
pháp luật, tập tục, đạo lư, tôn giáo, bị vạch mặt thật ê chề.
Song nhà nghề trân trọng ǵn giữ,
coi là mẫu mực cho nghề Tổ, c̣n là cả loại h́nh tượng nhân vật
nữ tốt có, chưa hẳn tốt có, chưa hẳn xấu cũng có, đặc biệt là
số nhân vật nữ vượt khỏi ṿng kiềm toả của đạo lư phong kiến,
như Thị Màu, đào Huế, Suư Vân,...
Có điều, nếu Thị Màu chỉ là nhân
vật đối tỷ cốt làm bật rơ sự nhẫn nhục của Thị Kính lần nữa,
để đức độ nàng khả dĩ đủ mức lên toà sen thành Phật Quan Âm;
nhân vật đào Huế tuy chẳng ai nói là "phản diện" nhưng cũng
không được nhà Nho "ưa", vẫn chỉ là chi tiết phụ, mà nếu có
lược đi cũng không hại ǵ đến kết cấu và chủ đề tích chuyện;
c̣n Suư Vân, người phụ nữ bất đắc dĩ đành bỏ chồng, lại nằm
vào bản thân (tích) tṛ, hay nói đúng hơn, dễ tới 2/3 thời
gian diễn tích Kim Nham là để thể hiện nàng.
Thị Màu, Đào Huế, Suư Vân đều được
nghệ nhân sáng tạo thành khuôn diễn với nhiều bài hát múa dành
riêng, độc đáo, tới nay vẫn giữ nguyên giá trị thẩm mỹ và giá
trị nghệ thuật.
Những tính cách, chính là đức độ
bản sắc nhân vật ấy thường bộc lộ thụ động, tức là họ chỉ phô
bày tâm trạng và cách ứng phó khi sự biến đă xẩy ra, bằng cách
diễn xuất mang nội dung và h́nh thức nhiều ít hấp dẫn đủ sức
làm gương cho người xem. Chỉ số ít mang tính cách vượt khỏi
quan điểm phong kiến mới phô bày một cách chủ động, mà có đúng
là cố ư, khi nghệ nhân dùng những làn điệu và khuôn diễn thật
đặc sắc làm rạng rỡ nghệ thuật cổ truyền: tính từ những nhân
vật Thày Đồ, Thày Bói, Phù Thuỷ, Vợ Mơ đến Thị Màu, Đào Huế,
Suư Vân.
Đồng thời với sự xuất hiện lần lượt
những cái mới trên, tính xung đột hay thường gọi là tính kịch
trong một số bản tṛ cùng tuỳ người soạn, tuỳ tích, tuỳ phường
gánh và khán giả mà gia tăng đáng kể. Điều này đi theo với
việc bộc lộ tính cách nhiều hay ít chủ động của nhân vật. Như
xung đột trực diện và quyết liệt giữa Đào Huế và Tuần Ty (với
đào Nấp) là một bước "mới" so với xung đột cũng trực diện
trước đấy giữa Châu Long và Lưu B́nh, hoặc giữa Vợ Mơ với Xă
Trưởng.
Đừng quên, dầu nhà nghề nh́n nhận
rất "đúng", rằng từng vở diễn thường là sự ghim ghép (cho là
có sáng tạo) các mảng diễn sẵn có của vỗn cũ song với ngót một
chục vở truyền thống vẫn được làm mẫu mực cho nghề Tổ, th́
nhận xét đó không mấy chính xác. Nh́n vào thực tiễn nghệ thuật
của những vở này, ngay số lớp diễn đa dùng (như lớp giáo đầu,
lớp lăo ông có con gái lớn đến tuổi...) đă thấy sự cố gắng vận
dụng cho sát yêu cầu thể hiện bản tṛ số lớp thuộc vào thân
tṛ cũng chỉ thấy đôi nét hao hao (như Thị Phương lấy chồng
đâu có "giống" Thị Kính hát múa Duyên phận phải chiều với
Thiện Sỹ, càng không "giống" Suư Vân hát múa vu quy với Kim
Nham,..); c̣n những lớp ruột tṛ của tích th́ rơ ràng khác hẳn
về nội dung đă đành, nhất là về hát múa và diễn xuất tạo h́nh,
và dẫu có dùng lại đây đó một vài điệu s?p hay sa lệch hoặc
mươi câu nói sử th́ nhờ diễn suất thể hiện nội dung mới, chúng
đă ăn nhập với toàn khuôn diễn mới. Cứ thử so sánh nghệ thuật
của ông Măng với Lăo Mốc, của Thừa Tướng với Trương Công, của
Trương mẫu với Tống mẫu, của Hề theo Trương Viên với Hề theo
Lưu B́nh, Hề theo Kim Trọng v.v... mọi người đều thấy mỗi lớp
có nét riêng khó thể "in lại máy móc" vào bất kỳ vở nào khác.
Nói chi những lớp "ruột" (Chạy loạn, Sống chung, Lên Chùa,
Việc làng, Đánh ghen, Vân dại,...) là những tập đại thành về
trí sáng tạo truyền đời của các thế hệ làm nghề, bao gồm từ
người soạn tích, người sắp tṛ đến nghệ sỹ ở đây cũng thấy rơ
quá tŕnh thu hút ḥa nhập số loại h́nh dân ca, dân vũ, diễn
xướng và tṛ diễn dân gian làm thành bản thân nghệ thuật chèo,
mà thực tế diễn xuất của số vở truyền thống c̣n hằn rơ dấu vết.
Cho nên, nói "chèo ra đời từ thời Đinh, xây dựng trên cơ sở
tṛ nhại và hát múa" như một nhà nghiên cứu đă viết là chưa
thỏa đáng. Thực ra, chèo từ loại Giáo phát triển thành có tích,
có nhân vật, từ đấy du nhập, chuyển biến các loại hát bỏ bộ (trong
sinh hoạt hát Xoan, hát Dậm, hát Dô,...), các loại hát nói (trong
hát ả đào, hát văn, hát xẩm,...), kết hợp với số động tác
trong múa (hát) chèo đ̣, múa (hát) cửa đ́nh (các khuôn múa bàn
tay, múa lượn ngón, múa cánh tay), múa mâm đên, múa qnạt, múa
cờ,...; với cả những tṛ nói mặt, tṛ tŕnh nghề vốn rất phổ
biến trong những hội làng, đánh dấu từng mức tŕnh độ sáng tạo
và thưởng ngoạn nghệ thuật của đồng bào từng vùng.
Cho nên, nói chèo sân đ́nh h́nh
thành ngôn ngữ nghệ thuật ngay khi thành h́nh và phát triển
kịch chủng, là đă lưu ư nhiều đến số lớp tṛ chuyên dùng, xếp
cạnh số lớp tṛ đa dùng, trong đó, âm nhạc giữ vai tṛ rất
quan trọng. Nói cách khác, những ǵ làm người xem phân biệt
chèo với các kịch chủng cùng nằm trong loại h́nh kịch hát dân
tộc (Việt) như Tuồng, kể thêm Cải lương, chưa nói Opera, hay
kịch nói, những cái lọt vào tai, hiện ra trước mắt người xem (dù
là tâm tư t́nh cảm nhân vật hay không gian thời gian xẩy ra sự
biến) chính là âm nhạc, gồm cả nhạc gơ, nhạc khí và làn điệu
qua nghệ thuật biểu diễn của nhà nghề.
Nh́n phương diện đó, với quan niệm
rộng răi về nhạc như cha ông ngày trước, có thể nói, quá tŕnh
h́nh thành và tiến triển nghệ thuật suốt 5 thế kỷ của chèo sân
đ́nh, từ Trương Viên tṛ, Tống Trân tṛ, cả Lưu B́nh tṛ, rồi
Quan Âm tṛ, sang Chu Măi Thần, Kim Nham, phải chăng cũng là
quá tŕnh phát triển của nhạc chèo, nằm trong đường đi chung
của nền nhạc dân tộc (Việt)?
Đương nhiên, do phải phụ thuộc hoặc
chịu ảnh hưởng nhiều ít của những biến thiên văn hóa xă hội
mỗi thời kỳ lịch sử mà từ Lư Trần về trước, nhạc dân gian và
nhạc cung đ́nh, ḥa hợp gần như là một; sang đời Hậu Lê có lúc
nhạc cung đ́nh hướng ngoại cố giữ vị trí chủ lưu, song không
bao lâu cũng chịu bất lực để "tục nhạc" (trong đó có nhạc chèo)
bùng lên, ùa tràn vào các lễ nghi triều miếu, bất chấp mấy lần
vua Lê chúa Trịnh ra sắc chỉ cấm đoán ngăn chặn, như từng chép
ở Đ?i Việt sử lư, Vũ trung tuỳ bút. Tới thế kỷ XIX, nhà Nguyễn
có lúc muốn thâu tóm tất cả những ǵ thuộc lễ nhạc về một mối,
lập hẳn một Thự, rồi một ban Hiệu Thư chuyên lo mà cũng chỉ
cản trở chuyện đó phần nào. Bởi chèo sân đ́nh nhờ bám chắc vào
đời sống đông đảo bà con và các Hội làng, nên dù ở hoàn cảnh
nào cũng được nhân dân bù tŕ khích lệ mà tồn tại và lớn dần
đến ngày nay.
Con đường gần 5 thế kỷ từ Chèo
Thuyền bản đến chèo Kiều, hoặc có thể nói, từ tṛ nhà Phật (có
thể gọi là chèo sân chùa?) chuyển sang chèo sân đ́nh qua biết
bao biến thiên văn hóa xă hội, cả chính trị, đă để lại cho đời
cả một kho tàng nghệ thuật sân khấu dân tộc quư giá, đ̣i các
thế hệ sau quan tâm bảo tồn, kế thừa, phát huy và phát triển
thích đáng.
Quả thật, phần lớn vở chèo (cổ) đề
cao rất mực những thư sinh lư tưởng (dùi mài kinh sử, thi đỗ
làm quan) và những thục nữ mẫu mực, lên án những kẻ bất nhân
thất đức, lấy tam cương ngũ thường, tam ṭng tứ đức làm thước
đo mỗi phẩm cách nhân vật, làm lẽ sống cần vương tới cho mọi
người.
Cũng chính từ cuộc sống khổ cực
phải chịu hàng ngày mà nhân dân đă thúc đẩy hỗ trợ những người
có năng khiếu trong họ sáng tạo ra những diễn xướng, tṛ diễn
có lời hay không có lời có hát múa hay không có hát múa, hoặc
chỉ có nhạc gơ với diễn xuất. Tức là chúng hết sức đa dạng,
phong phú, chuyển hóa theo những biến thiên văn hóa xă hội, cả
chính trị, để từng bước h́nh thành nghệ thnật chèo sân đ́nh.
Quá tŕnh chuyển hóa sáng tạo liên tục này là tập đại thành
trí tuệ và công sức của lớp lớp trí thức yêu mến thiết tha
nghệ thuật dân tộc, của các thế hệ nghệ nhân giàu tính ngẫu
hứng ứng tác ứng diễn truyền đời, không ngừng bổ sung ổn định
vốn cũ trau tria kỹ năng tài nghề mà tạo dựng những khuôn diễn
cho các loại vai trong các tiết mục, làm cho nghệ thuật chèo
ngày thêm giàu sức thể hiện, giàu sức gợi cảm và truyền cảm,
gia tăng sức hấp dẫn, đồng thời, càng đặm đặc tính dân tộc.
Mặt khác xem xét từ bản tṛ đến
diễn xuất, cả từng chi tiết thuộc phần ứng tác ứng diễn của
nghệ nhân, đều thấy bộc lộ vai tṛ cốt cán của người soạn tích,
những kẻ sĩ. Th́ đấy, ngôn từ dùng trong các bản tṛ dành cho
hầu hết các loại vai, thấy chữ Hán chiếm tỷ lệ không nhỏ, dễ
tới 1/3. Không kể vô số bài thơ ngâm thuần Hán, c̣n không ít
đoạn lời của đủ các nhân vật lăo mụ, kép, đào, hề gặp luôn
những đoạn Hán Nôm chen lẫn, lắm khi một câu mà cũng thấy "bán
nôm bán tự", trong khi hầu hết nghệ sỹ chèo đều "mù chữ". Nh́n
vào quá tŕnh chuyển hóa phát triển chèo cổ, thấy dường như
mỗi bước vươn lên, mỗi xu hướng nghệ thuật ở từng giai đoạn,
từng tiết mục, đều lộ ra bàn tay kẻ soạn bản tṛ. Nghệ nhân
đóng vai, trong phạm vi được bác Thơ, ông Trùm giao, chỉ làm
phong phú sống động những tích tṛ, những vai đóng đă do người
viết hoạch định các sự biến đủ làm bộc lộ phẩm chất đức độ
nhân vật từ trước.
Sự h́nh thành khuôn diễn cho từng
loại nhân vật hay cho từng nhân vật cụ thể là cả một công
tŕnh nghệ thuật mang tính tập thể cao độ, trong đó, mỗi người
mỗi góp vào, phần nhiều từ ứng diễn ứng tác truyền đời trên cơ
sở bản tṛ. V́ thế h́nh tượng vai đóng đă hầu thành khuôn diễn
chung trên đường nét cơ bản đ̣i kẻ đi sau phải cố gắng tuân
thủ, nhất thể đối với số vai hay, vở diễn hay, đă được giới
nghề coi là vốn cũ truyền thống. Sự sáng tạo (nếu có) của
những kẻ đi sau có chăng là số nét chi tiết khác lạ hơn trước,
do nghệ nhân dùng ngay bản thân đóng vai, với các thủ pháp
nghệ thuật nằm trong ngôn ngữ kịch chủng. Việc "sáng tạo" đó
c̣n tùy thuộc vào tài năng mỗi người nghề, vào thích thú
thưởng ngoạn của khán giả từng nơi, vào quan điểm nghệ thuật
của mỗi bác Thơ hay ông Trùm, cốt sao vai đóng vừa khác lạ (so
với trước), vừa hay (xem sướng mắt ngọt tai). Chứ diễn xuất có
ngẫu hứng mấy mà hát không hay, số nét "mới" đó không tô đậm
thêm h́nh ảnh thậm chí làm loăng, làm "lạc" bản chất nhân vật
truyền thống, th́ không thể nói là sáng tạo.
Việc chèo cổ mỗi khi dựng vở khác
tích vẫn cố gắng dùng lại vốn cũ (câu văn, làn điệu, diễn xuất)
c̣n khả năng thể hiện nội dung mới đưa vào; hoặc "bẻ làn nắn
điệu" (tức là chuyển hóa một bước) để vốn "cũ" phù hợp hơn với
nội dung mới; đồng thời sáng tạo diễn xuất mới khi gặp nhân
vật mới, t́nh huống kịch mới mà vốn cũ chịu bất lực; tất cả
phải trên cơ sở yêu cầu của bản tṛ. Đấy chính là cung cách kế
thừa và phát triển nghệ thuật của chèo sân đ́nh.
Nh́n vào phương diện văn sử cũng
thấy vậy. Cho dầu đều do các nhà nho biên soạn, con đường đi
từ Việt diện u linh.... ghi lại nhưng chuyện thần thông biến
hóa của không ít quỷ ma tiên thánh, với thái độ kính tín thờ
phụng, chi ít cũng tỏ ra rất trân trọng; th́ sang Lĩnh Nam
chích quái soạn đi soạn lại vẫn loại chuyện đó, song hành
trạng của mỗi Vị, được ghi lại trên nét chính, qua số sự biến
đủ vẽ lên, đúng hơn, phác họa cuộc đời một siêu nhân, tuy đă
kể lướt hoặc lược bỏ số chi tiết bộn bề của hiện thực, song
không hề thấy có sự xúc phạm hoặc thái độ hay cảm giác chê bai.
Để đến những truyện "ra đời" sau đấy rơ là hiện thực ngoài đời
tràn vào ngày một nhiều th́ văn nghệ dân gian và chèo phải
phát huy cái hài ngày mỗi mạnh, để phản ánh, thực ra có phần
đối phó với t́nh h́nh, ngơ hầu bắt kịp những đổi thay theo đà
tiến chung của xă hội.
Cũng từ quá tŕnh chuyển hoá mọi
mặt của chèo sân chùa, sân đền sang chèo sân đ́nh ḍng dă mấy
thế kỷ mà lộ dần số đặc điểm chi phối các khâu thuộc nội dung
và h́nh thức của chèo cổ. Có điều do hạn chế lịch sử, số đặc
điểm này chưa được đúc kết thành hệ thống (hoặc đúc kết rồi
nhưng thất lạc chưa t́m thấy lại), nên chúng thường nằm ẩn đây
đó trong các khâu nghệ thuật, đ̣i người nay phải đầu tư trí
tuệ và công sức t́m hiểu, bàn bạc, thậm chí tranh luận mới
mong đi tới những kết quả đủ chứng minh con đường phát triển
của chèo sân đ́nh.
Chèo văn minh và chèo cải lương
Từ chiếu diễn sân đ́nh chuyển dần
vào sân khấu hộp
Nguyễn Đ́nh Nghị, chủ suư của phong
trào chèo cải lương
Mấy nhận xét về nghệ thuật chèo
thời thuộc Pháp.
Dựa vào một số sử liệu và cứ liệu
ít ỏi ghi trong sách báo của các bậc đi trước, một số di vật
quư hiếm c̣n tồn giữ và lời kể của các nghệ nhân từng chứng
kiến hoặc trực tiếp hoạt động chèo qua các giai đoạn của thời
kỳ, vào số cáo bạch, quảng cáo, chụp ảnh và bài viết (rất ít)
trên báo chí đương thời hiện lưu trữ tại Thư viện Saigon và
HàNội .
1. Từ chiếu diễn
sân đ́nh chuyển dần vào sân khâu hộp: Sán Nhiên đài và việc
xuất hiện chèo văn minh
Theo một số nghệ nhân cao tuổi,
trước đây Hà Nội không có phường chèo thưong mại. Những dịp
đ́nh đám hội hè, giỗ chạp khao vọng, xóm phố lại cử người ra
ngoại thành mời phường chèo quanh đấy về hát giúp dăm bảy bữa
với cung cách biểu diễn và thưởng thức nghệ thuật không khác
mấy chèo sân đ́nh.
Mấy năm vừa chiếm thành Hà Nội,
Pháp sai Đội Nghỉ chiêu mộ nghệ nhân lập phường, hát mỗi tuần
vài ngày trên băi chợ Hôm, cho lính Pháp và người quen xem để
"củng cố tinh thần". Sợ Cần vương đánh lén, người ta tổ chức
hát từ 9, 10 giờ sáng kéo tới chiều tối. Tại đây, nghệ sỹ chèo
đă đặt bàn thờ Tổ ghé vào nội tẩm Giáo phường quán của phường
nhà Tṛ (Ca Trù) chuyên hát cho hội đ́nh làng Hoà Mă hàng năm,
xây sát liền bên cạnh.
Rạp được thị dân bấy giờ hiểu là
điểm biểu diễn và thưởng thức nghệ thuật có mái che, có tường
vây quanh, do tài chủ bỏ vốn xây dựng kinh doanh kiếm lời.
Thực ra, đấy chỉ là gian nhà khá rộng, đủ chứa bảy tám chục
khán giả, ánh sáng là 2 chiếc đèn đĩa (hoặc đèn 3 dây), sàn
diễn đắp đất, be gạnh, cao hơn nền nhà dăm sáu tấc ta, trải
chiếu, người xem vây quanh. Có vài hàng ghế hay chơng tre
giành cho người mua vé 5, 7 xu, 1 hào, ngồi đất 2, 3 xu, đứng
1 xu, xu rưỡi.
Mặc dầu địa điểm có phần chật chội
so với sân đ́nh ngoài trời, các phường vẫn diễn những tích
Trương Viên, Quan Âm, Lưu B́nh, Tống Trân Cúc Hoa, Lư Công,
Trần Tử Lệ, Từ Thức, Phạm Công... qua đó, nổi lên số nghệ sỹ
tài năng người xem nay c̣n nhớ. Như phường chèo ông Trùm Dương
(Hưng Yên) năm nào cũng vào diễn luân lưu mấy địa điểm nội
thành hàng tháng, có hề Quưnh nổi bật trong vai Hai Móm gây
được những tràng cười ư nhị hóm hỉnh; có kép Hỷ, Nữ Lă (nam
đóng giả) ra vai nào cũng có góc cạnh khó quên. Như phường
chèo ông Tổng Bốn (Sơn Tây) có đào Xuyến nổi tiếng về những
vai đào thương (Thị Phương ở Trương Viên) và đào lẳng (Thị Mầu
ở Quan Âm) được không ít khách xem mến mộ nồng nhiệt; có nữ Hỗ
là nam đóng Châu Long duyên dáng ôn như rất mực...
Khoảng 1905, một tư thương ở Hàng
Bạc, thấy mấy chủ Năm Chăn, Thông Sáng cho thuê rạp "phát tài",
thấy các phường chèo vào diễn ở Hà Nội "ăn khách", liền xuất
vốn mua nhà, sửa thành rạp, thuê mướn nghệ nhân lập gánh kinh
doanh, gọi là Gánh chèo ông cả Vỵ. Gánh này diễn mỗi tuần ba
tối (thứ tư, thứ bảy, chủ nhật); các tối khác cho thuê diễn
tuồng hoặc hội họp, cưới hỏi.
Đây là gánh chèo chuyên nghiệp đầu
tiên ở Hà Nội, do tài chủ ra tiền và điều khiển, tập làm ăn
theo lối tư bản chủ nghĩa. V́ chủ gánh không biết nghề, nên
việc t́m tích, ghép mảng, bổ vai được giao cho lăo Bất, một
nghệ nhân tháo vát, chuyên đóng lăo và hề.
Suốt mấy năm, cả nội thành chạy dọc
bờ Hồ Gươm sang hàng Bông, Cửu Đông, tuốt tới Nghi Tàm, Đại
Yên ra sát sông Cái, lấy chợ Đồng Xuân, chợ Bắc Qua làm trung
tâm, phía Nam tận Bạch Mai, không ít dân chúng đă xem và nhắc
đến những khuôn h́nh điêu luyện về ông Măng hồn hậu vui tính,
Thừa Tướng đĩnh đạc b́nh dân của lăo Bất; về anh Trương Viên
hiếu dễ thuỷ chung, chàng Từ Thức hào hoa phong nhă của kép Hỷ,...
Nhất là những Thị Màu lẳng lơ, Suư Vân "anh hoa phát tiết" làm
điên đảo bao khán giả của đào Xuyến; hoặc cô đào Huế "già tay
dễ đă mấy ai" của Nữ Lă thật sống động, hay nàng Châu Long
duyên dáng mà hóm hỉnh của Nữ Hỗ đều được khách xem trầm trồ...
Năm 1908, mấy nhân sỹ hợp tác với
số nhà buôn mua đất ở ngơ Sầm Công, xây Đồng lạc đài. Rạp này
chứa hơn trăm khán giả, có sân khấu mô phỏng theo cách làm ở
trong Kinh (Huế) và qua thực tiễn làm nghề của mấy rạp Năm
Chăn, Thông Sáng, nên mang nhiều dáng dấp loại sân khấu hộp.
Sân khấu Đồng Lạc được đông đảo
khách xem tán thưởng thời gian dài, do Ban Hát có nhiều "canh
tân": lời tṛ, câu hát, khuôn diễn có trau tria cô gọn nên
chừng mực và ư nhị hơn, trang phục đồ nghề đă mới lại đẹp và
màu sắc hơn, tài năng người nghề được khuyến khích phát huy...
Quan trọng, là bên cạnh số vở diễn nhiều ở Hà Nội, nay có thêm
số tích "ruột" của mấy phường tỉnh ngoài, như Phạm Tải Ngọc
Hoa, Hoàng Trừu; chuyển số tích của Tuồng sang, như Tứ Linh,
Hán Sở nhất là khai thác truyện cổ dân gian để viết tích mới,
như nàng Tiên ốc, Chàng Sọ Dừa, Đức bà Chúa Ba,...
Đồng lạc là rạp hát đầu tiên thuần
diễn chèo ở Hà Nội, cũng là rạp hát đầu tiên đưa chèo vào sân
khấu hộp một cách c hính thức ở Hà Nội. Tất nhiên, trước đấy,
nhiều phường đă làm quen với việc diễn trong nhà ở các rạp
hàng Quạt, hàng Gà, và thử thách mấy năm ḍng ở rạp hàng Bạc.
Song sử dụng thuần thục và chững chạc dần, đúng là sân khấu
hộp với "bức tường thứ tư", th́ phải kể sân khấu Đồng lạc.
ở đây, trống chầu ngày càng bớt ư
nghĩa và vai tṛ cầm trịch buổi diễn (thúc đẩy uốn nắn diễn
xuất, khen phạt nghệ nhân, hướng dẫn khán giả) v́ thiếu người
biết thưởng thức đứng ra đảm nhiệm. Yêu nghề như ông Khoá Căn
cũng chỉ đủ sức duy tŕ việc đó dăm bẩy tháng, sau v́ c̣n bận
nhiều việc khác, đành bỏ lửng. Những việc khen thưởng nghệ
nhân mỗi khi xem được ngón hay, th́ khán giả vẫn giữ tuy có
khảng tảng hơn. Cũng vậy, dù đồng bào thuộc nghề, thuộc cả
tính nết và biết rơ gia cảnh từng nghệ nhân, đôi khi có khán
giả đùm bọc chăm sóc họ như người thân, song sự giao lưu mật
thiết giữa người xem và người diễn th́ không c̣n như thời kỳ
chèo sân đ́nh. Nhiều khán giả vui vẻ chấp nhận thái độ thưởng
thức thụ động khi xem diễn. Và nghệ nhân đóng vai chỉ c̣n
trông chờ người nhắc vở và tự ḿnh t́m bắt trúng mạch khán giả
mà có diễn xuất tương hợp. Đồng lạc đông khách khoảng dăm bảy
năm, rồi lại rơi vào t́nh trạng giống bên hàng Bạc là thiếu
tích mới, cho dẫu đă tích cực chuyển từ tích Tuồng và đồ lại
chuyện cổ. Rơ ràng, khi Ban Hát diễn ở một địa điểm cố định,
với số nhiều khán giả thị dân có điều kiện mua vé xem thường
xuyên, th́ vấn đề tích mới là chuyện sống c̣n, điều mà các
phường gánh lưu diễn hàng năm xuân thu nhị kỳ chưa thấy cấp
thiết.
Về địa điểm diễn chèo ở thành thị
th́ thời gian này, các nghệ sỹ c̣n nhắc đến rạp Tám gian, rạp
Nhà Ḅ ở Hải Pḥng, rạp hàng Thao, rạp hàng Rượu ở Nam Định,
rạp Tiền An ở Bắc Ninh,... Mấy rạp này thường diễn khi th́
chèo, khi th́ Tuồng, tuỳ các phường đến thuê, mà chưa tổ chức
được Đội hát, Ban hát chuyên như gánh chèo rạp hàng Bạc và Ban
hát chèo rạp Đồng lạc ở Hà Nội.
Ban hát Đồng lạc nhờ Khoá Căn nỗ
lực chèo lái, nhờ dàn nghệ nhân diễn xuất tốt, với những Hề
Quưnh, lăo Bất, mụ Hỗ... đêm đêm đua nhau phô tài cùng với lớp
đàn em ham mê tập rèn. Tuy vậy, Đồng lạc chỉ đông khách khoảng
7 năm rồi cũng rơi vào t́nh trạng thiếu tích mới, do khán giả
thị dân có điều kiện mua vé xem nhiều, đă quen thuộc và biết
rơ từng ngón nghề của mỗi nghệ nhân, không chấp nhận những
kiểu lặp lại dễ dăi, nhất thể ở những vỡ cũ, bất chấp áo quần
vai sắm may mới. Cuối năm 1913, một số kêu gọi hùn vốn lập Hội
Sán Nhiên với mục đích "chấn hưng nền hư kịch nước nhà cho
tiến kịp văn minh thế giới".
Hội sán nhiên thành lập với gần 100
cổ phần, bầu Ban Quản trị, có các ông Ôn Như Nguyễn Văn Ngọc,
nhà giáo vừa là nhà sưu tầm tục ngữ phong dao có tiếng, các
ông Nguyễn Quang Oánh, Đỗ Thận,... Hội chiêu mộ người nghề,
lập Ban Hát, được phần lớn anh chị em trong gánh chèo Hàng Bạc
và một số ở ban hát Đồng Lạc hưởng ứng.
Ban đầu, chèo Sán Nhiên hát ở rạp
hàng Buồm thuê của một chủ người Hoa: xây gạch lợp lá, chứa
hơn 100 khán giả, sàn diễn bố trí tương tự như bên Đồng Lạc,
với dàn nhạc ba bốn người ngồi mé dưới 2 ngọn đèn 3 dây, thắp
dầu hoả treo đàng trước, chiếu sáng cả rạp suốt đêm diễn.
Trống cái đặt bên dàn nhạc đánh mở đầu ba hồi theo lệ cổ và 1
hồi kết thúc, thi thoảng đánh giữ nhịp và tham gia gây không
khí ồn ào khi tṛ diễn cần. Trống này chỉ làm nhiệm vụ cầm
trịch hướng dẫn đêm hát, khen thưởng nhà nghề mỗi tối thứ bảy
hoặc những buổi hát do khán giả mộ cổ, bỏ tiền xin ngồi cầm
chầu...
Hội Sán Nhiên vừa tiến hành mọi
việc thuận lợi th́ bùng nổ Thế chiến thứ nhất. Pháp dấy lên
khắp thành thị nông thôn, tổ chức lạc quyên, thúc ép nhân dân
ganh đua "rồng Nam phun bạc" quơ bắt thanh niên đi lính "bảo
vệ mẫu quốc".
Nhiều nhà yêu nước nương theo thời
cuộc mà muốn canh tân nền hát Chèo nên thúc đẫy dân chúng
HàNội tuỳ sức tuỳ hoàn cảnh góp phần duy tân cải cách. Nhiều
đoạn lời, ư nghĩa hoặc kín đáo chỉ trích chế độ đương thời,
hoặc khéo léo gợi ḷng nhớ nước thương ṇi ra đời. Cùng lúc,
một nhóm quan lại, viên chức, nhà buôn, đứng ra gọi cổ phần
lập Công ty Quảng Lạc cũng nêu chiêu bài "chấn hưng hư kịch
nước nhà", cử người triều đ́nh với chủ người Hoa, mua đứt rạp
hàng Buồm, buộc Ban chèo Sán Nhiên rời sang điểm diễn khác.
Hội Sán Nhiên phải diễn tạm ở Nhạc Hội Bờ Hồ, t́m mua đất xây
cao rạp riêng. Hơn một năm, ban hát Sán Nhiên mỗi tuần chỉ hát
3 ngày, cốt kiếm lương ăn cho nhà nghề, c̣n nhóm phụ trách vẫn
ghi chép chỉnh lư ản tṛ, hướng dẫn nghệ nhân học thuộc lời,
trau dồi kỹ năng...
2. Nguyễn Đ́nh
Nghị, chủ suư của phong trào chèo cải lương.
Qua quảng cáo đăng báo của Cải
lương hư viện, Văn Minh hư viện, thấy nêu Nguyễn Đ́nh Nghị
soạn 27 tiết mục, trong đó, 21 vở chua là trận cười, 6 vở đă
in bán th́ 2 vở đi vào đề tôn giáo. Phần lớn số này khai thác
chất liệu cuộc sống đương thời; số khác đi vào truyện cổ
truyện Tàu. Khoảng năm 1962, Nguyễn Đ́nh Hy trao cho ban
Nghiên cứu Chèo 33 kịch bản nói là của Nguyễn Định Nghị, 6 vở
thêm vào đều phỏng theo truyện cổ hoặc viết lại tích cũ.
Song bằng vào cung cách làm nghề
với số nét riêng (cách đặt tiêu đề, cách cổ động quảng cáo,...)
c̣n có thể đoán định Nguyễn Đ?nh Nghị, ngoài 27 vở trên, c̣n
soạn hơn 30 vở nữa, số 33 do Nguyễn Đ́nh Hy đưa ra, có thể là
số tiết mục với số nét riêng (cách đặt tiêu đề, cách cổ động
quảng cáo,...) c̣n thể đoán định Nguyễn Đ?nh Nghị, ngoài 27 vở
trên, c̣n soạn hơn 30 vở nữa, hầu hết phỏng theo truyện cổ, dă
sử, thần tích, thánh tích. Con số 33 do Nguyễn Đ́nh Hy đưa ra,
có thể là số tiết mục thường diễn của các gánh Nghị lập ban,
Tự lập ban, rồi Như ư ban, đă viết thành kịch bản hẳn hoi và
từng thử thách nhiều, nên gia đ́nh tốn giữ. Khoảng 60 vở trên,
xét nhiều mặt, khả dĩ phản ánh khá đúng những đóng góp cũng
như hạn chế không riêng một Nguyễn Đ́nh Nghị mà cả phong trào
chèo cải lương những năm 20, 30...
Qua những kịch bản ấy, xét quan
điểm sáng tác, thấy Nguyễn Đ́nh Nghị chịu ảnh hưởng sâu đậm
của một số nhà Nho nhiều ít có tinh thần dân tộc, mà trực tiếp
là mấy vị trong Ban Quản trị Hội Sán Nhiên, khi luôn nhắc mục
tiêu "chấn hưng nền hư kịch nước nhà", lên án, chỉ trích những
con người, những hiện tượng trái "luân thường", trên cơ sở bảo
vệ duy tŕ đạo lư cũ khi chủ trương loại bỏ dần các tích mượn
truyện Tàu và thay bằng những tích mới soạn từ kho tàng truyện
cổ của cha ông.
Nguyễn Đ́nh Nghị một lần nói: "Các
vở của tôi soạn đều chú trọng vào việc răn đời, lấy lời ca
giọng hát và tiếng cười tao nhă duy tŕ phong hoá mà cảnh tỉnh
thế đạo nhân tâm". Ông c̣n viết trong Lời tựa vở Một Trận Cười,
rằng: "Nghề diễn kịch theo thời cũng như cách bán hàng chiều
khách, nên chỉ cốt đem nhời giản dị cho dễ lọt tai, để làm thú
vui chung, trong lúc thừa nhàn giải trí... Soạn giả có tuân
theo ư kiến của quư hội Sán Nhiên đài và soạn ra tích hài kịch
Một trận cười này, cũng nhân điệu cũ mà tả thành lời mới, gọi
là theo tài học nói..".
Soạn phẩm của ông, chẳng kể khai
thác truyện cổ hay đề tài trước mắt, đều trên cơ sở đạo lư
phong kiến, hô hào mọi người góp sức canh tân đất nước, c?i
lương mọi mặt nhằm làm cho dân giàu nước mạnh, kêu gọi bài trừ
những thú vui tập tục hủ lậu, lên án chỉ trích những hiện
tượng luân thường nghiêng ngả, đồng thời ca ngợi những tấm
gương hiếu nghĩa, thông qua quan hệ cha mẹ chú bác với con
cháu, vợ chồng, bè bàn, tớ thày, xoay quanh những chuyện nhân
t́nh thế thái, chơi bời đàn đúm... trên cái trục bĩ thái, đ̣i
con người ăn ở "phải lẽ" theo định mệnh giành sẵn, và nhân vật
cột trụ của mỗi vợ thường nằm trong tầng lớp trung lưu, như
Viên ngoại, Phú thương, Phú ông, bà Tham, Nhà giàu...
Phần lớn tiết mục mang đề tài cổ
vẫn tôn trọng chủ đề chuyện cũ, chỉ thâu tóm số sự biến đủ làm
rơ số phận nhân vật chính, phụ mà đ̣i nghệ nhân đóng vai phả
từ vốn nghề tích luỹ của ban thân, bồi đắp tạo tác sao cho
h́nh ảnh đủ làm khách xem vừa ḷng.
ở số vở đúng là chèo cải lương,
Nguyễn Đ́nh Nghị đă vẽ lên những Thông phán, Hào phú rượu chè
bài bạc, hút sách, chơi bời trước sau sẽ chịu hậu quả xấu xa
thảm bại, rồi nhờ mẹ hiền, vợ thảo, con khôn mà nhận ra sai
trái, trở về với gia đ́nh.
Về kỹ thuật viết vở, Nguyễn Đ́nh
Nghị theo người đi trước, phần nhiều nương theo cách viết của
sân khấu kể chuyện nhưng chia thành từng Hồi (diễn 1 đêm),
từng Đoạn (mỗi hồi 2 đoạn), từng Cảnh (mỗi đoạn từ 2 đến 3
cảnh), mỗi Cảnh là 1 màn nói trọn 1 hoặc 2, 3 sự biến. Không
thấy ông dùng Lớp dầu hiểu theo nghĩa của cha ông (gần như 1
màn) hoặc theo kịch Thái Tây (thêm hay bớt 1 nhân vật). Ông
thay giáo đầu (cho là rườm) bằng một bài tóm hoặc sự tích "để
xem cho hiểu" đọc trước khi vào diễn; những lời xưng danh th́
đặt lẫn vào các câu hỏi của vai.
Nếu tính số vai có mặt trong các vở,
th́ Ông để lại đến mấy trăm nhân vật. Song xét số vai có cá
tính gây ấn tượng trong người xem th́ không nhiều. Khán giả
đương thời thường ghép tên người đóng giỏi vào tên nhân vật.
Như một thời, nhắc đến sân khấu Sán Nhiên, tiếp đó Cải lương
hư viện, khán giả rất khen kép Phẩm "vai nào ra vai ấy", "làm
hề cũng không nhường ai"; kép Thịnh với các vai Tuần Ty, Lưu
B́nh, ông Măng, Lăo Mốc, Công tử Bột; đào Tửu với các vai Châu
Long,Vân Dại, Mẫu Thoải; đào Tam với các vai Tú Bà, Thị Màu,
Thảo Mai lừng tiếng suốt mấy năm...
Trong lúc sân khấu chèo gặp khó
khăn gay gắt trên đường chuyển hoá nghệ thuật từ xă hội nông
nghiệp bước vào xă hội thực dân đang học đ̣i tư sản hoá, lại
bị chiếu bóng, kịch nói, rồi Cải Lương cạnh tranh ráo riết,
Nguyễn Đ́nh Nghị đă chịu khó học tập áp dụng những cái "mới"
cái "lạ", mạnh dạn cái tiến từng khâu thủ pháp, lan dần sang
đổi khác nội dung, cải tiến cách khai thác đề tài, thay đổi
thể tài,... làm cho chèo thêm sức sống, trụ nổi trên sân khấu
Hà Nội ngót một chục năm.
Về kịch bản, ông tiếp nối việc làm
đúng đắn của Sán Nhiên đài (sai nhuận ổn định lời văn các bản
tṛ cổ hoặc soạn mới theo đề tài cổ), cho diễn xen kẽ những vở
chèo văn minh vốn được khán xem ưa chuộng, cả số "tích mới
soạn" dàn dựng theo cách làm cố hữu, đồng thời với số vở chèo
cải lương.
Với chèo cải lương, Ông khai thác
thêm nhiều đề tài, mở rộng phạm vi phản ánh các hiện tượng
tiêu cực ngoài xă hội, gắn cháp các mảng hài lẻ xoay quanh mỗi
truyện đời, làm thành từng trận cười dài, hy vọng đưa chèo hoà
nhập vào cuộc sống trước mắt. Điều mà chèo cổ bộ lộ chủ yếu
qua ứng diễn ứng tác của nghệ nhân, th́ tới chèo cải lương trở
thành "máu thịt" của vở diễn.
Về âm nhạc, Ông bổ sung mấy cây
nguyệt, thập lục, bầu, tam, tiêu, cùng với số cũ nhị, sáo, mơ,
thanh la, trống cơm,... làm cho dàn nhạc của Ban hát rôm rả
hơn. Về làn điệu, th́ song song với việc dùng lại tối đa vốn
cũ trong số tiết mục cổ, cả số vở mới soạn khai thác đề tài cổ,
chú ư đăng trước lên cáo bạch, viết phấn lên bảng con, rồi
ch́a cho khán giả biết tên điệu mà vai đóng đang hát. Ông cho
du nhập một cách phóng tay đủ loại dân ca các vùng, bài bản
nhiều loại, kể cả bài hát Tây, hát Tàu.
Về biểu diễn, Ông đ̣i nghệ sỹ phải
diễn thuộc theo lời viết sẵn, làm động tác dung dị như ngoài
đời, không dùng múa. Nhưng Ông lại tán thành những ai "nống
lên" làm cười, cốt người xem hể hả là được. Bản thân, ông cũng
phóng bút những đoạn làm nẩy tiếng cười, nhiều khi gây xộc
xệch cả kết cấu của tiết mục, làm mờ nhoè nhiều ư tốt nép dấu
ở cảnh này đoạn nọ...
Có điều, bất chấp ư tốt "chấn hưng
hư kịch nước nhà", Ông c̣n bộc lộ nhiều hạn chế trong soạn
phẩm của ḿnh, về quan điểm cũng như đổi mới nghệ thuật. Dường
như tất cả các nhân vật của ông, điều bị thuyết định mệnh chi
phối sâu đậm, xoay quanh trục bĩ (cực) thái (lai) và những vai
làm cười th́ phần lớn bị tính dục "hành hạ" đưa đẩy. Trong đó,
những kẻ "xấu" đắm ch́m trong vũng bùn truỵ lạc, rồi nhờ người
thân giúp đỡ mà nhận ra sai lầm, hối hận, như Thừa Kham, Trọng
Hỷ,... nhưng lại nó "do Tạo hoá an bài"; những người "tốt"
từng đau khổ lao đao v́ chồng con lầm lạc, nhờ cố gắng mà lấy
lại hạnh phúc, như Xuân Nương, Thục Khanh,... cũng thở dài đổ
cho "con Tạo trêu ngươi"... C̣n những nhân vật nam giới, cả "quân
tử" lẫn "tiểu nhân", hễ gặp gái trẻ là cặp mắt sáng lên, lắm
kẻ "máu dê" nổi dậy đến trơ trẽn dầy dạn...
Ông c̣n sai lầm khi "bắt trước"
kịch bên Pháp , đưa chèo vào "tả chân", loại bỏ múa du nhập
sống sít dân ca và bài hát bên ngoài, vô t́nh đẩy chèo sáp gần
sân khấu Cải lương đang lấn lướt. Ông muốn đưa phần hài hước
vào "chính bản" và chỉ quan tâm thoả măn thị hiếu nhất thời
của khán giả, nên nhiều trận cười vốn đă mang tích truyện lủng
củng, bố cục lỏng lẻo, lại bị ch́m ngập vào cái biến cười bông
phèng, thô thiển, như Một Trận cười, Tam đại dở hơi, Cái nhầm
to,... kể cả với số tích khai thác loại đề tài "đứng đắn", như
mấy vở viết về Hồ Xuân Hương, Nguyễn Quỳnh...
Thế nên, cho dẫu khá nhiều soạn
phẩm của Nguyễn Đ́nh Nghị đ̣i bảo vệ duy tŕ đạo lư ngày xưa ,
có lúc tưởng ông rơi vào bảo thủ nhưng xét từ thực tiễn các
trận cười, lại thấy ông có những nhận thức và quan điểm thuộc
phạm trù hệ tư tưởng tư sản ngày càng rơ rệt. Ông đă từ chèo
văn minh, cố gắng tạo dựng một thứ kịch (hài) sử dụng hát chèo
và nhiều loại hát khác khá phóng túng, và vẫn đang trên đường
lầm ṃ thử thách.
3. Mấy nhận xét
về nghệ thuật chèo thời thuộc Pháp..
Một, nh́n tổng quát các hoạt động
chèo của các phường, gánh, ban hát thời Pháp thuộc, thấy hầu
như khắp vùng trung châu và đồng bằng miền Bắc, mỗi tỉnh ít
cũng có vài ba có tỉnh dăm bẩy phường chèo (có nơi gọi là
phường tṛ), hoạt động theo mùa vụ cấy cầy với cung cách làm
ăn và tŕnh diễn chẳng mấy khác cung cách tổ chưc và làm ăn
của các phường từ thế kỷ XIX trở về trước.
Hai, chèo văn minh là bước chuyển
hoá quá độ từ phương thức làm ăn phường hội (diễn theo mùa vụ
hội hè, vừa cầy cấy vừa hành nghề, diễn vừa thuộc vừa cương,
sân khấu ngoài trờ 3 mặt, ăn chia theo mức độ nghề chênh lệch
thấp...) sang cung cách làm ăn bước đầu kinh tế thương mại (nghệ
sỹ làm cho chủ, ăn lương, diễn quanh năm, vừa thuộc vừa cương
tuy đă có ư tiến lên diễn thuộc, trên sân khấu hộp h́nh thành
dần "bức tường thứ tư",...).
Ba, chèo cải lương bộ lộc quá tŕnh
canh cải nhiều mặt nghệ thuật của sân khấu Sán Nhiên khi ban
hát chuyển sang tay "bác Thơ" Nguyễn Đ́nh Nghị, thử nghiệm rồi
thực hiện loại "tả chân hư kịch".
Bốn, so sánh nghệ thuật chèo cổ (tức
chèo sân đ́nh) với chèo văn minh, Nguyễn Đ́nh Nghị một lần trả
lời phỏng vấn đăng báo cho rằng: "chúng giống nhau ở chỗ các
vai tṛ không cần thuộc vở, nhiều khi tuỳ trường hợp mà ứng
khẩu, nhưng khác nhau ở chỗ chèo văn minh đă bắt đầu đề cập
đến sinh hoạt ngày nay".
Năm, quá tŕnh chuyển hoá thích
nghi của chèo khi vào diễn ở thành phố thời thuộc Pháp, xảy ra
tiếp nối từng chu kỳ, lên xuống trong khoảng từ 5, 6 đến 8, 9
năm.
Không là chuyện lạ, khi sau năm
1945, con cháu, bạn bè của mấy vị hoạt động chủ chốt trong
phong trào chèo cải lương, cả số gánh từng tin phục cách làm
ăn của chèo cải lương ở Hải Pḥng, Nam Định, đều chuyển thành
hoặc tham gia làm ṇng cốt cho các đoàn chuyên diễn Cải lương,
như Đoàn Cải lương Hoa Mai (Hà Tây), Đoàn Cải lương Phương
Đông (Hải P̣ng), Đoàn cải lương B́nh Minh (Nam Hà); Chưa kể
hàng mấy chục anh chị hoạt động trong Nhà hát Cải lương Trung
ương và các đoàn Cải lương Thanh Hoá, Thái B́nh,...
Đàm Ngọc Huy
Nguồn: www.viendu.com |