|
Đức Phật Thầy Tây An
Vị Giáo Tổ Bửu
Sơn Ḱ Hương
GS Nguyễn Văn
Hầu.
Đức Phật Thầy
Tây An, Giáo tổ tông phái Bửu Sơn Ḱ Hương, tên thật là Đoàn
Minh Huyên, đản sanh vào giờ ngọ, ngày rằm tháng mười năm Đinh
Măo (1807), đời vua Gia Long thứ sáu. So với triều đại Trung
Hoa th́ bấy giờ nhằm vào đời Thanh Nhân Tông, niên hiệu Gia
Khánh thứ 12.
Chánh quán
của Phật Thầy tại làng Ṭng Sơn, tổng An Tịnh, huyện Vĩnh An,
phủ Định Viễn, trấn Vĩnh Thanh (1). Tỉnh An Giang hồi ấy chưa
có. Măi đến niên hiệu Minh Mạng thứ 13 (1832), một chỉ dụ hạ
lệnh cho Gia Định Thành cắt đặt tỉnh An Giang với hai phủ, bốn
huyện th́ Ṭng Sơn thuộc về An Giang. Hiện nay Ṭng Sơn nằm về
bản đồ hành chánh huyện Lấp Ṿ, tỉnh Sa Đéc (nay là Đồng Tháp.)
Thuở nhỏ học
hành làm sao, sinh hoạt thế nào, không biết. Lớn lên, rời quê
quán, có lẽ là để đi tu hành. Nhưng cả thân thuộc Ngài cũng
không ai biết tông tích. H́nh bóng của Ngài đă vùi mất từ lâu
trong kí ức của mọi người có ít nhiều liên hệ.
Nhưng Phật
Thầy lại trở về làng Ṭng Sơn sau khi đă xuất hiện tại G̣ Công
năm Giáp Th́n (1844) rồi vân du qua các xứ Mơ Cày, Bến Tre,
Cần Chông, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Rạch Giá và miền Thất
Sơn.
Thật ra, Ngài
về đúng vào tháng năm nào, không có ǵ để xác nhận. Tuy vậy,
vẫn có những dấu hiệu cho biết rơ là vào đầu năm Kĩ Dậu (1849)
th́ Phật Thầy đă hiện diện ở đây. Với dáng dấp của một người
ngây ngây, lời ăn tiếng nói khi hư khi thực, rồi cộng với
những việc làm có lộ vẽ huyền diệu, Ngài mới bắt đầu gây được
sự chú ư cho ít kẻ hiếu ḱ. Chẳng hạn như chuyện cây da bên
rạch Ṭng Sơn trốc ngă, làm tắt nghẽn lưu thông, mà chỉ bằng
một cử chỉ nhẹ nhàng, Phật Thầy đă giúp làm cho cây da xếp lại.
Như chuyện Ngài hằng đêm đốt lá da để lấy ánh sang thay đèn,
để lấy lửa đun nước và khi thấy có người lo sợ rằng hỏa hoạn
có thể xảy ra do hành động đó của Ngài, th́ Ngài trả lời bằng
những câu úp mở, tỏ ra có đủ quyền năng để bảo đảm việc ấy.
Nhưng, như đă nói, mới đầu Ngài chỉ gây được sự chú ư cho
những ai hiếu ḱ, c̣n phần đông th́ hoặc họ không biết đến
Ngài, hoặc có người biết đến th́ chỉ tỏ vẻ khinh bạc. Nhưng
h́nh như Đức Phật Thầy không buồn nghĩ đến việc ấy mà hằng
ngày lộ vẻ trầm ngâm, thường t́m đến chỗ tịch mịch để suy tư.
Cái suy tư của một đạt nhân mang hoài băo lớn, muốn giải thoát
cho đời mà thời cơ chưa đến!
Ngài nghèo
nàn, cô độc, môt ḿnh hiu quạnh nương tựa tại mái hiên sau của
ngôi đ́nh Ṭng Sơn cũng nghèo nàn như Ngài.
Năm ấy thời
hành dịch tả nổi lên, tại làng Ṭng Sơn bắt đầu thấy có người
nhiễm bệnh. Dân làng lo sợ vái van, dự pḥng thuốc men ngừa
khi tăm tối xa thầy vắng chợ; c̣n hương chức làng th́ tự thấy
có trách nhiệm trước thánh thần, cho nên họ họp lại để làm lễ
“tống gió”, gà heo vái cúng.
Thấy hành
động của hương chức làng trái với chánh pháp, nên Phật Thầy ra
trước mặt họ tỏ ư không tán thành. Ngài khuyên đừng nên làm
việc sát sanh vô lư và ích kỷ như vậy. Ḿnh không ưa “gió” th́
“tống gió” cho ai! Nhưng chức việc làng bác bỏ lời Ngài, họ
thản nhiên làm theo ư định.
Những lời
biện giải nhân từ và hợp lư của Phật Thầy hay đâu lại là điều
làm phật ư mọi người. Người ta đồng ḷng xua đuổi Ngài ra khỏi
mái hiên đ́nh, một nơi tuy âm thầm quạnh quẽ nhưng là một tổ
ấm thân yêu mà Ngài đă nghỉ đổ tự bấy lâu nay. Ngài chấp nhận
lời họ, nhưng xin được thiết lễ ra mắt để tự chiêu khai lư
lịch đă.
Trước đông
người, Ngài cho biết tên họ của ḿnh, nói rơ danh tánh ông bà
cha mẹ ḿnh và xin mời những người thân thuộc của Ngài đến.
Ḍng họ của Đức Phật Thầy lúc bấy giờ chỉ c̣n có vài người,
nhưng trong vài người ấy, ông Đoàn Văn Điểu và ông Đoàn Văn
Viên, cũng không nhận diện được Ngài. Ngài phải nó hết căn do
lưu lạc, việc tu hành của Ngài như thế nào, th́ anh em mới
nh́n được nhau.
Rồi Đức Phật
Thầy cáo biệt.
Chuyện vở lẽ,
mọi người đều bịn rịn, khẩn cầu Ngài ở lại. Nhưng Phật Thầy
quyết định lên đường, v́ thời cơ và sứ mạng đă đến lúc khế hợp.
Từ ấy người ta thấy Phật Thầy vân du nhiều chỗ. Tại Trà Bư (cách
xa chợ Cái Tàu Thượng chừng non 10 cây số), tại Tân Phước (trên
ḷng rạch Cái Dứa), tại Mỹ Hưng khoảng đầu Cù Lao Giêng), tại
Cái Tre (bên kia bờ Tiền Giang, ven Đồng Tháp), thiên hạ đều
thấy có bóng dáng Ngài thoạt đó thoạt đây. Ngài đi trên một
chiếc xuồng bần, bơi bằng một thanh tre, gặp bịnh th́ trị bịnh,
gặp người thiện duyên th́ thuyết pháp dạy tu. Cá nhân Ngài gắn
liền với đám dân cùng khổ.
Ngài an ủi,
cứu trợ, khuyên dỗ, thương xót họ như t́nh thương bao la của
mẹ với con.
Nhưng chỗ Đức
Phật Thầy ngụ lại hơi lâu là tại Trà Bư.
Bấy giờ bịnh
dịch lan tràn dữ dội. Đầu trên xóm dưới chết. Đau một giây một
giờ rồi chết. Mà chết nhiều không kịp chôn. Thiên hạ hoảng sợ.
Bè tống ôn tống gió bềnh bồng đầy sông. Ngoài đường vắng người
đi. Ban đêm chó không dám sủa. Mà thỉnh thoảng có vài tiếng
chó sủa th́ người ta lại tưởng tượng là có âm binh về. Hễ nghe
tiếng lộp cộp là ớn da gà, biết rằng trong xóm có một nắp quan
tài vừa đậy lại. (2)
Nhân dân Ṭng
Sơn sợ hăi, hối tiếc rằng ḿnh có Phật trong nhà mà đi cầu ma
ngoài đường, nên yêu cầu ông Đoàn Văn Điểu cùng đi với chức
việc làng đến Trà Bư thỉnh Đức Phật Thầy trở về. Bấy giờ tại
Trà Bư người ta đến cầu Ngài chữa bịnh đông như kiến cỏ, nên
Phật Thầy không về Ṭng Sơn. Ngài dạy các ông ấy hăy trở về
đ́nh, nơi Ngài nghỉ đỗ trước kia, t́m cái nang bằng mo cau
dùng làm đảy đựng vật dụng mà Ngài c̣n để lại, sẽ có “cây thẻ
năm ông” trong đó. Hăy cầu vái Phật Trời rồi thỉnh thẻ ấy mà
uống th́ tật bịnh tiêu trừ.
Thật vậy,
trong cái mo nang c̣n lại, người ta thấy có một cuốn Sấm Giảng,
một tấm trần đỏ và một cây cờ ngũ sắc. Tấm trần đỏ tức thời
được thượng lên thờ tại đ́nh, quyển Sám Giảng được chuyền tay
nhau đọc; c̣n cây cờ ngũ sắc th́ chỉ trong ít ngày, người ta
thỉnh về uống sạch (3). Chẳng những vải cờ mà cho đến cả cán
cờ, chưn nhang và tro nhang trên bàn cũng không c̣n. Bằng
phương pháp đơn sơ như vậy, Đức Phật Thầy đă chận đứng được
con bịnh ở thôn Ṭng Sơn.
Tháng 8 năm
ấy, Ngài đến Xẻo Môn, thôn Kiến Thạnh (giờ đây là xă Long Kiến)
xuất hiện như một người cuồng, gây kinh dị không ít cho dân
chúng. Nhưng rồi ai nấy vô cùng thán phục bởi đức độ và tài
năng của Ngài. Ngài vừa chữa bịnh, vừa thuyết pháp dạy tu,
người quy y đông vô số.
Chỉ bằng một
mảnh giáy vàng xé nhỏ, một chút nước lă hoặc một miếng giáy áo
nhang, Phật Thầy không những trị bịnh thiên thời mà c̣n trị cả
đến các bịnh ho, suyễn, cùi, phong, điên; bịnh hậu thổ huyết,
bịnh trùng tang thằng bố. Mà trị đâu th́ hết đó, tiếng đồn
vang khắp, khiến người đến chiêm ngưỡng Ngài như nước triều
dâng.
Những người
quy y với Phật Thầy đều được phát cho một ḷng phái bằng giấy
vàng hay giấy bạch, trên đóng ấn triện có bốn chữ Bửu Sơn Kỳ
Hương. Tông phái nầy coi như được sáng khởi vào mùa Thu năm Kỷ
Dậu (1849) mà Đức Phật Thầy Tây An là Giáo Tổ.
Ngài luân lưu
chữa bịnh, thuyết pháp và truyền giáo tại Ḷng Ông Chưởng ít
nhất là vào mấy tháng của mùa thu năm ấy; các địa điểm có mang
vết chân Ngài được biết chắc chắn là tại đ́nh thần thôn Kiến
Thạnh (xưa ở Chưng Đùng), tại cốc ông Kiến (nay là Tây An Cổ
Tự) và tại chùa Sư Nhựt (thôn Kiến An). Nhưng kế rồi Ngài lâm
nạn, phải ngưng hoạt động.
Viễn nhân đưa
đến hoạn họa cho Đức Phật Thầy là do sự nghi kỵ của chánh
quyền đương nhiệm. Nguyên là miền Nam cho đến cuối đời Gia
Long, vẫn c̣n là một biên phương ô tạp. Theo Đại Nam Chánh
Biên Liệt Truyện, Đại nam Thực Lục Chánh Biên và nhiều cổ
sử thư th́ người Thổ, Người Minh Hương, người Đồ Bà, người
Chàm… và người Việt ta chung sống trên một vùng đất rộng ven
các nhánh sông Tiền và Hậu. Tín ngưỡng quá phức tạp. Mê tín
th́ dẫy đầy. Đồng bong ma quỷ như thường xuyên lẫn lộn bên
nhau. Những tụ tập làm loạn thường dựa vào t́nh trạng phức tạp
đó mà nổi dậy, khiến chính quyền phải cấm ngăn phù thủy. Căi
th́ trừng phạt bằng roi, hoạc bắt khổ sai xay lúa, giă gạo.
Thế mà các đám giặc cḥm vẫn cứ tiếp tục nổi lên, trong đó
thường có các tăng sải chủ mưu. Theo sách Bản Triều Bạn
Nghịch Liệt Truyện (4) th́ giặc Sải Kế là một loạn đảng
quá dữ dằn, dám xưng vương, cướp phá lung tung các hạt trên
Miên và tràn xuống đến Định Tường để cáp duồng, cướp bóc vào
nhữg tháng thượng bán niên Canh Th́n (1820). Kế đến năm Thiệu
Trị nguyên niên (1841), nhiều cuộc loạn lại nổi lên ở Miên do
các tên đầu đảng là Đột và Cố. Nước Xiêm nhân đó đưa đưa Nặc
Ông Đôn về Miên cướp quyền bảo hộ của Việt Nam, xúi dân làm
loạn, cướp phá đến kinh Vĩnh Tế (5). Rồi thầy săi Lâm Sâm (cũng
gọi là Sư Sâm) thừa cơ dậy giặc ở Vĩnh Long và Trà Vinh, y có
tới bảy tám ngàn đồ đảng, tất nhiên là có nhiều “thầy tu” chỉ
huy, chiếm cứ Lạc Hoá, giết cả đến quan Bố Chánh Trần Tuyên và
quan Tri Huyện Huỳnh Hữu Quang (6). Tiếp theo là Thiệu Trị thứ
năm và thứ sáu (1845, 1846) Cao Miên liên tiếp có loạn, làm
rối rắm Nam Kỳ, trong đó thường có sự tham gia của các sư săi
người Miên. Chính v́ vậy mà khi nghe tin Đức Phật Thầy có uy
lực tụ tập mỗi ngày hàng ngàn người, tự nhiên là triều đ́nh
phải sợ.
C̣n cận nhân
gây ra tai nạn cho Phật Thầy là do bọn thầy cúng, bọn lang băm
và bọn phù thủy bất học vô thuật. Chúng ganh tỵ trước sức thu
hút quần chúng quá lớn lao của Đức Phật Thầy, v́ Ngài có thể
gây thất nghiệp cho chúng. Chúng t́m mọi cách để chỉ trích các
phương pháp chữa bịnh, truyền giáo và hành giáo của Ngài. Đói
ăn rau, đau uống thuốc, Đức Phật Thầy chữa bịnh không dùng
thuốc, là một cái nghi. Thầy chùa th́ phải đầu tṛn áo vuông,
Ngài đầu vẫn búi tóc, càm vẫn để râu, là hai cái nghi. Lễ Phật
thường th́ tụng kinh gơ mơ, giờ sao dạy lâm râm mặc niệm,
không la ó ǵ, là ba cái nghi. Thờ Phật lâu nay chỉ thờ tượng
cốt, nay lại thờ trần điều, là bốn cái nghi. Cúng Phật thường
cúng chè xôi, lư do ǵ lại bác bỏ hết mà chỉ cúng hoa tươi
nước lă, là năm cái nghi. Tất cả các nguyên cớ dẫn trên tập
hợp lại thành một lưới nghi, khiến chánh quyền kết luận rằng
Phật Thầy không phải là một nhà tu hành chân chính, mà là một
gian đạo sĩ, chuẩn bị quần chúng để làm một cuộc nội loạn.
Đức Phật Thầy
bị quan Tổng Đốc An Giang xuống lịnh bắt Ngài đưa về Châu Đốc
câu lưu.
Tại Châu Đốc,
Phật Thầy đă đem tài hùng biện và dùng những huyền nhiệm để
ứng phó với các viên chức chánh quyền. Những lời đe dọa, những
cuộc thẩm vấn gắt gao, cùng với những tṛ thử thách đều được
đưa ra, nhưng không hề làm lung lay được tâm hồn hiền thánh.
Sau đó, không rơ là bao lâu, người ta phóng thích Ngài.
Tuy nhiên để
hợp thức hoá Phật Thầy như một nhà sư b́nh thường của đạo Phật
và để kiểm soát, theo dơi mọi hoạt động của Ngài, người ta
buộc Ngài phải thế phát và phải vào tu tại chùa Tây an, một
ngôi chùado chánh quyền cất sẵn từ năm Thiệu Trị thứ bảy
(1847) qua bàn tay kiến trúc của quan Tổng Đốc Doăn Uẩn. (7).
Từ đó,
PhậtThầy, trên phương diện pháp lí, là một nhà sư của chùa Tây
An. Để tự túc sinh sống, chánh quyền có cấp cho Ngài tám mẫu
ruộng bên chân núi Sam. Tại đây đă có sẵn một sư trụ tŕ thuộc
phái Lâm Tế, có nhiều tượng cốt Phật, có gơ mơ tụng kinh!
Ngộ biến tùng
quyền, mặc dù trong một h́nh thức trái với chủ trương cải cách
tôn giáo của Ngài, Phật Thầy vẫn ẩn nhẫn tùy thời để thi hành
sứ mạng lập tông hành giáo.
Tưởng nên nói
rơ rằng chủ trương của Phật Thầy là lấy Đạo Phật làm căn,
nhưng không thờ Phật cốt, không gơ mơ tụng kinh, không đầu
tṛn áo vuông, không hành nghề thầy đám, không cúng kiến chè
xôi và tu đâu cũng được. Theo giáo lí của Ngài th́ người tu
cốt tránh ác làm lành, rửa ḷng trong sạch, giữ tâm thanh
tịnh và hằng thực thi bốn ân lớn: ân tổ tiên cha mẹ, ân đất
nước, ân tam bảo, ân đồng bào và nhân loại (8).
Cũng tại chùa
Tây An núi Sam, Phật Thầy cảm hóa được vị thiền sư chủ chùa và
thu hút hằng chục vạn thập phương thiện tín. Người ta xem Ngài
như một Hoạt Phật và tôn xưng Ngài là Phật Thầy Tây An. Danh
hiệu này là thế tôn, không phải Ngài tự đặt.
Ngài cũng chỉ
thị cho các đại đệ tử mở rộng việc truyền giáo ra khắp bốn
phương, tiếp tục phát phù trị bịnh, tiếp tục cấp ḷng phái Bửu
Sơn Ḱ Hương để thu nhận thêm nhiều đệ tử. Cái bối cảnh Xẻo
Môn trước kia giờ đây bộc hiện tại núi Sam với một niềm tin
mănh liệt và với một tinh thần phấn khởi hơn trước đối với
người tin. Để tránh sự khủng bố của chánh quyền mà Phật Thầy
tiên liệu là sẽ khó khỏi nếu cứ cho tập trung ở đó để truyền
giáo theo chủ trương của ḿnh, nên Ngài cho lệnh di tản tín đồ
đi khai hoang tản mạn nhiều nơi. Các vùng cực xa xôi hoang
vắng, chưa có vết chân ai bén mảng, là chỗ tốt cho sự thành
lập các cơ cấu Bửu Sơn Ḱ Hương.
Các cơ cấu tôn
giáo vừa nói đều được Phật Thầy mệnh danh là trại ruộng. Tất
cả tín đồ đều là cư sĩ tại gia, vừa làm lụng sanh nhai vừa tu
hành tinh tấn. Các nông trại được coi như các chùa chiền và
các đại đệ tử của Ngài được gọi là các Ông Đạo để làm những
việc như các tăng sư truyền giáo.
Năm 1851, từng
đoàn tín đồ của Phật Thầy chia nhau ra đi.
Đoàn khai
hoang thứ nhất vào Thất Sơn, bên chân núi Két, nơi mà rừng bụi
rậm ŕ, hổ báo lúc nào cũng có thể xuất hiện để đe dọa hoặc
làm hại người ta được. Đoàn này chia làm hai nơi, một do ông
Bùi Văn Thân tức Tăng Chủ Bùi Thiền Sư, một do ông Bùi Văn Tây
tức Đ́nh Tây chỉ huy. Nơi đây nông trại Hưng Thới và Xuân Sơn
được dựng lên (9).
Đoàn khai
hoang thứ hai do ông Quản Thành tức Đạo Thành (10) điều khiển,
đem nhau đến Láng Linh, một vùng bùn lầy, mùa lụt như biển cả
mà mùa hạn th́ như bải cát hoang. Địa thế không thuận lợi mấy
cho nông nghiệp nhưng rất đắc địa cho khách ẩn cư tịch mịch.
Tại vùng này, một trại ruộng mệnh danh là Bửu Hương Các được
dựng lên.
Đoàn thứ ba do
ông Đặng Văn Ngoạn đưa về miền Cần Lố, bên kia bờ Tiền Giang (vùng
Đồng Tháp Mười). Một ngôi chùa được dựng lên tại Trà Bông để
các tín đồ chiêm bái; c̣n ruộng rẫy th́ mở ra khắp nẻo rạch
Trà Bông, trong ḷng Cần Lố, lạch ông Bường (11).
Đoàn thứ tư về
Cái Dầu, nay là xă B́nh Long, sát hữu ngạn Hậu Giang, nơi có
nhiều phù sa, tuy không phải chỗ hoàn toàn hoang lâm, nhưng
vẫn c̣n mênh mông đất rộng, ông Nguyễn Văn Xuyến, tức Đạo
Xuyến, đă cai quản các tín đồ sinh hoạt tại địa điểm này (12).
Tất cả các
nhân vật điều khiển các nông trại Bửu Sơn Ḱ Hương mà chúng
ta vừa biết đều là những người đạo đức gương mẫu, thông Phật
pháp, giỏi vơ nghệ, đầy ḷng vị tha:
Bùa linh đốt
cứu người đau đớn,
Phù Phật dành
dưng kẻ thiện duyên…
Họ kiên nhẫn
và bất vụ lợi, tinh thần khoáng đạt:
Giày cỏ đến
lui trời đất rộng,
Áo sen xài xạc
núi sông dài (13).
Cho nên với
cuộc sống đơn bạc, họ đă động viên hằng ngàn nhân lực đến mỗi
nơi để sau đó thành lập thôn ấp, phát triển đạo đức.
Nhiều làng xă
như Hưng Thới, Xuân Sơn, B́nh Long, Thạnh Mĩ, Vĩnh Hanh…(thuộc
Long Xuyên – Châu Đốc) hoặc ở Đồng Tháp (thuộc Sa Đéc - Kiến
Phong), ở Trà Bang (Rạch Giá)… đều đă do bàn tay, lưỡi cuốc
khai phá của người tín đồ Bửu Sơn Ḱ Hương mà nên.
Chặng đời từ
1851 trở đi, tuy tiếng là tại núi Sam, nhưng thật ra Phật Thầy
luôn luôn vân du hóa độ. Tài liệu chắc chắn có thể kiểm chứng
được cho thấy ngoài Châu Đốc – Đông Xuyên, nơi có sự trông nom
của Đức Phật Thầy và ông Đạo Thành, công việc truyền giáo về
cao Miên có ông Đạo Lănh, Bà Năm Cḥm Dầu; về Sa Đéc – Vĩnh
Long có ông Đạo Ngoạn; về các tỉnh Biên Hoà - Định Tường có
ông Đạo Xuyến; về Hà Tiên - Rạch Giá có ông Đạo Lập (14).
Những tu sĩ nầy được mật truyền tâm pháp và thảy đều nổi tiếng
là những bậc chân sư.
Phật Thầy thọ
50 tuổi, viên tịch tại Chùa Tây An núi Sam vào giờ Ngọ, ngày
12 tháng 8 năm Bính Th́n (1856).
Nh́n Bửu Sơn
Ḱ Hương qua hành chỉ của vị Giáo Tổ, qua giáo lí và các tổ
chức sinh hoạt của tông phái này, chúng ta thấy thể hiện ở đây
một cải cách lớn, một sáng tạo đặc biệt chẳng riêng cho Phật
Giáo Việt Nam mà là một đóng góp xứng đáng cho cả một dân tộc
(15).
Giữa khi mà
đất nướcli loạn liên miên gây ra bởi tham vọng của con người
đồng chủng (chiến tranh Tây Sơn - Nguyễn Ánh, tranh chấp Minh
Mạng – Lê Văn Khôi), bởi tham vọng của những kẻ dị chủng (mấy
trận xâm lăng của Xiêm và những dấy loạn của Miên) kế đến là
những tà quỉ mị đạo mê hoặc lợi dụng, những cướp của sát nhân
của những tên gian đạo sĩ (đồng cốt bóng chàng lường gạt trân
tráo đến phải phạt khổ sai mà không bỏ; nào loạn Sải Kế, nào
giặc Sải Sâm), rồi tới nền kinh tế phát triển quá mức trên một
vùng ph́ nhiêu nhất của đất nước làm thu hút đủ loại người
chen đua, giành giựt, hư hèn (miền Hậu Giang hồi thế kỷ 19 đă
tập trung nhiều giống người Chàm, Xiêm, Miên, Lào, Đồ Bà,
Trung hoa ở lẫn với Việt Nam) v.v… giữa lúc ấy nếu không xuất
hiện một phong trào chấn hưng đạo đức thích ứng như công đức
hoằng hóa của Bửu Sơn Ḱ Hương th́ chắc chắn miền Nam này sẽ
trở thành cái rún biển chất chồng tội ác, hoặc là một trong
những ung nhọt của thế giới văn minh rồi.
Nội bấy nhiêu
đó cũng đủ làm bừng sáng ư nghĩa trong sự hiện diện của Bửu
Sơn Ḱ Hương.
GS Nguyễn Văn
Hầu.
CHÚ THÍCH:
(1) Năm Gia Long thứ bảy (1808) bắt đầu đặt trấn Vĩnh Thanh,
thuộc quyền Gia Định thành, có một phủ (Định Viễn) và ba huyện
(Vĩnh B́nh, Vĩnh an và Tân An).
(2) “Nửa Tháng Trong Miền Thất Sơn”, Hương Sen xuất bản, 1971.
(3) Phải chăng là để nhắc lại việc này, Đức Huỳnh Giáo Chủ có
viết trong bài Thiên lư ca hai câu rất đúng với sự kiện và
cảnh ngộ.
Bửa xưa Giảng kệ một nang,
Bởi v́ ta mắc đời thoàn cảnh xa.
Đức Phật Thầy Tây An quả đă để lại đ́nh thần Ṭng Sơn một mo
nang Giảng kệ và trên chiếc xuồng bần, Ngài đă dời thoàn ra đi,
không trở lại
(4) Mục Minh
Mạng nguyên niên, tờ 8a.
(5) Xem Thoại
Ngọc Hầu và Những Cuộc Khai Phá Miền Hậu Giang, Hươ ng Sen
xuất bả n, 1973.
(6) Bản Triều
Bạn Nghịch Liệt Truyện, mục Thiệu Trị nguyên niên, tờ 21b.
(7) Đại Nam
Nhất Thống Chí, phần An Giang tỉinh, mục Tự quan, tờ 29b.
Trong quyển Mùa Đông đă chép sai chi tiết này.
(8) Nhận
Thức Phật Giáo Ḥa Hảo, Hương Sen xuất bản, 1969.
(9) Thất
Sơn Mầu Nhiệm, Từ Tâm tái bản, 1972.
(10) Cuộc
Khởi Nghĩa Bảy Thưa, Tân Sanh xb 1956.
(11) Theo
Đạo Ông Giảng Tập của Đặng Công Hứa bản Nôm lục bát, không
đề năm sang tác. Nội dung nói về cuộc đời hành đạo của ông Đạo
Ngoạn.
(12) Sự
Thôn Thuộc và Khai Thác Đất Tầm Phong Long. Sử Địa số 19,
20, 1970.
(13) Trích
Liên Hoàn Thập Thủ của ông Đạo Lănh (có thể do Phật Thầy
bảo viết).
(14) Xem
Thất Sơn Mầu Nhiệm, Từ Tâm tái bản, 1972.
(15) Những
xưng hô về sau phần nhiều là những lạm dụng hoặc lợi dụng.
Người ta bắt chước theo một vài điều ǵ đó của căn gốc Phật
Thầy rồi tự xưng ḿnh cũng thuộc tông phái của Ngài để lấy uy
tín. Sự thật đều là sai lạc chánh truyền. Chẳng hạn họ thấy
Bửu Sơn Ḱ Hương có ân đất nước, có tranh đấu cứu quốc nên lợi
dụng để quyến rũ quần chúng. Trường hợp “Lá Cờ Phản Nghịch” có
mang bốn chữ Bửu Sơn Ḱ Hương kèm theo những phù chú nhăng
nhít của một nhóm Thiên Địa Hội làm từ năm Ất Măo (1915), bị
thực dân Pháp bắt được năm 1916 mà giáo sư G. Coulet đă đề cập
(Drapeau de l’insurrection de 1916 en Cochinchine) là một. Một
trường hợp khác là có một số người lạm dụng tấm trần đỏ của
Đức Phật Thầy để tôn thờ nhưng không tu học đúng tôn chỉ của
Ngài. Điều này đă được Đức Giáo chủ PGHH minh giải: “Từ trước
chúng ta thờ Trần Điều là di tích của Đức Phật Thầy Tây An để
lại. Nhưng gần đây có nhiều kẻ thờ trần điều tự xưng cùng tong
phái với chúng ta làm sái phép, sái với tôn chỉ của Đức Phật,
nên toàn thể trong đạo đổi lại màu dà. (Tôn Chỉ Hành Đạo, xb
tháng 6 năm 1965).
|