|
Học Phật - Tu Nhân
Vương Kim Phan Bá Cầm
Từ ngày 18 tháng 5 năm Kỷ Măo (1939) ngày
Đức Huỳnh Giáo Chủ ra mở đạo cứu đời, cho đến ngày 25 tháng 2
nhuần năm Đinh Hợi (1947) ngày Ngài vắng mặt, tính ra trên 7
năm, trùng hợp với thời gian Đức Phật Thầy Tân An ra hoằng hóa.
Đức Phật Thầy ra đời vào mùa thu năm Kỷ Dậu (1849) và tịch
nhằm ngày 12 tháng 8 năm Bính Th́n (1856) tính ra cũng 7 năm.
Một sự trùng hợp nữa là Đức Phật Trùm, một
chuyển kiếp của Đức Phật Thầy ra đời cũng trong thời gian 7
năm. Ngài ra mở đạo cứu đời năm Mậu Th́n (1860) và tịch năm Ất
Hợi (1875) tính ra cũng đúng 7 năm.
Trong thời gian 7 năm, một thời gian quá
ngắn ngủi, Đức Phật Thầy Tây An đă khai sáng giáo hệ Bửu Sơn
Kỳ Hương, một tông phái Phật đạo dân tộc, với pháp môn Học
Phật Tu Nhân, một pháp môn khế hợp với căn cơ chúng sanh của
thời Hạ nguơn mạt pháp.
Đến như Đức Huỳnh Giáo Chủ, trong ṿng hơn
7 năm, ngoài việc khai sáng mối đạo Phật Giáo Ḥa Hảo, cũng
một tông phái Phật đạo dân tộc thuộc giáo hệ Bửu Sơn Kỳ Hương,
Ngài c̣n thực thi pháp môn Tu Nhân Học Phật.
Cho nên có thể nói, khai thị pháp môn Học
Phật Tu Nhân là Đức Phật Thầy Tây An, c̣n thực hiện hay áp
dụng pháp môn đó vào đời là Đức Huỳnh Giáo Chủ.
Đức Phật Thầy chỉ khai thị chớ chưa áp dụng
thiết thực được pháp môn Học Phật Tu Nhân vào đời sống là v́
hoàn cảnh lúc bấy giờ chưa thuận tiện hay thiếu cơ duyên, bởi
lúc Đức Phật Thầy ra đời, nước Việt Nam chưa mất vào tay Pháp.
Đến giai đoạn của Đức Huỳnh Giáo Chủ, nước
Việt Nam đă hoàn toàn bị Pháp đô hộ, phong trào Cần Vương
kháng Pháp nổi lên khắp nơi, cho nên ngoài công việc xướng
minh Phật đạo (Học Phật) đă lu mờ v́ thất chơn truyền, pha màu
phương thuật và sắc tướng âm thinh, Đức Huỳnh Giáo Chủ c̣n tự
thân đứng ra xướng xuất công việc văn hồi đạo Nhân (Tu Nhân)
để làm tṛn bổn phận của một công dân đối với đất nước bị
ngoại bang xâm chiếm, làm gương mẫu cho muôn nhơn noi theo,
tạo lập công đức hầu trở nên người hiền, hội đủ điều kiện dự
Hội Long Hoa, vượt qua cơn Hạ nguơn hoại diệt mà sống c̣n
trong đời Thượng nguơn an lạc.
Đối với pháp môn Học Phật Tu Nhân, Đức
Huỳnh Giáo Chủ, vừa làm công việc thừa kế, vừa làm công việc
thực thi và phát triển. Cho nên mặc dầu thời gian ra mở đạo
rất ngắn ngủi (hơn 7 năm) Ngài đă cống hiến cho thế nhân đến
ba sự nghiệp vĩ đại về đời và về đạo.
Về đạo, Ngài đă xây dựng nên một sự nghiệp
tôn giáo. Đó là tông phái Phật Giáo Ḥa Hảo, một sự truyền
thừa của giáo hệ Bửu Sơn Kỳ Hương với pháp môn Học Phật Tu
Nhân, một giáo pháp đối cơ, cứu độ chúng sanh trong thời Hạ
nguơn hoại diệt.
Về đời, Ngài đă tạo lập hai sự nghiệp:
chánh trị và quân sự, rồi tự thân đứng ra d́u dắt môn nhơn
cùng tham gia tranh đấu hầu gây tạo công đức trong công cuộc
cứu dân giúp nước. đây là sự nghiệp cách mạng mà Ngài đă dày
công tạo lập để làm phương tiện thực thi sự nghiệp đạo đức,
một sự nghiệp cứu thế.
Mục Đích của Phật Giáo Ḥa Hảo.
Sứ mạng của Đức
Huỳnh Giáo Chủ hay mục đích của Phật Giáo Ḥa Hảo là hoàn
thành sự nghiệp: cứu độ chúng sanh cho được sống c̣n trong đời
Thượng nguơn an lạc.
Đức Huỳnh Giáo Chủ lâm phàm là v́ sứ mạng
cứu thế, như Ngài đă viết:
"Thiên Tào đă xét định, khắp chúng sanh
trong thế giới trong cái buổi Hạ nguơn nầy, say mê vật dục,
ch́m đắm trong biển lợi danh gây nên nghiệp quả, luật Trời đà
trị tội, xét kẻ thiện căn th́ ít, người tội ác quá nhiều, chư
Phật mới nhủ ḷng từ bi, cùng chư vị chơn Tiên lâm phàm độ thế,
trước ra công cứu khổ, sau chỉ rơ cơ huyền, khuyên kẻ thế
hướng thiện quày đầu, cải tà qui chánh th́ mới mong Thiên đ́nh
ân xá bớt tội căn để kịp đến Long Hoa chầu Phật, trước biết rơ
luật Trời thưởng phạt, cùng hữu duyên nghe Phật pháp nhiệm mầu,
kiến diện bậc Chơn Sư, tu hành mau đắc quả, sau làm dân Phật
quốc hưởng sự thái b́nh…".
Nhưng muốn được sống c̣n trong đời Thượng
nguơn an lạc, “làm dân Phật quốc, hưởng sự thái b́nh" th́
trước hết phải đi qua ngưỡng cửa Hội Long Hoa để được chọn lựa.
Điều kiện được dự Hội Long Hoa và được chọn
lựa đưa qua đời Thượng nguơn phải là người Hiền, như Đức Huỳnh
Giáo Chủ đă cho biết:
Lập rồi cái Hội
Long Hoa,
Đặng coi hiền Đức
được là bao nhiêu.
Hay là:
Trở chơn cho kịp
Long Hoa,
Long Hoa có mặt
ấy là Hiền Nhơn.
Như thế, sứ mạng của Đức Huỳnh Giáo Chủ hay
mục đích của Phật Giáo Ḥa Hảo chung kết cũng chỉ qui vào công
việc chọn người Hiền hay đào tạo người Hiền, như Ngài đă cho
biết trong Sấm Giảng:
Khai ngọn đuốc từ
bi chí thiện,
T́m con lành dắt
lại Phật đường.
Hay là:
Kiếm con hiền đức
dắt về,
Về nơi cơi Phật
Tây phương an nhàn.
Hoặc giả:
Chờ con đầy đủ
nghĩa nhân,
Ra tay tế độ dắt
lần về ngôi.
Để đạt mục đích chọ người Hiền, hay đào
luyện người Hiền, giáp pháp của Phật Giáo Ḥa Hảo đặt nặng vào
chương tŕnh đào tạo nên người hiền đức, cũng như Nho Giáo có
mục đích đào luyện nên hạng người quân tử.
Vậy giáo pháp ấy thế nào? Chương tŕnh đào
luyện nên người hiền đức ra sao?
Đức Huỳnh Giáo Chủ không ngại mà chỉ rơ
trong quyển "Những điều sơ lược cần biết của kẻ tu hiền”
tức quyển Qui tắc hành đạo:
"Bàn xét như trên, thấy rằng toàn thể
trong đạo chúng ta thuộc hạng tại gia cư sĩ, Học Phật Tu Nhân
vậy"
Trong lời tuyên bố nầy có hai điểm nên để
ư:
1/ Tại gia cư sĩ.
2/ Học Phật Tu Nhân.
Xem đó đủ thấy, hạng người mà Đức Huỳnh
Giáo Chủ nhắm hay t́m kiếm để đào luyện là hạng cư sĩ tại gia,
nghĩa là Ngài nhắm vào đám quần chúng đông đảo trong xă hội,
đúng với thệ nguyện của Ngài là độ tận chúng sanh, đương nhiên
là hạng thiểu căn thiểu phước, hạng “chưa đủ những điều kiện
xuất gia, v́ cảm thấy ḿnh c̣n nặng nợ với non sông tổ quốc,
với gia đ́nh, với đồng bào xă hội, nên chưa thể làm như các
nhà sư hay Ni cô đặng”, khác hơn các tông phái khác nhắm vào
hạng xuất gia "hoàn toàn ly khai với gia đ́nh, quê hương, bè
bạn, dựa thân vào cửa Thiền hoặc núi non am cốc... không c̣n
thiết đến việc đời.
Và phương pháp để cứu độ hạng thiểu căn
thiểu phước, hạng chiếm đa số trong thời kỳ Hạ nguơn nầy là
pháp môn Học Phật Tu Nhân, một pháp môn có 3 đặc tánh ưu thắng:
Đối cơ nghĩa là phù hạp với căn cơ
thiểu bạc của chúng sanh trong thời mạt kiếp.
Đối cảnh nghĩa là thích ứng với hoàn
cảnh ác liệt của buổi Hạ nguơn.
Phải pháp nghĩa là giản lược và cấp
thời mới kịp cơ biến chuyển của Thiên định, chấm dứt cơi Hạ
nguơn ô trược để lập đời Thượng nguơn khinh thanh an lạc.
V́ theo Đức Huỳnh Giáo Chủ thời cơ đă cấp
bách căn khí chúng sanh lại bạc nhược, nếu đem giáo pháp có
tánh cách lâu dài hay cao viễn ra giáo hóa th́ không thể nào
kịp, không sao tránh khỏi nạn hoại diệt của cơi đời Hạ nguơn.
Chi bằng đào tạo nên hạng người hiền Đức đủ
điều kiện dự Hội Long Hoa, khi được làm dân Phật quốc, hưởng
cảnh lạc nhàn của cơi Thượng nguơn, sẽ tiếp tục tu hành để đạt
quả vị giải thoát, thành Tiên thành Phật.
V́ cũng như có người toan đóng một chiếc
thuyền to để vưọt qua bể cả, nhưng phải mất ít nhứt 2 tháng
mới xong, trong lúc chỉ c̣n 15 hôm nữa th́ được biết có trận
băo lụt sắp xảy ra. Nếu tiếp tục đóng chiếc thuyền đó th́
không khỏi bị trận băo lụt ấy cuốn mất cả thuyền lẫn mạng sống.
Chi bằng theo lời dạy của vị tiên giác, nên gấp đóng một chiếc
xuồng nhỏ chỉ trong 5 hôm là xong, rồi cấp tốc dùng xuồng ấy (Học
Phật Tu Nhân) ra một cái đảo yên tịnh kia (cơi Thượng nguơn)
chắc chắn sẽ thoát khỏi trận băo lụt (cơ hoại diệt của Hạ
nguơn). Sau đó sẽ đóng chiếc thuyền lớn mà sang biển cả (biển
sanh tử luân hồi) chẳng là được an toàn tánh mạng và đi đến
mục đích (đáo bỉ ngạn) hay sao?
Giáo pháp của Phật Giáo Ḥa Hảo cũng như
thế. Cho nên, để độ tận chúng sanh khỏi cơn hoại diệt Đức
Huỳnh Giáo Chủ đưa ra pháp môn Học Phật Tu Nhân để đào luyện
nên hạng người Hiền Đức mà thôi.
Ngay trong bài nguyện qui y Tam bảo hay
nguyện trước bàn Cửu Huyền Thất Tổ, chúng ta cũng thấy Đức
Thầy dạy tín đồ của Ngài, nguyện "tu hiền" để trở nên người
hiền Đức.
Đây là bài nguyện trước bàn thờ Cửu Huyền
Thất Tổ:
Cúi kính dưng
hương trước Cửu Huyền,
Cầu trên Thất Tổ
chứng ḷng thiềng.
Nay con tỉnh ngộ
qui y Phật,
Chí dốc Tu
Hiền tạo phước duyên.
Và đây bài nguyên qui y trước ngôi Tam Bảo.
"... nay con
nguyện cải hối ăn năn, làm lành lánh dữ, qui y theo mấy Ngài
Tu Hiền theo phật đạo".
Cả hai bài nguyện đều nói rơ cứu cánh của
hành đạo là Tu Hiền, tu để trở thành người Hiền.
Nguyện là lời hẹn ước quyết thực hành để
đạt đến cứu cánh. Nếu kiếp nầy chưa hoàn thành lời nguyện th́
trong các kiếp tới vẫn tiếp tục cho đến ngày thực hiện. Nguyện
ví không khác lời thề. Khi lập thệ th́ suốt đời phải giữ cho
đến khi thực hiện mới giải thệ.
Như Đức Phật A Di đà khi c̣n là Pháp Tạng
Tỳ Kheo đă lập 48 lời nguyện, trải qua vô lượng kiếp tu hành
cho đến ngày thực hiện cơi Cực Lạc đúng theo 48 lời nguyện mới
chịu an trụ nơi cơi Tịnh độ.
Phàm đă lập nguyện, tức là ḿnh thề quyết
tâm tu hành để thực hiện những lời thệ nguyện ấy. Người tín đồ
Phật Giáo Ḥa Hảo mỗi đêm lễ bái đều lập lại lời nguyện Tu
Hiền, tu cho được trở thành người hiền, chớ không thể làm trái
với lời nguyện. Làm trái tức là phản bội lời đă lập thệ.
Đức Huỳnh Giáo Chủ đă khuyên và cảnh giác:
Khi cầu nguyện
đừng cho phạm lỗi,
Phải làm tṛn các
việc vẹn toàn.
Dân chớ nên làm
bướng làm càn,
Trong lúc ấy
nguyện cho lấy có.
Nguyện mà không hành y theo lời nguyện tức
là bội ước đối với Thầy Tổ, với Cửu Huyền th́ mong ǵ tu hành
cho đắc đao. Đă biết mục đích của Phật Giáo Ḥa Hảo là Tu Hiền;
vậy Đức Huỳnh Giáo Chủ thi thiết pháp môn nào để đào tạo nên
người Hiền?
Như chúng ta đă thấy, phương pháp mà Ngài
đem ra giáo hóa là pháp môn Học Phật Tu Nhân.
Học Phật Tu Nhân.
Nhưng thế nào là
Học Phật Tu Nhân?
Đức Huỳnh Giáo Chủ đă tóm lược giáo pháp ấy
trong hai câu thơ sau đây:
Tu thân thiện
tính phải chuyên cần,
Lục Tự Di đà,
giữ Tứ Ấn.
Hay là:
Đặng khuyên những
kẻ ngỗ ngang,
Biết câu Lục
Tự, ǵn đàng Tứ Ấn.
Như thế pháp môn Học Phật Tu Nhân, gồm có
hai môn Lục Tự và
Tứ Ân.
Học Phật
L ục Tự là niệm sáu chữ: Nam Mô A Di
đà Phật. Lục Tự biểu thị cho pháp môn Tịnh độ là pháp môn
chuyên niệm danh hiệu Phật A Di đà để cầu được văng sanh về
cơi Tây phương Cực Lạc, đúng với 48 lời nguyện của Phật A Di
đà, v́ Ngài đă thệ nguyện: nếu ai niệm đến danh hiệu của Ngài
là được Ngài dùng thần lực tiếp độ kẻ ấy văng sanh về cơi Cực
Lạc, hưởng sự nhàn an, chứng quả vô sanh, bất thối.
Đây là một pháp môn phù hạp với căn cơ
thiển bạc của chúng sanh thời mạt pháp v́ không thể tự lực
hành tŕ các pháp mtu tối thắng tối cao để vượt ra khỏi Tam
giới, thoát nạn luân trầm trong tam đồ lục đạo.
V́ không thể tự ḿnh tu hành để tự ḿnh cứu
độ nên chi Đức Phật Thích Ca khai thị pháp môn Tịnh độ tu cầu
tha lực cứu độ chúng sanh văng sanh về cơi Cực Lạc, được tịnh
hóa về cả hai phương diện chánh báo (chúng sanh) và y báo (cảnh
giới). Nhờ ở hoàn cảnh thanh tân tinh khiết, lại làm bạn với
các bậc thượng thiện nên sự học mau đạt thành quả vị không như
ở cơi Ta bà, bao quanh toàn những ác duyên chướng ngại, dầu
muốn ngồi yên mà tu cũng khó mà tu cho được.
Pháp môn Tịnh độ chẳng những dễ tu dễ đắc
mà lại phù hạp với mọi căn cơ; mọi tŕnh độ cơ cảm nào cũng
đều tu được cả, như Đức Huỳnh Giáo Chủ đă viết:
Cả vũ trụ khắp
cùng vạn vật,
Dầu Tiên, phàm,
ma quỉ, súc sanh;
Cứ nhứt tâm tín,
nguyện, phụng hành,
được cứu cánh về
nơi an dưỡng.
Chỉ một kiếp Tây
phương hồi hướng,
Thoát mê đồ dứt
cuộc luân hồi.
V́ là pháp môn dễ tu, cơi Tịnh độ lại giải
thoát con người mọi sự buồn rầu lo sợ, không c̣n phải bận tâm
lo ăn lo mặc, được rảnh rang tu học mau đắc quả, nên chi Đức
Huỳnh Giáo Chủ không dứt khuyến tấn người đời tu theo pháp môn
Tịnh độ:
Cơi Tịnh độ lắm
điều thanh nhă,
Khổ buồn rầu lo
sợ chẳng c̣n.
Chốn Ta bà tim
lụn dầu ṃn,
Thân tứ đại của
người cũng thế.
Mau thức tỉnh tu
thân kẻo trễ,
Đến tội rồi mới
hối muộn màng.
Chi cho bằng ta
sớm lo toan,
Ǵn giới luật
nghe kinh trọng Phật.
Đến lâm chung quả
lành đâu mất,
Cơi Tây phương
chư Phật đợi chờ.
Ngài c̣n quả quyết rằng Ngài đă rành đường
ngơ, chứng tỏ Ngài đă sống qua cảnh giới ấy:
T́m Cực Lạc, đây
rành đường ngơ,
Hăy mau mau tu
tỉnh mới mầu.
Nếu Ngài không từ cơi ấy giáng sanh th́
Ngài đă không thổ lộ:
Tây phương Cực
Lạc, Khùng ngồi ṭa sen.
Hay là
Tây phương yêu
chúng chẳng ngồi lâu,
Sắc của A Di đà
Phật Tổ.
Ngày đă thọ sắc lịnh của Đức A Di đà xuống
trần, thế nên pháp môn Tịnh độ là pháp môn mà Ngài lănh sứ
mạng phổ truyền để cứu độ chúng sanh trong thời hoại diệt:
Muốn tu tỉnh nay
đà gặp cuộc,
Đức Di đà truyền
mở đạo lành.
Bởi v́ Ngài
thương xót chúng sanh,
Ra sắc lịnh bảo
Ta truyền dạy.
Pháp môn Tịnh độ mặc dầu dễ tu dễ hành
nhưng cho được văng sanh về cơi Cực Lạc, chẳng phải ai ai cũng
có thể làm được.
Sở dĩ ít người làm được là v́ ít có người
thành tựu niệm Phật nhứt tâm tức niệm Phật tam muội mà Đức
Huỳnh Giáo Chủ gọi nôm là niệm rành như Ngài đă viết:
Xưa nay sáu chữ
lạnh tanh,
Chẳng ai chịu khó
niệm sành thử coi.
Nhưng cho được văng sanh, người niệm Phật
phải hoàn măn về hai phương diện: nội nhân và ngoại duyên.
Về nội nhân là phải thành tựu niệm Phật
nhứt tâm hay tam muội (chánh định) hay nói theo thuật ngữ của
Đức Huỳnh Giáo Chủ là niệm Phật cho sành.
Nhưng ngoài nội nhân, c̣n phải được ngoại
duyên trợ tưởng th́ hột giống (nội nhân) vănh sanh mới phát
triển. Về ngoại duyên, theo Đức Huỳnh Giáo Chủ, phải có 2 yếu
tố khá quan trọng, rất khó thành đạt. Đó là 2 điều kiện mà
người niệm Phật phải có là: được “trọn lành" và "trọn sáng"
như Đức Huỳnh Giáo Chủ đă nêu ra trong điều thứ tám trong Tám
điều Răn Cấm:
"Nếu ai giữ
đặng trọn lành trọn sáng về nơi cơi Tây phương an dưỡng mà học
đạo cho hoàn toàn đặng trở lại cứu vớt chúng sanh".
Cho được trọn lành, hành giả phải hoàn tất
giai đoạn “chư ác mạc tác” và "chúng thiện phụng hành" (điều
ác đừng làm; điều lành gồm làm) của Đức Phật đă dạy, tức là
hoàn thành đạo làm người, như Đức Huỳnh Giáo Chủ đă nói:
Tu đền nợ thế cho
rồi,
Th́ sau mới được
đứng ngồi ṭa sen.
Và cho được trọng sáng, hành giả phải hoàn
tất giai đoạn “tự tịnh kỳ ư” trong bài Tứ cú kệ "chư ác mạc
tác" của Đức Phật, nghĩa là đă đạt được sự tỏ ngộ tự tâm, tức
là huệ tâm khai phát, như Đức Huỳnh Giáo Chủ đă nhận:
Nếu ai mà biết
chữ tu tŕ,
Tâm b́nh tịnh
được th́ phát huệ.
Nhưng làm thế nào cho tâm được b́nh tịnh?
Thành thử điều kiện để được văng sanh về
cơi Cực Lạc, ngồi trên ṭa sen tuy nói th́ dễ mà thực hành
thật là khó. Thử hỏi mấy ai dám nhận ḿnh đă trọn lành (toàn
thiện) và trọn sáng (toàn minh)?
V́ vậy mà trong giai đoạn hiện nay, giai
đoạn gấp rút của buổi Hạ nguơn sắp đến ngày chấm dứt, Đức
Huỳnh Giáo Chủ, chủ trương niệm Phật chẳng qua là để dự Hội
Long Hoa, như Ngài đă nói rơ trong bài thơ đọc khi ngồi niệm
Phật, như sau:
Mắt nh́n trần đỏ
niệm Di đà,
Nguyện vái thân
này khỏi đọa sa.
Muôn đạo hồng
quang oai Đức Phật,
Soi đường minh
thiện đến Long Hoa.
Khi đă dự Hội Long Hoa là được sống c̣n
trong đời Thượng nguơn. Và theo Đức Huỳnh Giáo Chủ, mà được
sống c̣n là nhờ tu pháp môn Tịnh độ hay niệm Phật rành như
Ngài đă khuyên nhủ:
Niệm Di đà rán
niệm cho rành,
Th́ mới được sống
coi Tiên Thánh.
Được coi Tiên Thánh tức là được sống đời
Thượng nguơn là cuộc đời phàm Thánh đồng cư, nghĩa là người
phàm sẽ sống lẫn lộn với Tiên Thánh trong cơi Thượng nguơn an
lạc.
Pháp môn Tịnh độ là pháp môn tu cầu tha lực,
nghĩa là nhờ vào nguyện lực của Phật A Di đà tiếp dẫn về nơi
Tây phương Cực Lạc.
Nhưng ngoài môn tu cầu tha lực, Đức Huỳnh
Giáo Chủ c̣n chỉ phép tu Tự lực để trợ trưỏong và bồi đắp cho
phép tu Tha lực thêm sâu dày vững chắc.
Căn cứ theo những điều chỉ dạy của Đức
Huỳnh Giáo Chủ trong Sấm Giảng th́ các pháp tu Tự lực có thể
phân ra là ba loại môn:
I. Loại môn thứ nhứt:
Ác Pháp
là các pháp làm trở ngại sự phát triển các thiện pháp, thường
làm ô nhiễm thân tâm, gây nên lắm điều tội lỗi khiến con người
măi vướng mắc trong ṿng luân hồi đau khổ.
Thuộc về các ác pháp có thể kể:
Tam nghiệp
hay Thập ác là những nghiệp do Thân Khẩu ư tạo nên, như: Sát
sanh, đạo tặc, Tà dâm thuộc về Thân; Lưỡng thiệt, ỷ ngôn, ác
khẩu, Vọng ngữ thuộc về ác của Khẩu; Tham lam, Sân nộ, Mê si
thuộc về ác của ư.
Thất t́nh
là bảy thứ t́nh cảm như: Mừng, giận, buồn, yêu, ghét, muốn, sợ.
Lục dục
là Danh vị, Tài lợi, Sắc đẹp, Tư vị, Hư vọng, Tật đố.
Cộng lại là 13 con ma thường làm năo loạn
thân tâm con người, khiến cho thân loạn động, tâm nhiễm ố.
Lục căn, Lục trần là sáu cội rễ (căn) trong
thân người như: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư, làm chỗ cho sáu
cảnh (trần) như: Sắc (màu sắc), Thinh (tiếng nói), Hương (mùi),
Vị (vị), Xúc (chạm), Pháp (vạn vật) xâm nhập vào nội tâm gây
thành Lục thức (sáu cái biết) làm cho điên đảo thân tâm. Do
sáu căn mà sáu trần (bụi nhơ) bên ngoài thâm nhập (nhiễm) vào
tâm thức làm cho ô nhiễm, đảo điên, ngày đêm tiết rỉ ra ngoài
(lậu) các thứ phiền năo bất tịnh, phá hoại công đức của con
người cứ măi lăn lộn trong tam đồ lục đạo.
Ngũ uẩn.
Theo Đức Huỳnh Giáo Chủ là 5 thứ hoặc làm cho con người trở
nên đần độn, trụ măi chỗ tối tăm, không tiến đến chỗ siêu
thoát. Năm thứ hoặc ấy là: Tham, Sân, Si, Nhân, Ngă.
Về Ngũ uẩn, Đức Thầy có giải:
Lời Ta dạy hăy
nên suy nghiệm,
Phải phá tan Ngũ
uẩn trong ḿnh.
Chữ Tham
trong ư muốn mặc t́nh,
Rán định tánh trừ
cho nó tuyệt.
Chữ gây gỗ là
Sân hăy diệt,
Cho nó đừng thấp
thoáng trong ḷng.
Thêm chữ Si
thiệt quá ḷng ḍng,
Nên tỉnh trí t́m
nơi dụt tắt.
Chững Nhân Ngă
cũng là quá gắt,
Dẹp năm tên được
mới mừng cười.
Vô pháp tướng mới
là thiệt tướng,
Tứ đổ tường
là bốn bức
tường làm cho con người sa ngă, bị nhốt chặt vào chỗ mê lầm
tăm tối, không cho vượt ra ngoài ánh sáng của đạo mầu để tiến
lên con đường siêu thoát, khỏi chốn luân hồi sanh tử.
Về tứ đổ tường, Đức Huỳnh Giáo Chủ có giải:
Người tu hành
phải trừ nghiệp chướng,
Với bốn ma mới
đặng an nhàn.
Tửu nhiễm vào
thân thể bất an,
Sắc mến nó
ngày kia lao khổ.
Ta nghiệm xét từ
đời Bàn Cổ,
Có ai dùng mà
đặng thành Tiên.
Mà đời nay theo
nó liên miên,
Chữ Tài
của khổ riêng một kiếp.
Bị tội cướp nào
ai có tiếp,
Mà đời nay nó cứ
măi làm.
Chữ Khí
hùng khuyên chớ có ham,
Mà lao lư tấm
thân trần thế.
Trên đây là những ác pháp cần phải trừ diệt,
nều ta muốn tu chỉnh thân tâm cho được chánh chơn thuần mỹ hầu
có trang nghiêm các hạnh lành cho con đường tiến tu giải thoát.
II) Loại môn thứ hai.
Chơn pháp
là các pháp làm hiển lư chân thật, phá tan mọi vọng kiến, soi
đường cho chân lư hiển thị, giúp người nhận rơ nguyên lư của
sự vật.
Thuộc về Chơn pháp hay Hiển pháp, Đức Huỳnh
Giáo Chủ đă luận giải:
Tứ diệu đề
là
bốn chân lư biện giải về sự khổ (Khổ đề), nguồn gốc của sự khổ
(Tập đề), phương pháp diệt trừ sự khổ (Diệt đề) để đi đến con
đường giải thoát (đạo đề).
Đó là diễn tŕnh Tứ diệu đề theo Đức Phật.
đến Đức Huỳnh Giáo Chủ để cho phù hợp với căn cơ chúng sanh
thời mạt pháp, Ngài đă sắp xếp cái diễn tŕnh Tứ diệu đề lại
như sau:
Tập đề là khi mới bước vào tu tập,
Diệt đề là phải diệt trừ các ác pháp.
Khổ đề là nhẫn chịu khổ trong lúc tu học,
Đạo đề là đạt đến chỗ thành đạo.
Thập nhị
nhân duyên
là 12 nhân duyên chằng chịt nhau tạo ra những chuỗi dây chuyền
nhân quả của con đường luân hồi mà con người phải vướng mắc
không thoát ra được.
Về Thập nhị nhân duyên, Đức Huỳnh Giáo Chủ
có giải như vầy:
"Đó là 12 duyên sanh, nó dắt đi từ kiếp
nầy đến kiếp kia không có dứt; cái vô minh nghĩa là tối tăm mê
dốt, từ hồi vô thỉ. Có mê dốt ta mới hành động, rồi hành động
ấy sanh ra muôn pháp, nên mới có cái thức (biết), ví như loài
cây cỏ, sắt đá (vô t́nh) không biết chi cả, đâu có danh sắc,
c̣n ta là loài hữu t́nh có cái biết ấy nên có xác thịt và linh
hồn, danh sắc. Xác thịt và linh hồn có th́ phải có 6 căn: nhăn,
nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ư, nhiễm với 6 trần là: sắc, thinh,
hương, vị, xúc, pháp nên gọi là lục nhập. Có lục nhập mới có
tiếp xúc với mọi người và vạn vật, nên gọi là xúc động, rồi từ
chỗ tiếp xúc mới thọ hưởng của tiền trần nên gọi là thọ cảm.
Có thọ cảm, thọ hưởng của tiền trần rồi mới có cái ưa thích,
quyến luyến thâm t́nh nên gọi là ái,
"Muôn việc chi ở đời, nếu ta yêu thích cái
điều đó th́ ta phải gắng công ǵn giữ chặt chịa nên gọi là bảo
thủ; mà ǵn giữ chặt chịa th́ mới có sống, nếu không, làm sao
mà ta sống, nên gọi là hữu. Rồi cái sống ấy, mến tiếc ấy mới
đầu thai trở lại cơi trần đặng hưởng dụng nên gọi là sanh.
Muôn loài vạn vật hễ sinh ra th́ lớn, hễ lớn th́ sẽ già bị
trong tứ đại (đất, nước, gió, lửa) làm nên nào tứ thờ, cảm mạo
bất ḥa, hễ già th́ yếu đau, nếu đau tất phải chết nên gọi là
lăo, tử. ấy vậy cái nhiệp nhơn của già chết ấy là tại cái vô
minh mà ra tất cả".
Ngũ trược
là
5 thứ nhơ bẩn của cơi Ta bà làm ô nhiễm thân tâm con người măi
đắm say trong cơi trần ai tục lụy. Năm sự dơ bẩn ấy là:
-
Kiếp trược
là kiếp sống con người v́ đắm say ô nhiễm mà lần lần giảm thọ.
Do kiếp trược mà con người sanh ra 4 thứ trược tiếp theo sau:
-
Phiền năo trược
là mối
mê lầm nhơ bẩn.
-
Chúng sanh trược
là các loại
hữu t́nh đều ô trược.
-
Mạng trược
là mạng sống ô trược.
Nếu con người hiểu được nguồn gốc của sự
khổ, nguyên nhân của luân hồi và nhận thấy cơi trần cũng như
đời sống con người ô trược th́ hết say đắm mà t́m phương tư
hành để giải khổ, thoát kiếp luân hồi, siêu xuất cơi đời ô
trược.
Muốn được như thế, thay v́ hành ác pháp,
nên nhận rơ nguyên lư chơn thật của sự vật rồi hành các thiện
pháp để trang nghiêm đời sống cho được thanh tịnh mà siêu xuất
khỏi bể hồng trần đầy đau khổ.
III. Loại môn thứ ba.
Thiện
pháp
là các pháp lành mà con người cần tu tập để gây lấy thiện
duyên, sửa trị thân tâm cho được thanh cao tốt đẹp hầu đắc quả
Thánh Phật, dứt cuộc luân trầm, hoàn toàn giải thoát.
Thuộc về thiện pháp, trong Sấm Giảng của
Đức Huỳnh Giáo Chủ có chỉ dạy mấy pháp sau đây:
Bát Chánh
là tám con đường chánh, nếu con người hành theo sẽ tu chỉnh
được thân, khẩu, ư được chánh chơn thiện mỹ.
Để tu chỉnh bản thân th́ hành môn:
-
Chánh kiến
là thấy đúng theo sự thật.
-
Chánh nghiệp
là làm nghề nghiệp chơn chánh.
-
Chánh mạng
là giữ thân mạng chơn chánh trong sạch.
để
tu chỉnh miệng lưỡi th́ hành môn:
-
Chánh ngữ
là giữ ǵn lời nói chơn chánh.
để
tu chỉnh bản tâm th́ hành môn:
-
Chánh tư duy
là giữ tư tưởng luôn luôn nghĩa điều chơn chánh.
-
Chánh tinh tấn
là giữ Đức tin vững vàng và cương quyết tiến tới.
-
Chánh niệm
là giữ tâm không xen tạp những tà niệm.
-
Chánh định
là giữ ḷng vắng lặng.
Muốn cho sự tu hành được bền vững, không
chán nản v́ cảnh gian lao hay thử thách, Đức Huỳnh Giáo Chủ
c̣n chỉ dạy thêm mục Bát nhẫn.
Bát nhẫn
là 8 điều nhịn nhục mà người tu hành cần rèn luyện để xử thế
tiếp vật, điều phục thân tâm hầu có đủ sức chịu đựng; lướt qua
mọi gian nguy, đem lại ḥa ái trong gia đ́nh, trong xă hội
mong sớm đạt thành đạo quả.
Tám điều nhẫn ấy là:
-
Nhẫn năng xử thế
là đức nhẫn để đối xử với
đời và nhẫn đợi
thời cơ. Hành được sẽ trở thành người
hiền.
-
Nhẫn hương lân
là đức nhẫn giữ ḥa khí đối với
cḥm xóm.
-
Nhẫn phụ mẫu
là đức nhẫn hiếu kính đối với
cha mẹ.
-
Nhẫn tâm
là đức nhẫn giữ ḷng an định.
-
Nhẫn tánh
là đức nhẫn giữ tánh điềm đạm.
-
Nhẫn đức
là đức nhẫn giữ đức độ hiền ḥa.
-
Nhẫn thành
là đức nhẫn của thành tâm, tín tâm.
Trên đây là các pháp tu tự lực, sở dĩ Đức
Huỳnh Giáo Chủ chỉ dạy là để trợ trưởng cho pháp tu tha lực
của pháp môn Tịnh độ.
V́ như kẻ rớt xuống nước mong được người
trên thuyền cứu vớt, trong lúc người trên thuyền tḥng tay
xuống vớt (tha lực) mà người dưới nước không cố sức vọt lên (tự
lực) th́ người trên thuyền dầu muốn cứu cũng không làm sao
được.
V́ vậy mà đồng thời với phép tu cầu tha lực,
Đức Huỳnh Giáo Chủ c̣n chỉ dạy thêm pháp tu tự lực. Cũng như
chiếc thuyền vừa chèo (tự lực) lại c̣n được sức gió (tha lực)
đẩy thêm th́ thuyền sẽ mau tới bến.
Cứu cánh của pháp môn Tịnh độ là văng sanh
về cơi Cực Lạc, nhưng vào thời pháp nhược ma cường của buổi Hạ
nguơn mạt pháp nầy, gặp đầy ác duyên trở ngại th́ khó mà hành
cho được phép niệm Phật nhứt tâm hay tam muội. Niệm Phật mà
không nhứt tâm th́ khó mà được tha lực tiếp độ. Vả lại, theo
Đức Huỳnh Giáo Chủ, cho được văng sanh, người tu c̣n phải được
trọn lành trọn sáng.
Thảng như không được văng sanh th́ người tu
nhờ có niệm Phật và tâm lành lánh dữ cũng trở thành người hiền
có đủ điều kiện dự Hội Long Hoa và sống đời Thượng Đức.
Hiệu năng của Học Phật là tạo nên Đức, thế
nên c̣n cần phải Tu Nhân để tạo nên Công, hầu có đủ Công Đức
như cổ xe có 2 bánh, mới mong lần chạy nhanh được.
V́ vậy mà ngoài việc Học Phật, hành giả hay
tín đồ Phật Giáo Ḥa Hảo c̣n phải Tu Nhân mới trở nên người
Hiền đúng với pháp môn Học Phật Tu Nhân mà Đức Huỳnh Giáo Chủ
đă khai thị. |