|
“HUẾ” CÓ TỪ KHI
MÔ?
Vơ Hương An

Đôi khi cái vỗ vai bất
chợt cũng rất cần thiết, v́ nó giúp cho ta tỉnh giấc lơ mơ.
Mới đây, một anh bạn cũng đă vỗ vai tôi như thế, và hỏi: này,
cái tên Huế có từ khi mô? “Huế” do mô mà ra? Nghe hỏi, chợt
ngớ người ra. Ḿnh là Huế thổ sinh, cái tên “Huế” hiện hữu từ
thuở lọt ḷng, tự nhiên như thở khí trời, nên có bao giờ thắc
mắc làm chi, cho tới khi gặp cái vỗ vai. Muốn trả lời hai câu
hỏi này chắc phải đi t́m tới tổ sư Huế học là cụ Cad́ere
mà hỏi mới được.
Thực ra, đề tài chẳng
mới mẻ chi, v́ đă được nhiều người đề cập, tuy nhiên, câu trả
lời vẫn đang c̣n bỏ ngơ .
Sự h́nh thành
của Thuận Hóa, Phú Xuân
Không thể nói tới Huế
mà không nói tới Thuận Hóa hay Phú Xuân. Cả ba cái tên này
gắn bó với nhau như một thực thể bất phân ly, nên trước khi đi
vào phần thảo luận, thiết tưởng cũng cần có đôi ḍng về sự
thành h́nh của Thuận Hóa và Phú Xuân để nắm vững rằng ta đang
nói về cái ǵ và tại thời điểm nào.
Năm 1306, Công chúa Huyền Trân về
làm vợ vua Chiêm là Chế Mân, đổi lấy hai châu Ô và Rư làm sính
lễ.
Năm 1307, vua Trần Anh Tông sai
Đ̣an Nhữ Hài vào tiếp thu vùng đất mới,và đổi tên làm châu
Thuận và châu Hóa.
Việc gom hai châu này làm một,
dưới cái tên phủ Thuận Hóa, được thực hiện dưới thời
nội thuộc Nhà Minh. Đến đời Nhà Hậu Lê, dù có khi gọi là
thừa tuyên, hay xứ hoặc trấn, Thuận Hóa bao
giờ cũng là một đơn vị hành chánh cấp tỉnh. Thuận Hóa, từ
thời Nhà Hậu Lê, cho tới khi Nguyễn Ḥang vào trấn thủ năm
1558 là vùng đất trải dài từ phía nam đèo Ngang cho đến bắc
Quảng Nam ngày nay, gồm hai phủ Tân B́nh (Quảng B́nh và bắc
Quảng Trị) và Triệu Phong (nam Quảng Trị đến bắc Quảng Nam).
Năm 1604, Nguyễn Ḥang đă cắt huyện Điện Bàn thuộc trấn Thuận
Hóa, nâng lên thành phủ, sáp nhập vào trấn Quảng Nam. Như vậy,
có thể nói gọn lại rằng Thuận Hóa dưới thời các chúa Nguyễn,
nghĩa là trong hai thế kỷ 17 và 18, chính là vùng đất trăi
dài từ phía nam đèo Ngang cho tới đèo Hải Vân.
Năm 1558, Đoan Quận Công Nguyễn
Ḥang (tục gọi Chúa Tiên), được anh rể là Trịnh Kiểm tiến cử
vào trấn thủ Thuận Hóa. Ông lập dinh tại làng Ái Tử, huyện
Đăng Xương ( thuộc huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị bây giờ.)
Năm 1570, Nguyễn Ḥang
dời dinh vào làng Trà Bát, phía nam của Ái Tử (vẫn thuộc Triệu
Phong), gọi là Dinh Cát.
Năm 1626, để chuẩn bị cho việc
chống lại họ Trịnh ở phía bắc, Chúa Săi Nguyễn Phúc Nguyên dời
dinh xa hơn về phía nam, đến làng Phước Yên (Phúc An) thuộc
huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên bây giờ, và đổi Dinh làm Phủ.
Năm 1636, Chúa Thượng Nguyễn
Phúc Lan chọn làng Kim Long, thuộc huyện Hương Trà, tỉnh Thừa
Thiên, làm nơi đặt Phủ mới.
Năm 1687, Chúa Ngăi Nguyễn Phúc
Trăn, dời Phủ chúa về làng Phú Xuân, cũng
thuộc huyện Hương-Trà – tức khu vực đông nam của Kinh
thành Huế hiện nay
Năm 1712, chúa Minh Nguyễn Phúc Chu
lại dời phủ về phía bắc, thuộc làng Bác Vọng , huyện Quảng
Điền, Thừa Thiên.
Đến khi Vơ Vương Nguyễn Phúc
Khóat lên cầm quyền năm 1738 th́ phủ chúa mới trở về lại vị
trí Phú Xuân, hơi dịch về phía trái một chút, và yên vị từ đó
cho đến ngày thất thủ (1774) về tay quân họ Trịnh do Ḥang Ngũ
Phúc chỉ huy.
Năm 1802, sau khi thống nhất đất
nước, vua Gia Long đă “đóng đô ở Phú Xuân, mới gọi là Kinh
sư” (Đại Nam Nhất
Thống Chí, Kinh sư).
“Huế”, theo Thái Văn Kiểm
Học giả Thái Văn
Kiểm, một nhà Huế học nổi tiếng từ lâu, trong bài viết Rồng
chầu ng̣ai Huế, với tiểu mục Nguyên ủy chữ Huế (THÁI
VĂN KIỂM, Việt Nam Gấm Hoa, Làng Văn, Canada, 1997, tr.
147-149),đă đưa ra những kiến giải sau:
1) Chữ Huế bắt nguồn từ chữ
Hóa trong địa danh Thuận Hóa. Hóa biến thành Huế có thể là do
việc kiêng tên của một nhân vật quan trọng nào đó (tổ tiên,
thành hoàng), có thể là tên ông Nguyễn Nạp Hóa, cháu 6 đời của
ông Nguyễn Bặc -- công thần của Nhà Đinh -- tổ của Nhà Nguyễn.
2) Có thể chữ Huế đă xuất hiện
trong thời kỳ Nam Bắc phân tranh, căn cứ trên những dữ kiện về
ngôn ngữ và tự điển. Chẳng hạn:
-Trên bản đồ Việt Nam in trong tự
điển Dictionarii Latino-Annamitici (tome II) của Taberd,
in năm 1838 tại Ấn Độ, thấy có tên Huế.
-Trong tự điển Dictionarium
Annamitico-Latinum của Pigneau de Béhaine và J.L. Taberd
có giải thích, Huế: provincia regia Cocincinae.
- Trong hồi kư Souvenirs de Huế
xuất bản năm 1867 tại Paris của Michel Đức Chaingeau -- con
trai của Jean Baptiste Chaigneuau, tức Đức Thắng Hầu Nguyễn
Văn Thắng, một trong những người Pháp theo giúp vua Gia Long,
có công, làm quan tại triều đ́nh Huế -- cái tên Huế nhiều kỷ
niệm về Huế hồi đầu thế kỷ 19 đă được ghi lại một cách rơ ràng.
3) Tác giả cũng dẫn thêm rằng có
thể do kiêng tên bà Hồ Thị Hoa, chánh cung của vua Minh Mạng
(1820-1841), thân mẫu của vua Thiệu Trị (1841-1847) -- v́ Hoa
và Hóa đọc na ná -- nên Hóa phải đổi thành Huế. Bằng cớ là
người Huế tránh nói chữ “hoa”, nên gọi hoa là bông, ba,
hay huê, tỉnh Thanh Hoa đổi làm tỉnh Thanh Hóa.
Thật vậy, về ư kiến cho rằng chữ
Huế là do đọc trại từ chữ Hóa mà ra, v́ lư do kiêng húy của
một nhân vật quan trọng nào đó, chẳng hạn, có thể là húy ông
tổ sáu đời của Nhà Nguyễn là Nguyễn Nạp Hóa, hoặc húy của bà
Hồ Thị Hoa, chánh cung của vua Minh Mạng, th́ nghe ra không
hợp lư, v́ hai lẽ:
-Trong tộc phổ họ Nguyễn, không
thấy tên Nguyễn Nạp Hóa là cháu sáu đời của ông tổ Nguyễn Bặc
( TÔN THẤT HÂN,
Genéalogie des Nguyễn avant Gia Long, BAVH, No3, 1930.)
Mặt khác, nếu nói như vậy th́ tôi cũng có thể đưa ra một bằng
cớ khác, có vẻ rơ ràng hơn, đó là việc chúa Thượng có một
người vợ mà ông rất cưng quí, người Quảng Nam, họ Đ̣an (về sau
được truy tôn là Thần Tông Hiếu Chiêu Ḥang Hậu), có mẹ tên là
Vũ Thuận Hóa (QUỐC SỬ QUÁN, Đại Nam Liệt Truyện,
Tập 1,Viện Sử học, NXB Thuận Hóa, Huế,1997, tr. 25). Có
phải v́ vậy mà đọc trại thành Thuận Huế, rồi thành Huế chăng?!
Chúng tôi không tin như thế!
- Thật ra, không cần thiết phải
dẫn những sách vở hay họa đồ của đầu thế kỷ XIX, như nhiều
người đă làm, để chứng minh sự hiện diện của Huế, v́ ngay từ
nửa sau thế kỷ XVIII
-- nghĩa là ngay cả trước khi hồi kư về Huế của Đức Chaigneau
ra đời vào năm 1867, hay tự điển của Taberd xuất bản năm 1838
-- th́ cái tên Huế đă chễm chệ có mặt hẳn hoi rồi.
Chẳng hạn, năm 1787,
Le Floch de la Carrière đă vẽ bản đồ duyên hải Đàng Trong (cho
Bộ Hải Quân Pháp) từ cù lao Chàm-Hội An cho đến Huế, theo dữ
kiện thu thập được trong các năm 1755-1756, trong đó bản đồ
đô thành Huế được vẽ một cách khá rơ và cái tên Huế đă được
ghi, như cách người Pháp thường viết về sau: HUÉ (
BOUDET & MASSON, Iconographie
Historique de l’Indochine Française, Paris, 1931, Pl. XVI,
xem h́nh) .
 
Bản đồ này vẽ năm 1787,
trên đó, cái tên HÚE đă được
ghi rất rơ
“Huế”, theo L.
Cadière, và
“Huế”, theo
Nguyễn Hy Vọng
Thời họ Nguyễn lập nghiệp ở miền
Nam th́ người Tây Phương cũng bắt đầu tới lui Đàng Trong ngày
một nhiều, sớm nhất là người Bồ Đào Nha. Khai thác nguồn tài
liệu hồi kư và bút lục của các nhà truyền giáo, các sĩ quan
hàng hải, các nhà ngọai giao Tây phương đă từng đến Đàng Trong,
L. Cadière và các hội viên khác đă viết một loạt bài đăng rải
rác trên nhiều số BAVH, lấy tên chung là Les Européens qui
ont vu le Vieux-Hué (Những người Âu châu đến Huế-Xưa),
mỗi số giới thiệu một người, khởi đi từ khi Huế chưa thành
h́nh, với Cristoforo Borri -- đến Thuận Hóa trong khỏang
1618-1621 -- cho đến Dutreuil de Rhins, đến Huế năm 1876, là
chấm dứt chuyện Huế-Xưa.
Theo đó, Cadière đă chia sự thành
h́nh của Huế qua những thời kỳ khác nhau:
- Tiền-Huế (pré-Hué), nghĩa
là Huế của thời chưa được các chúa Nguyển chọn làm thủ phủ,
Huế trước 1636.
- Huế-Kim Long, là Huế kể từ
lúc chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan dời phủ từ Phước Yên vô Kim
Long vào năm 1636;
- Huế-Phú Xuân, là Huế kể từ
khi chúa Nghĩa Nguyễn Phúc Trăn lập phủ ở làng Phú Xuân năm
1687;
- Và Cuối cùng là Huế
-Gia Long, Minh Mạng, kể từ năm 1802 (CADIÈRE, Les
Européens qui ont vu le Vieux-Hué, BAVH., No.3, 1915, tr.
231.)
Chính qua bài giới thiệu
về linh mục Alexandre de Rhodes mà ta có thể thấy được kiến
giải của Cadière về “Huế”.
Linh mục A.
de Rhodes (1591-1660), người Pháp, là giáo sĩ ḍng Tên, đă đến
Đàng Trong và Đàng Ng̣ai nhiều lần. Ông để lại nhiều công
tŕnh biên khảo, trong đó, liên quan tới đề tài này là cuốn tự
điển Việt-Bồ-La (Dictionarium Annamiticum Lusitanum et
Latinum, xuất bản tại La Mă năm 1651) và cuốn hồ́ kư
Voyages et Missions du P.A. de Rhodes (xuất bản lần đầu
năm 1653, Paris; lần thứ hai 1884 ). Khi viết về A. de
Rhodes, Cadière đă căn cứ phần lớn vào ấn bản 1884.
Từ Macao, A. de
Rhodes đă đến Đàng Trong lần đầu vào khỏang đầu năm 1625 và ở
lại cho đến tháng 7 năm 1626 th́ được lệnh ra Đàng Ng̣ai.
Trong năm đó, ông đă cùng linh mục de Pina đi từ Quảng Nam ra
Quảng Trị để gặp chúa Săi, v́ bấy giờ Chính Dinh vẫn c̣n đặt
tại Trà Bát. Họ đi bằng đường bộ và lộ tŕnh bắt buộc phải đi
ngang qua Huế (sau này) mà A. de Rhodes gọi là province
de Hoâ (tỉnh Hoâ)( CADIÈRE, bài đă dẫn,bđd.,
tr.242.). Năm 1626, chúa Săi dời dinh từ Trà Bát vô làng
Phước Yên (tức Phúc An, thuộc huyện Quảng Điền, Thừa Thiên),
và đổi Dinh làm Phủ. Không rơ A. de Rhodes có biết việc này
trước khi rời Đàng Trong hay không, v́ không nghe nói tới.
Lần thứ hai,
A. de Rhodes đến Huế là trong khỏang 1640-1645. Bấy giờ là
thời của chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan (1635-1648). Khi đó th́
phủ chúa đă dời vô làng Kim Long (Hương Trà, Thừa Thiên), bên
bờ sông Hương, được bốn năm. A. de Rhodes đă có dịp đến phủ
chúa ở “cái thành phố mà chúa lập dinh gọi là Kẻ Huế”
(“. . . la ville ̣u le Roi fait son séjour s’apple Kehue.” -
CADIÈRE, bđd., tr.242.) v́ ông có một con chiên rất
ngoan đạo là Minh Đức Vương Thái Phi (tên Thánh là Maria
Madalena), vợ thứ của chúa Tiên Nguyễn Ḥang, nhờ vậy ông có
thể ghi lại những điều mắt thấy tai nghe về Huế-Kim Long lúc
bấy giờ. Đại khái đó là một đô thị đang được xây dựng, có
nhiều đường sá, nhà cửa đông đúc, phủ chúa tuy không nguy nga
đồ sộ nhưng đẹp đẽ và tiện nghi. Ông cũng có cơ hội tham dự
một cuộc tiếp khách ngọai quốc tại phủ chúa, dự kiến một cuộc
thao diễn thủy quân trên sông Hương do chúa Thượng chỉ huy, và
một cuộc thao diễn trên bộ, phối hợp bộ binh và kỵ binh.
Trong tự điển
Việt-Bồ-La, A. de Rhodes đă giải thích chữa “hóa” như sau:
 
(h́nh chụp lại từ cột 329 trong tự
điển)
Bản dịch của BS
Nguyễn Hy Vọng (Từ-Điền Nguồn Gốc Tiếng Việt, ấn bản
điện tử CD, mục giải thích chữ Huế):
hǒá, kẻ hǒá, thŏân hŏá:
-corte
de Cochinchina que os portugueses chamao Sinua”
“triều đ́nh
của xứ Cochinchina [xứ Đàng Trong] mà người Bồ đào nha gọi là
Sinua”
-regia
Cocincinensis à lusitanis dicta Sinua. kẻ hóe, idem.
“triều đ́nh
của xứ Cocincinensis mà người Bồ đào nha gọi là Sinùa, kẻ
hóe. cũng thế.
(NHV in đậm và gạch đít)
Căn cứ vào cách viết của
A, de Rhodes về các chữ “hóa”, “ḥa” ( ngày nay) trong tự
điển, Cadière cho rằng mấy chữ (province de)
Hoâ và Kehue mà A. de Rhodes ghi lại
trong hồi kư chính là các chữ hǒá và kẻ hóe
trong tự điển, chứ không có ǵ khác. L. Cadière đă có nhận
định như sau (CADIÈRE, bđd., tr.243):
- Vào thời của A. de
Rhodes, dạng viết Huế như ngày nay chưa có, v́
nếu có th́ đă được de Rhodes ghi lại rồi;
- Cái tên Huế
vào thời A. de Rhodes là Hóa, với dạng Hoé mà
ngày nay không c̣n nữa, c̣n cái tên Huế th́ chưa thông dụng
.
Nếu kết luận như
Cadière th́ cái tên mà A. de Rhodes đă ghi lại trong hồi kư,
như Kehue, chỉ là một cách ghi âm không chính xác. Huế
đă bắt dầu có từ thời Huế-Kim Long (1636) với cái tên là Hóa,
c̣n
Hóa biến thành Huế khi
nào và v́ sao thi không thấy đề cập. Chúng tôi sẽ trở lại ư
kiến này ở phần sau.
Cùng một nguồn tài liệu
đă dẫn ở trên, BS. Nguyễn hy Vọng lại có một nhận định khác
hẳn. Sau khi trích dẫn tự điển Việt-Bồ-La của de Rhodes, tác
giả của Từ Điển Nguồn Gốc Tiếng Việt (ấn bản điện tử
dưới dạng CD), khẳng định:
“Như vậy là hóa,
huế, hai âm này đă có, đă nói, đă gọi như thế, đă viết
khác và đọc khác từ trước, đương nhiên là trước cả năm 1651
nữa.”
Ông cũng trích dẫn câu
văn có chữ Kehue để làm mạnh thêm cái lư của ḿnh , và ông
cũng nhận định rằng “. . . các từ điển về sau, sau đó 187
năm, bắt chước cách viết hue của ông cố đạo A.
de Rhodes” [đó là các từ điển của Taberd, 1838; Pingeau de
Béhaine, 1838; Hùynh Tịnh Của, 1895.]
Khẳng định đó của
Nguyễn hy Vọng cho ta hiểu rằng, Huế đă có tên riêng là Huế
ngay từ trước 1651 (năm xuất bản tự điển Việt-Bồ-La), chứ
chẳng dính ǵ đến Hóa của châu Hóa hay Thuận Hóa.
Nghiêm
Đức Thảo và “thóc Huế”
Trong Đặc
san Quảng Trị, Xuân Tân Tỵ 2001 (Virginia, USA), tác giả
Nghiêm Đức Thảo, trong bài viết Qua truông Nhà Hồ đă có
một kiến giải rất mới về nguồn gốc của Huế. Theo đó, vua Lê
Thánh Tông (1442-1497) có lẽ là người đầu tiên nói đến địa
danh Huế.
Trong bài văn nôm
Thập giới cô hồn quốc ngữ văn, Lê Thánh Tông đă viết một
câu trong đó có tên Huế rất rơ ràng: “Hương kỳ nam, vảy đồi
mồi, búi an tức, b́ hồ tiêu, thau Lào, thóc Huế, thuyền tám
tầm chở đă vạy then. (Thơ Văn Lê Thánh Tông, Viện
Nghiên Cứu Hán-Nôm, Khoa Học Xă Hội, Hà Nội, 1981, tr. 134.)
Theo ông, “Bài thơ này
được trích lại từ tập Minh Lương Cẩm Tú, sáng tác trong
năm Tân Măo, 1471, lúc nhà vua vượt đèo Ngang vào đánh Chiêm
Thành . . .”
“Rơ ràng câu văn của
Lê Thánh Tông đă có một căn bản địa lư lịch sử.
Vậy th́ tại sao cứ phải gọi Huế là do Hóa trong Thuận Hóa
nói trại ra. Chẳng lẽ một nhà văn một nhà thơ nổi tiếng
như vua Lê Thánh Tông, không đủ cho chúng ta tin, để cứ phải
tin vào văn liệu các nhà kư sự Tây phương viết ra sau đó 156
năm. Có lẽ nào vua Lê Thánh Tông đă lầm khi viết Huế là một
địa danh bên cạnh địa danh Lào? “ (tr.140-141)
Sau khi dẫn chứng và lập
luận để củng cố kiến giải, ông đi đến kết luận:
“Cũng vậy, phải nói địa
danh Huế có trước khi vua Lê Thánh Tông ghé đến, ít ra là
trước năm 1497. Xóa khai sinh của một địa danh khi chưa cố
gắng t́m ra chứng liệu khả tín trong kho tàng lịch sử dân
tộc; nhận những ḍng kư sự Tây phương như chứng liệu duy
nhất, đó là một việc làm thiếu thận trọng.” (tr.142)
Trong việc
t́m về cội nguồn của ḿnh, tôi cũng rất muốn tin và nghĩ như
Nghiêm Đức Thảo nhưng sao vẫn có nhiều nghi vấn ám ảnh như
áng mây mờ.
Hăy nói về hai chữ
thóc Huế trong bài văn của Lê Thánh Tông. Xin hăy lưu ư
một điều: chữ Hóa trong Thuận Hóa là chữ Hán, c̣n chữ Huế
là chữ Nôm. Cả hai chữ Hóa và Huế khi viết trên giấy trắng
mực đen đều có một lối kư tự giống nhau là
化,
và tùy ngữ cảnh (context) mà đọc Hóa hay Huế.
Vậy th́ sao lại chỉ có
thể đọc là thóc Huế mà không đọc thóc Hóa ? Dẫu
có đọc thóc Hóa th́ nghĩa câu thơ cũng không có ǵ thay
đổi.
Mặt khác, đọc là
thóc Hóa th́ mới đúng với điều kiện sản xuất tại địa
phương hơn. V́ sao? V́ ngay cả Huế bây giờ ( 2004), rộng lớn
và đông dân hơn thời Huế-Lê-Thánh-Tông (?) gấp bội cũng chưa
phải là một nơi sản xuất lúa dồi dào để có tiếng là thóc Huế,
mà phải là cả vùng Thuận Hóa hay châu Hóa, th́ mới đủ sức làm
ra thóc Hóa được.
“Huế”
có từ khi mô?
Ư kiến của
học giả Thái Văn Kiểm cho rằng cái tên Huế đă xuất hiện trong
thời Trịnh Nguyễn phân tranh không mấu thuẩn với nhận định của
linh mục Cadière. Tuy nhiên, khi cho rằng “Huế” thành h́nh
kể từ Huế-Kim Long (1636 trở đi) th́ thời điểm của Cadière
tương đối xác thực hơn. Tôi ḥan ṭan tán thành quan điểm của
Cadière.
Khi tới Huế lần thứ hai
(1640-1645), được mục kích Huế-Kim Long, A. de Rhode đă rất
ngạc nhiên về sự quần tụ đông đảo của dân chúng, và ông đă
dùng những chữ như grande ville (đô thị lớn), grande
foule de peuple (đám đông dân chúng) để diễn tả, và chính
điều này đă khiến Cadière nghĩ rằng Huế-Kim Long lúc đó không
phải chỉ đơn giản có làng Kim Long mà thôi mà c̣n phải kể đến
các làng chung quanh như Xuân Ḥa, Vạn Xuân, An Ninh
và Phú Xuân nữa. Chỉ nội với một đ̣an quân đông đảo hơn 6,000
người cùng với gia đ́nh của họ, thêm vào đó là quan lại và gia
đ́nh, chưa kể dân chúng, th́ số người tụ hội sinh sống không
nhỏ, một ḿnh Kim Long không thể dung chứa đủ. Việc kể thêm
các làng chung quanh vào Huế-Kim Long lúc bấy giờ là hợp lư.
Điều này cũng dễ hiểu như về sau này mọi người đều chấp nhận
rằng Huế không phải chỉ gói trọn trong Kinh thành mà c̣n phải
tính đến cả vùng chung quanh, kéo dài đến Bao Vinh, lên đến
Thiên Mụ và vùng các lăng tẩm, xuống đến Vỹ Dạ, Cửa Thuận, mặc
dầu những vùng này, trước 1975, không thuộc khu vực hành chánh
của Huế.
Với uy thế chính trị mới,
với sự quần tụ đông đảo của dân chúng, cái tên Huế nếu có bắt
đầu xuất hiện cũng là điều hợp lư. Khi nói bắt đầu xuất
hiện, nên hiểu theo hai nghĩa : thứ nhất, có thể là nó
chưa có, bây giờ mới được đặt tên; thứ hai, nó đă có sẵn rồi,
nhưng bây giờ, do ở trong một điều kiện khác, mới được người
ta lưu ư và công nhận. Tôi chọn nghĩa thứ hai, lư do như sẽ
tŕnh bày phần tiếp đây.
“Huế”
từ mô ra ?
Trong khi đi t́m giải đáp
cho câu hỏi:
Huế” từ mô ra? tôi nhận thấy có mấy điểm đặc biệt sau
đây, mà hầu như chưa có ai quan tâm đề cập:
1)Thứ nhất,
trong nguồn sử liệu Việt Nam, không thấy có tài liệu nào nói
tới chữ “Huế” . Tại sao?
Ngọai trừ Quốc Triều
Chính Biên Tóat Yếu (QTCB., ấn bản điện
tử,www.honosoft.com.). Tất cả, khi nói tới Huế, đều dùng cái
tên Phú Xuân hoặc Kinh đô, hoặc Kinh, chứ không dùng cái tên
Huế bao giờ. Trong QTCB, Huế được nhắc đến nhiều lần trong các
trang 172,199,215,216,217 nhân khi nói về mối quan hệ với
Pháp. Sách này do Tổng tài Quốc Sử Quán Cao Xuân Dục soạn
năm1908 – nghĩa là lúc nền bảo hộ của Pháp đă hết sức vững
vàng -- sau đó vua Khải Định (1916-1925) truyền dịch ra quốc
ngữ để phổ biến các trường, năm 1925. Lúc đó th́ ảnh hưởng của
Pháp đă hết sức lớn lao, quan lại Việt Nam bắt chước người
Pháp-đô-hộ gọi Kinh đô Phú Xuân là Huế, là chuyện đương
nhiên. Bộ Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim ( tập I và II,
Institut de l’Asie du Sud-Est, Paris, 1987,) cũng đi theo
hướng đó. Đây là bộ sử đầu tiên của Việt Nam viết bằng chữ
quốc ngữ, và trong khi viết, ngoài nguồn sử liệu truyền
thống, tác giả đă sử dụng nguồn sử liệu của phương Tây, và
thế là cái tên Huế bỗng nương theo đó, không kèn không
trống, xuất hiện một cách rất tự nhiên (từ trang 254 trở đi
của tập II mới có, khi nói về những sự kiện liên quan đến
Pháp).
Một địa phương Việt Nam
thường có hai tên, một tên chính thức bằng chữ Hán, và một tên
Nôm do dân chúng đặt. Ví dụ làng Lại Ân và làng Śnh ở Huế
là một. Trong trường hợp như thế, sử sách Nhà Nguyễn có
khuynh hướng chỉ ghi tên chính thức, tên “chữ” (Hán) và thường
bỏ qua cái tên thông tục. Đại Nam Nhất Thống Chí (Kinh
sư-Thừa Thiên Phủ) không biết tới cửa Thượng Tứ, cửa Đông Ba,
và cửa Ngăn; c̣n dân Huế th́ không quan tâm tới cửa Đông Nam,
cửa Chính Đông và cửa Thể Nhơn, mà chỉ quen thuộc với cửa
ThượngTừ, cửa Đông Ba và cửa Ngăn mà thôi. Đó là sự khác
nhau giữa sách vở và thực tế. Và đó là lư do cái tên
Huế không có trong sử liệu Nhà Nguyễn, mặc dầu nó vẫn hiện hữu.
2)
Thứ hai, hầu như chỉ có thể t́m thấy dấu vết của Huế trong
tài liệu của Tây Phương. Tại sao?
Thật vậy, tại Đàng Trong, trong hai
thế kỷ XVII và XVIII, có ba địa điểm quan trọng mà Tây phương
biết đến nhiều, là: Huế, Hội An, và Đà Nẵng; trong đó, Huế là
trung tâm quyền lực, Hội An là trung tâm thương măi, và Đà
Nẵng là cửa ngơ hàng hải.
Rơ ràng cả ba địa điểm này đều có
một đặc điểm giống nhau, ấy là cùng một địa phương nhưng ông
nói gà bà nói vịt, nghĩa là sử liệu Việt Nam không hề đả động
tới những cái tên như Huế, Faifo, và Tourane th́ tài liệu Tây
phương cũng hầu như không bao giờ nói tới Phú Xuân, Hội An
và Đà Nẵng, mặc dầu cả hai bên cùng nói về một địa phương và
biết rất rơ về địa phương đó!
Và điều này đáng cho ta đặt ra câu
hỏi tại sao.
Theo thiển ư, nguyên nhân là thế
này: buổi đầu, khi mới đặt chân lên một địa phương lạ, người
Tây phương, trước nhất là các nhà truyền giáo, thường hỏi dân
địa phương để biết nơi đó gọi là ǵ. Câu trả lời của dân sở
tại thường là cái tên thông tục, chứ ít khi là cái tên chính
thức của nhà nước. Người Tây phương sẽ ghi lại theo cách
nghe, cách hiểu và cách viết của nước họ. Những cái
tên ban đầu ấy sẽ phát triển dần dần theo cách riêng cho đến
khi định h́nh hẳn. Bản đối chiếu mà tôi cung cấp tạm thời
ở trên về ba địa danh Huế, Faifo, Tourane là một ví dụ.
3) Thứ quốc ngữ thời A. de
Rhodes là lọai quốc ngữ chưa định h́nh.
Điều này là một sự thật hiển nhiên
khi đọc những tác phẩm viết bằng quốc ngữ của A. de Rhode.
Khi viết, dĩ nhiên phải dựa trên một nguyên tắc nào đó mới
viết được, nhưng nguyên tắc này vào buổi sơ khai, khá lỏng lẻo,
khá du di. Điều này dẫn đến sự bất nhất trong cách viết của
cùng một chữ; ví dụ cách viết các địa danh trên bản đồ và
trong tự điển, có khi không giống nhau, dù cùng một tay của A.
de Rhodes mà ra. Trong bản đồ Đàng Trong và Đàng Ng̣ai xuất
bản năm 1653. cái tên Thuận Hóa được ghi là Thoanoa,
trong khi tự điển ghi là thŏân hŏá; hoặc bản đồ
ghi Haifo nhưng tự điển ghi là hǒài phố, faifo,v.v.
Do đó, kết luận của Cadière, như đă dẫn ở trên, không
lấy chi làm thuyết phục lắm.
Những suy nghĩ tại các điểm 1);
2); và 3) nêu trên dẫn tôi đi đến chỗ
4) Tôi nghĩ rằng Kehue là Kẻ Huế.
Huế là từ Kẻ Huế/Kẻ Hóa mà ra.
Từ cầu Bạch Hổ đi lên chợ Kim Long
là vùng đất của hai xă Vạn Xuân và Kim Long. Con sông đào
-- trên đó cầu Bạch Hổ vắt qua để dẫn đến Vạn Xuân, Kim Long
-- nối liền sông Hương ở phía nam và Hộ Thành hà ở phía bắc,
có tục danh là sông Kẻ Vạn
Từ cửa Hũu đi ra, băng qua đường An Ḥa (tức một đọan của QL1
cũ), khách sẽ qua bến đ̣ Kẻ Vạn, chợ Kẻ Vạn, rồi nhà
thờ Kẻ Vạn.
Khi đă có Kẻ Vạn ở Vạn Xuân,
tại sao lại chối bỏ Kẻ Huế ở Kim Long, khi A. de Rhode đă ghi
rơ ràng rằng “cái thành phố mà chúa lập dinh gọi là Kẻ Huế
“ ?
Tác giả Nguyễn hy Vọng đă ghi nhận,
“Như vậy là hóa, huế, hai âm này đă có,
đă nói, đă gọi như thế, đă viết khác và đọc khác từ trước,
đương nhiên là trước cả năm 1651 nữa.”
.
Sự hiện hữu của hai âm hóa, huế về
cùng một địa phương và có giá trị như nhau cho phép ta nghĩ
rằng vào thời bấy giờ Kim Long c̣n có một tên khác là Kẻ Huế
hay Kẻ Hóa (kiểu như Vạn Xuân với Kẻ Vạn vậy), tùy theo cách
gọi của dân chúng.
V́ là cái tên thông tục nên sử sách
chẳng ghi nhận làm ǵ, nhưng với người ngọai quốc, nhất là các
nhà truyền giáo th́ khác. Vùng này th́ hẳn A. de Rhodes không
lạ lùng ǵ, v́ là đất của bổn đạo. Khi trở lại Đàng Trong lần
thứ hai, mặc dầu đă đến nơi và biết rơ chúa Nguyễn lập phủ ở
Kim Long nhưng A.de Rhodes lại không đă động ǵ tới cái tên
Kim Long, chỉ ghi nhận cái địa danh Kẻ Huế. V́ sao? V́ Kim
Long là cái tên chính thức, xa lạ, c̣n Kẻ Huế mới là cái tên
quen thuộc, là nơi trước kia bổn đạo của ông đă ở nhưng nay
phải thiên di chỗ khác cho chúa lập phủ. Đó là nguyên nhân
khiến Kẻ Huế hay Kẻ Hóa không c̣n tồn tại như Kẻ Vạn, nhưng
tồn tại trong ḷng con chiên, và tồn tại trong hồi kư của A,
de Rhodes.
Dẫu cho con đường của “Huế’ đi có
quanh co, gián đọan, nhưng “Huế” vẫn từ Huế mà ra, và đă trở
về vĩnh viễn với Huế./
VƠ HƯƠNG-AN
11/2004
 
(Sách dày 256 trang- Nam Việt xuất
bản 2006. Giá bán $15.00, bao gồm bưu phí gởi đến nhà. Chi
phiếu xin đề HANG HO, 14011 Milan St., Westminster, CA 92683)
|