|
Ư
NGHĨA NGÀY ĐẠi LỄ
18 THÁNG 5
NH̀N LẠI QUÁ KHỨ - HƯỚNG VỀ TƯƠNG LAI
Tâm Hà Lê Công
Đa
(GHI CHÚ: Bài nói chuyện
trong ngày Đại Lễ 18 tháng 5, kỹ niệm 67 năm ngày Đức Huỳnh
Giáo Chủ khai sáng Đạo PGHH, được tổ chức tại thành phố Garden
Grove, Nam Cali, ngày Chủ Nhật 18-6-2006).
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật;
Kính thưa liệt qúy vị;
Hôm nay, một lần nữa người tín đồ
Phật Giáo Hoà Hảo (PGHH) ở khắp nơi -trong nước cũng như hải
ngoại- đều hân hoan vui mừng đón chào ngày Đại Lễ 18 tháng 5,
kỹ niệm 67 năm ngày Đức Huỳnh Giáo Chủ khai sáng đạo PGHH.
Trong niềm hân hoan này, thay mặt Ban Tổ Chức và Hội Đồng Trị
Sự Trung Ương Giáo Hội PGHH (HDTSTƯ GHPGHH), chúng tôi xin
được gởi lời chào mừng đến chư Tôn Đức, quư vị đại diện các tổ
chức, hội đoàn, các cơ sở truyền thông báo chí, qúy đồng bào
và đồng đạo đă đáp lời mời của chúng tôi đến tham dự ngày Đại
Lễ hôm nay. Xin được gởi lời cầu chúc sức khoẻ đến qúy vị và
toàn thể gia quyến.
I . NH̀N LẠI QUÁ KHỨ.
Chắc hẵn quư vị ở đây không ít th́
nhiều đều có biết đến lịch sử PGHH. Tuy nhiên hôm nay chúng
tôi cũng xin phép qúy vị được ôn lại một chút lịch sử và những
nét đặc trưng của PGHH.
Người khai sáng PGHH là Đức Huỳnh
Giáo Chủ tên thật là Huỳnh Phú Sổ, sanh ngày 25 tháng 11 năm
Kỷ Mùi, tức là ngày 15 tháng Giêng năm 1919 tại làng Ḥa Hảo,
quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc trong một gia đ́nh trung lưu,
phúc hậu. Thân phụ của Ngài là Đức ông Huỳnh Công Bộ, lúc bấy
giờ làm Hương Cả làng Ḥa Hảo và thân mẫu là Đức Bà Lê Thị
Nhậm.
Thuở nhỏ v́ thường đau ốm bệnh hoạn
cho nên sau khi đậu bằng Tiểu học xong Ngài đă phải nghỉ
học ở nhà để dưỡng bệnh cho đến năm 21 tuổi, sau một chuyến đi
thăm viếng các am động tại vùng Thất Sơn, ngài bỗng nhiên đạt
ngộ, lành bệnh và tỏ ra có những năng lực phi thường như tài
trị bệnh, kể cả những bệnh rất hiểm nghèo chỉ với một phương
pháp thật đơn giản là chỉ dùng lá cây, nước lă, giấy vàng,
khiến nhiều người kinh ngạc. Song song với việc chữa bệnh Ngài
lại có tài thuyết pháp thao thao bất tuyệt, nhiều nhà trí thức
học giả đương thời nghe danh t́m đến chất vấn giáo lư nhà Phật
đều phải công nhận Ngài là bậc siêu phàm.
Cũng trong năm này, 1939, Ngài
chính thức công bố mở đạo bằng lời tiên tri cảnh báo cho mọi
người biết trước nguy cơ của cuộc Thế giới Đại Chiến Thứ Hai
sắp bùng nổ, đồng thời cáo tri cho mọi người biết lai lịch và
sứ mạng của ḿnh: “Ngày
18 tháng 5 năm Kỷ Măo, v́ thời cơ đă đến, lư Thiên Đ́nh hoạch
định, cuộc nguy cơ thảm họa sắp tràn lan. Ta đây tuy không thể
đem pháp huệ linh mà cứu an tai họa chiến tranh tàn khốc do
loài người tàn bạo gây nên, nhưng mà thử nghĩ: Sinh trong ṿng
đất Việt Nam nầy, trải qua bao kiếp trong địa cầu lăn lộn thu
thập những điều đạo học kinh nghiệm huyền thâm, ḷng mê si đă
diệt, sự vị kỷ đă tan mà kể lại nguồn gốc phát sinh, trải bao
đời giúp nước vùa dân cũng đều măi sinh cư nơi đất Việt. Những
tiền kiếp dầu sống cũng là dân quan đất Việt, dầu thác, cũng
quỷ thần đất Việt chớ bao ĺa. Những kiếp gần đây, may mắn gặp
minh sư, cơ truyền Phật Pháp, gội nhuần ân
đức Phật, ḷng
đă quảng đại từ bi, hiềm v́ nỗi quốc phá, gia vong, máy huyền
cơ đă định, ḷng thương trăm họ vướng cảnh đồ lao, chi xiết
xót thương chúng sanh vạn khổ….Ta nghĩ nhiều tiến kiếp Ta cũng
hy sinh v́ Đạo, nào quản xác thân. Kiếp chót này đây há lại
chi thân phàm tục, song v́ t́nh cốt nhục tương thân, cũng ủng
hộ, chở che cho xác phàm bớt nỗi cực h́nh” “…nên ngày 18 tháng
5 năm Kỷ Măo, Ta hóa hiện ra đời cứu độ chúng sanh. …”.
Với khả năng phi
thường, và giáo lư đơn giản khế hợp với ḷng người và thời đại,
chỉ trong một thời gian ngắn ngủi Ngài đă thu hút được gần hai
triệu tín đồ tại vùng đồng bằng miền Tây Nam nước Việt. Xét
qua lịch sử của các tôn giáo trên thế giới, chưa có một phong
trào tôn giáo nào vừa mới phát khởi mà đă có được một hấp lực
mạnh mẽ và thành công nhanh chóng như thế.
Đây là một công cuộc vận động tôn giáo rộng lớn có tính cách
quần chúng, một phong trào đă tạo nên những ảnh hưởng lớn lao
trên hàng triệu cư dân của vùng đồng bằng châu thổ sông Cửu
Long trong nữa thập kỹ đầu của thế kỷ hai mươi và vẫn c̣n tiềm
lực phát triển mạnh mẽ cho đến hôm nay.
Như vậy, Phật Giáo Ḥa Hảo có bản
sắc ǵ đặc biệt mà trong quá khứ có thể tạo nên một sức thu
hút mănh liệt như thế cũng như trong tương lai có thể bước vào
kỷ nguyên, thời đại mới một cách mạnh dạn? Đặc tính chính yếu
này có thể được tóm gọn lại trong câu nói của Đức Thầy xác
định tính chất của người tín đồ PGHH: “Đây là hạng người học
Phật , tu Nhân… Toàn thể trong Đạo chúng ta thuộc hạng tại gia
cư sĩ.”. V́ là hạng tại gia cư sĩ, thế nên:
Tu đầu tóc không cần phải cạo,
Miễn cho rồi cái ĐẠO LÀM NGƯỜI.
Nhưng mà để làm cho tṛn cái “ĐẠO
LÀM NGƯỜI” này cũng không phải là chuyện dễ dàng đơn giản, đôi
khi c̣n khó hơn cả chuyện xuống tóc đi vào chùa tu nữa là khác.
Chẳng thế mà ca dao Việt Nam khi sắp hạng các mô thức tu hành
đă cho rằng:
Thứ nhất là tu tại gia
Thứ nh́ tu chợ, thứ ba tu chùa!
Tu tại gia quả là rất khó thế nên
Đức Thầy đă chỉ ra cho mọi người một con đường, một mô thức
hành hoạt độc đáo của riêng PGHH, đó là HỌC PHẬT để TU NHÂN.
Học luôn luôn phải đi đôi với Hành. Học mà không Hành, không
áp dụng vào đời sống thực tiển, vào nhân quần xă hội th́ giáo
lư chỉ là một mớ lư thuyết suông, chẳng giúp ích được ǵ cho
đời, cho người, và như vậy, đâu c̣n ǵ là lư tưởng từ bi,
phụng sự chúng sanh của đạo Phật? Tu Nhân là ǵ nếu không phải
là đi trên con đường Bát Chánh Đạo để hoàn thành Tứ Đại Trọng
Ân: Ân Tổ Tiên Cha Mẹ, Ân Đất Nước, Ân Tam Bảo, Ân Đồng Bào và
Nhơn Loại. Đây là lối tu tích cực, nhập thế mà nói cho rộng ra,
khi người Phật tử hoàn tất được gánh nặng Tứ Ân th́ cũng có
nghĩa là họ đă hoàn thành chặng đường đầu tiên của con đường
Bồ Tát Đạo để nhập vào gịng Thánh.
Giáo lư TỨ ÂN là một trong những
nội dung chính yếu của truyền thống Phật giáo Bữu Sơn Kỳ Hương
do Đức Phật Thầy Tây An khai sáng mà Đức Huỳnh Giáo Chủ đă kế
thừa và phát huy một cách hoàn chỉnh, trong đó hai trọng ân Tổ
Tiên Cha Mẹ và Đất Nước như đă hoà lẫn, quyện chặt vào nhau,
phản ảnh đầy đủ nhân cách lư tưởng của con người Việt Nam, hai
vai gánh nặng món nợ TRUNG - HIẾU vẹn toàn. Đây là mẫu người
thương dân yêu nước mang sắc thái dân tộc tính cá biệt, phảng
phất đâu đây trong câu thơ của Đồ Chiểu:
Thà đui mà giữ đạo nhà,
C̣n hơn có mắt ông cha không thờ.
Tinh thần trung hiếu vẹn toàn này
đă được hoà quyện vào với giáo lư đạo Phật kể từ thời dựng
nước, h́nh thành nên một mẫu người Phật tử lư tưởng mang sắc
thái độc đáo Việt Nam. Thế nên có thể khẳng định một điều rằng,
Phật Giáo Hoà Hảo là một đạo Phật Việt Nam. Nét đặc trưng này
đă được một nhà nghiên cứu về PGHH, trong cuốn sách mới xuất
bản gần đây nêu bật như sau:
“Giữa bao chia rẽ, phân hóa, nồi da
xáo thịt bởi ư thức hệ, chủ nghĩa, tôn giáo, đảng phái, địa
phương, chính kiến, giai cấp… xé nát, phân thây các thế hệ
Việt Nam suốt nửa thế kỷ nay, Huỳnh Phú Sổ đă cất lên cao ư
thức hướng về cội nguồn tổ tiên để hợp nhất quốc dân và ư thức
đồng bào để đoàn kết dân tộc.
Và đi xa hơn nhân loại, đi trước cả
những nhà nhân bản tiến bộ nhất, với tâm thức cứu độ b́nh đẳng
tất cả nhân loại chúng sanh của Đạo Phật, Ông đă gieo truyền ư
thức nhân loại là anh em một nhà, ư thức thế giới là ngôi làng
chung của tất cả chúng ta, trái đất là đất mẹ chung của tất cả
loài người.
…
Thuyết Tứ Ân xa xưa của Phật giáo được Huỳnh Phú Sổ cầm đến,
một cách nhẹ nhàng, sơ lược như không cầm đến, đă trở nên mới
tinh và có giá trị thời đại, giá trị toàn cầu, giá trị toàn
diện, sâu sắc, không những cho việc Học Phật Tu Nhân của người
Phật tử Việt Nam, mà c̣n cho mọi dân tộc, mọi quốc gia và mọi
người không phân biệt biên giới, chủng tộc -những công dân
b́nh đẳng- của thế giới hiện đại.
Thuyết Tứ Ân đă đưa đạo Phật cao
siêu đến tầm tay của quần chúng, đưa đạo Phật vi diệu đến
ngưỡng cửa cuộc đời và con đường giải thoát tâm linh huyền bí,
tối thượng trở thành con đường giải phóng dân tộc và xă hội và
cá nhân một cách hiện thực, mà vẫn không mất đi bản chất siêu
thoát của đạo Phật.
Với thuyết Tứ Ân, người Phật tử
được trao cho những trách nhiệm làm người, làm cha mẹ, làm vợ
chồng, làm con cái, làm công dân ngay trong cuộc đời, đưa Phật
pháp đi vào thế gian để phụng sự gia đ́nh, cuộc đ̣i, quê hương
đất nước cũng như chúng sanh nhân loại. Học Phật – Tu Nhân mà
căn bản là thực hành Tứ Ân, quả thật là một đường lối tu hành
thích hợp với người Phật tử tại gia, biến cải, thăng hoa họ
thành những người con có hiếu với cha mẹ, ông bà; thành những
người cha, người mẹ có trách nhiệm với con cái; thành những vợ
chồng biết thương yêu lo lắng cho nhau cũng như thành những
công dân đạo đức, yêu nước, hữu dụng.
…
Nhập thế triệt để, hành động tích cực và dấn thân toàn diện
trong mọi lănh vực sinh hoạt xă hội, đó là đặc tính của nền
Phật giáo thời đại, và đó cũng là lời kêu gọi của thuyết Tứ Ân,
của chủ trương Học Phật – Tu Nhân, những đặc tính quan trọng
nhất của PGHH, mà Huỳnh Phú Sổ đă tiếp nối và thành tựu huy
hoàng di sản qúy giá từ Đức Phật Thầy Tây An, và của hai ngàn
năm Việt-Phật.”
II . HƯỚNG
VỀ TƯƠNG LAI.
Thưa Quư vị;
Chúng ta đang sống trong một thế
giới đang thay đổi và chính chúng ta cũng đang thay đổi trong
từng giây phút. Thay đổi là một trong ba pháp ấn của Phật giáo
mang tên gọi Vô Thường. Thế nhưng tâm lư con người lại rất sợ
thay đổi. Người ta chỉ muốn bước đi trên những lối ṃn. Người
ta chỉ muốn bỏ neo đời vĩnh viễn ở một bến đổ nào đó có tên
gọi là hạnh phúc hay tương tự như thế. Tất cả đều chỉ là ảo
tưởng, bởi v́ dù có cố gắng cách mấy đi nữa, không có bất cứ
loại neo nào có thể giúp ta bám vững, đứng yên lại một chỗ,
cho dù loại neo được mang cái tên gọi văn hoa là “Truyền Thống”.
Bởi v́ nếu quả t́nh có một loại neo như thế th́ làm ǵ hôm nay
chúng ta lại có Phật giáo Đại Thừa, có PGHH? Thế nên vấn đề
của chúng ta, những người Phật tử trong thời đại này, là hăy
nhổ neo, căng buồm lên, cỡi theo ngọn gió đổi thay để cùng với
mọi người mau chóng đến bờ bên kia –đáo bỉ ngạn, thể
hiện tinh thần Bát Nhă. “Yết Đế. Yết Đế. Ba La Yết Đế. Ba la
Tăng Yết Đế. Bồ Đề. Tát Bà Ha.” Phải đi, phải vượt lên, vượt
qua hết, phải thay đổi không ngừng. Ngôn ngữ thế gian gọi sự
thay đổi đó là cách mạng. Daisaku Ikeda, chủ tịch đương nhiệm
của phong trào Phât giáo Soka Gokkai Nhật Bản gọi đó là cuộc
cách mạng trong mỗi con người –The Human Revolution.
Một cuộc cách mạng bản thân hay nói rơ hơn, một cuộc cách mạng
tâm linh.
Chính từ trên nền tảng này mà người
tín đồ PGHH hôm nay, đứng trước những thành tựu vượt bực của
khoa học, những đổi thay gia tốc của thời đại trong xu thế
toàn cầu hóa, trong Đại Hội PGHH tháng 6 năm 2002 tại thủ đô
Hoa Thịnh Đốn các đại biểu tham dự đă đồng thanh chấp thuận
một nghị quyết vạch ra phương hướng chỉ đạo cho tân HĐTSTƯ/PGHH
với sứ mạng tạo nên “một bước chuyển ḿnh lớn” để đưa
đại khối PGHH thích nghi với nhu cầu của t́nh thế và thời đại
mới. Nội dung căn bản của nghị quyết này là phải “xây dựng
cho được một đại thể hài hoà đoàn kết, dồn mọi ưu tiên cho các
nỗ lực phổ truyền chánh pháp của Đức Huỳnh Giáo Chủ, thực hiện
các công tác văn hoá giáo dục, xă hội từ thiện để có thể giúp
đỡ một cách thiết thực đại khối 8 triệu đồng đạo PGHH trong
nước, giảm thiểu khoảng cách tụt hậu so với những cộng đồng
khác, giảm thiểu phần nào những khó khăn, nghiệt ngă hiện có.”
Con số tám triệu tín đồ này, thưa
quư vị, không phải
là một con số phóng đại, hư cấu với mục đích khoa trương. Con
số này tuy không được phát xuất từ một thống kê mang tính khoa
học chính xác, nhưng phát xuất từ một thực tế không ai có thể
phủ nhận. Năm năm trước đây tại Việt Nam, khi lần đầu tiên
PGHH chính thức được phép tổ chức kỹ niệm ngày Đại Lễ 18 tháng
5, theo tin tức của các cơ quan truyền thông báo chí quốc tế
ước lượng, đă có hơn một triệu tín đồ PGHH tề tựu về Thánh Địa
Hoà Hảo để chào mừng ngày Đức Thầy khai sáng đạo. Trong lịch
sử tôn giáo Việt Nam trong mấy thế kỷ gần đây, chưa hề có một
sự quy tụ nào, tập hợp nào đông đảo và có ư nghĩa như vậy. Ư
nghĩa của sự tập hợp này nói lên một điều rất đơn giản: Nhu
cầu tâm linh là một nhu cầu căn bản của con người trong bất cứ
thời đại nào, xă hội nào. Sự tập hợp này cho ta một niềm lạc
quan và hy vọng. Dân tộc Việt Nam là một dân tộc có văn hiến
đạo đức, con người Việt Nam là con người có niềm tin, tín
ngưỡng tôn giáo. Những chất liệu này phải là nền tảng để xây
dựng con người và trên căn bản đó, xây dựng lên một xă hội
lành mạnh, đạo đức, một xă hội có t́nh người.
|
 |
Kính thưa liệt qúy vị;
Sống trên đất nước Hoa
Kỳ, chúng ta vừa trải qua ngày Lễ Mẹ và hôm nay, một sự trùng
hợp ngẫu nhiên, Đại Lễ 67 năm ngày khai sáng Đạo PGHH được tổ
chức đúng vào ngày Lễ Cha (Father Day). Trong nền văn hoá này,
người ta đă tạo ra những cơ hội để cho người con thể hiện t́nh
cảm yêu thương và biết ơn cha mẹ bằng những món quà đơn giản
và hai tiếng Thank You -Cảm Ơn! Hai tiếng thông dụng này hầu
như được chúng ta sử dụng thường xuyên trong đời sống hằng
ngày. Tuy nhiên hai tiếng đơn giản đó nếu chúng ta biết phát
triển và nhân rộng ra th́ nó cũng sẽ trở thành một cái đạo:
Đạo Cảm Ơn! Nếu con người biết cảm ơn sự có mặt của nhau trên
trái đất này, của muôn loài chúng sanh, của thiên nhiên cây cỏ
th́ thế giới này lập tức sẽ biến thành một cơi Tịnh Độ. Giáo
lư Tứ Ân là ǵ nếu không phải là một thể hiện của cái Đạo Cảm
Ơn này vào đời sống thực tiễn, vào xă hội: Người tín đồ PGHH
là người luôn trân trọng và biết Cảm Ơn Tam Bảo, Cảm Ơn Cha Mẹ
Tổ Tiên, Cảm Ơn Núi Sông Đất Nước, Cảm Ơn Đồng Bào Nhân Loại.
Biết cảm ơn để không trở thành con người vong ân bội nghĩa.
Biết cảm ơn để có thể cảm thông và chia xẻ. Từ đó con người sẽ
không c̣n đấu tranh, hận thù, cấu xé và tiêu diệt lẫn nhau.
Hôm nay, trong tinh thần này, trong không khí thiêng liêng của
ngày Đại lễ Khai Sáng Đạo, 18 tháng 5, thay mặt HĐTSTƯ và Phật
Học Viện PGHH, chúng tôi xin chân thành gởi lời Cảm Ơn đến
toàn thể qúy vị, với lời cầu chúc gói ghém ước mơ: Khắp thế
giới liên dây H̉A HẢO.
Trân Trọng kính chào và
cảm ơn liệt qúy vị.
Tâm Hà Lê Công Đa
|