|
PHẬT
TRIẾT
NGƯỜI LÂM ẤP
THẾ KỶ VII
Vĩnh Sính
Phật Triết sinh trưởng ở Lâm Ấp và qua Nhật từ năm 736 với Bồ
Đề Tiên Na (Bodhisena), cao tăng người Ấn Độ. Phật Triết ở
Nhật ít nhất cho đến năm 752 vì ông đã dự lễ Pháp hội và nghe
tấu vũ nhạc trong buổi đại lễ âm nhạc lịch sử tại chùa Đông
Đại với
Bồ Đề Tiên Na là
kaiganshi
(Master-of-ceremonies).
Có lẽ Phật Triết đã chứng kiến sự mất nước Lâm Ấp vào những
năm sau đó trên đất nước Nhật Bản.
Nước Lâm Ấp từ năm 192 là vùng đất miền Quảng Nam, Huế, và
Quảng Trị của nước ta bây giờ. Từ khoảng năm 758 cho đến những
năm 850, nước Lâm Ấp đổi thành Hoàn Vương, một cái tên mới rất
đỗi xa lạ có nghĩa là Panduranga (tức Phan Rang ngày nay), nằm
về phía nam ; sau những năm 850, Hoàn Vương lại đổi thành
Chiêm Thành. Vì những bia mộ sau thế kỷ IV thường đươc viết
bằng chữ Phạn (Sanskrit),
chúng ta có thể phỏng đoán tiếng Lâm Ấp bắt đầu Ấn hoá từ lúc
đó. Tuy nhiên, không ai biết cách phát âm tiếng Lâm Ấp ra làm
sao.
Phật Triết là nhân vật sống vào một thời đại xa xưa
trên một đất nước không còn tồn tại nữa. Những trang viết về
tiểu sử của Phật Triết chính là những trang sử cổ nhất về Lâm
Ấp mà Nhật Bản còn có hiện nay. Trong bài này, chúng ta thử
dựa vào tiểu sử của Phật Triết do
Mochizuki Bukkyô Daijiten
(Mochizuki Phật giáo Đại từ điển) và
Bukkyô Daijiten (Phật
giáo Đại từ điển) cung cấp, rồi dùng những tư liệu góp nhặt đó
đây để xây dựng lại một vài hình ảnh về nhân vật này.
1.
Mochizuki Bukkyô Daijiten
đã ghi lại về Phật Triết như sau :
“ Phật Triết người nước Lâm Ấp (An Nam). Tên
ông có thể viết là Phật Triệt. Từ nhỏ theo học Phật giáo, đọc
được chú. Thấy chúng sinh nghèo khổ, ông muốn phát chẩn, bơi
thuyền ra Nam Hải, đọc chú để Long Vương đem ngọc Như Ý ra.
Long Vương nói dối, giải chú, rồi đem ngọc trốn xuống biển.
Sóng lúc đó rất lớn, thuyền phải chìm. Gặp lúc Bồ Đề Tiên Na
đi Trung Quốc, ông tháp tùng qua Ngũ Đài Sơn.
Đến tháng 12 năm Khai Nguyên thứ 18, ông cùng Tiên Na đến Nhật
Bản. Tháng 7 (có sách nói tháng 8), Thiên Bình năm thứ 8,
Thiên hoàng Thanh Võ (Shômu) thiên hoàng ngự giá đến Setsu,
các quan đón ông rất sùng kính. Ông thường ngụ ở chùa Đại An.
Tháng 4 đời Thiên Bình Thắng Bửu (Tempyô Shôhô) thứ 4, lúc có
lễ cúng dường Khai nhãn Đại Phật ở chùa Đông Đại (Tôdaiji),
ông thừa lệnh cùng Tiên Na dự lễ Pháp hội và nghe tấu vũ nhạc.
Ông được tôn làm sư của các điệu múa Bồ Đề, Bạt Đầu và nhạc
Lâm Ấp do công phu của ông mà có. Không biết ông mất và hưởng
thọ bao nhiêu. Ông viết Tất Đàm Chương thứ nhất.
Tiểu truyện có đăng ở
Shichidaiji nenpyô,
Tôdaiji yôroku dai 2,
Fusô ryakki batsui,
Wamei ruijushô dai 4,
Nihon kôsô den yobunshô dai 1,
Genkyô yakusho dai 15,
Nanto kôsô den,
Honchô kôsô den dai 2,
Minami Tenjiku Baramon-sô seihi ” (1).
2.
Bukkyô Daijiten
viết về Phật Triết :
“ [Phật Triết là ] Tăng ở chùa Đại An, Yamato. Có người viết
là Phật Triệt. Người nước Lâm Ấp. Đi chơi ở Ấn Độ gặp Bồ Đề
Tiên Na, tôn làm thầy, học Phật pháp và thông mật chú. Thấy
chúng sinh nghèo khổ, ông ra biển đọc chú gọi Long Vương đem
ngọc Như Ý ra. Long Vương nhanh tay, chạy trốn khỏi chú và
khỏi nộp ngọc. Phật Triết thất vọng quay về. Giữa năm Khai
Nguyên, cùng đi với Bồ Đề Tiên Na qua nước Đường, rồi cùng
sang Nhật Bản. Đó là năm Thiên Bình thứ 8. Ông ngụ ở chùa Đại
An và được các quan rất sùng kính. Đời Thiên Bình Thắng Bửu
thứ 4, lúc có lễ cúng dường Khai nhãn Đại Phật ở chùa Đông Đại
(Tôdai), ông thừa lệnh cùng Bồ Đề Tiên Na dự lễ Pháp hội và
nghe tấu vũ nhạc. Ông được tôn làm sư của các điệu múa Bồ Đề,
Bạt Đầu và nhạc Lâm Ấp do công phu của ông. Không biết ông mất
và hưởng thọ bao nhiêu. Ông viết Tất Đàm Chương thứ nhất.
Tiểu truyện có đăng ở
Tôdaiji yôroku dai 2,
Wamei ruijushô dai 4,
Genkyô yakusho dai 15 ” (2).
3.
Phật Triết – Người là ai ?
3.1
Ở Đông Á, nhã nhạc là âm nhạc có lịch sử từ thời cổ đại. Nhã
nhạc ra đời ở Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam. Vì
Lâm Ấp đã biến dạng sau khoảng năm 758, lịch sử nhã nhạc của
Lâm Ấp thường
được nghiên cứu với nhã nhạc Việt Nam.
Khác với “ tục nhạc ” (nhạc
thông thường),
“ nhã chính ” là âm nhạc mang tư tưởng lễ nhạc của Nho giáo.
Nói một cách khác, nhã nhạc là âm nhạc truyền bá ý thức quốc
gia, nghi thức cung đình và yến tiệc. Nhã nhạc Nhật Bản thường
dùng các nhạc khí không giống các nước Đông Á khác. Phật Triết
đã góp phần vào việc khai thông những bước đầu của nhã nhạc
Nhật Bản và đúng là nhân vật đáng kể trong lúc âm nhạc giữ vai
trò quan trọng trong việc giao thiệp giữa Nhật Bản với các
nước khác.
Chúng ta thử lần lượt đi qua từng từ.
3.2
Phật Triết :
Phật là tên dịch tiếng Hán của chữ Buddha. Vì sao người ta lại
viết câu “ Có người viết là Phật Triệt ” ? Chữ “ triệt ” cùng
âm nhưng khác “ thanh ” với âm chữ “ triết ” trong tiếng Việt,
nhưng đối với những ngôn ngữ không phân biệt “ thanh ”, âm của
“ triết ” với “ triệt ” đều giống nhau. Nói một cách khác,
khác với tiếng Việt, trong tiếng Lâm Ấp “ triết ” và “ triệt ”
đọc giống nhau, vậy chắc hẳn vì tiếng Lâm Ấp không phân biệt
“ thanh ” ?
Sách của
Mochizuki
trong ngoặc đơn ghi là “ An Nam ”. Trong tiếng Nhật, An Nam là
tên gọi Việt Nam dưới thời Pháp thuộc, vậy này ta có thể đoán
sách này biên soạn dưới thời ấy và trong khi in lại nhà xuất
bản đã để y như cũ.
Long Vương, Nam Hải và ngọc Như Ý là dựa theo truyền thuyết
của Đông phương (Trung Quốc) chứ không phải của Ấn Độ. Chúng
ta có thể đoán chừng là Phật Triết phần lớn dùng theo văn hoá
Đông phương, mặc dù ảnh hưởng văn hoá Ấn Độ chúng ta không hề
phủ nhận qua việc ông cùng với Bồ Đề Tiên Na giao tiếp hằng
ngày.
3.3
Sách
Daijiten
nói rõ Phật Triết có sang Ấn Độ và gặp Bồ Đề Tiên Na ở đó : “ đi
chơi Ấn Độ gặp Bồ Đề Tiên Na ”. Mặt khác, cả hai sách
Mochizuki
và
Daijiten
ghi rõ là Phật Triết sang Nhật Bản với Bồ Đề Tiên Na sau khi
sang Trung Quốc. Bồ Đề Tiên Na là người như thế nào ?
Bồ Đề Tiên Na là một vị cao tăng người
Nam Ấn Độ. Tư liệu về Tiên Na có nhiều so với Phật Triết. Tên
của Tiên Na có thể viết chữ Hán là Bà La Môn Tăng Chính
(3),
Bồ Đề
Tăng Chính, Bồ Đề Noãn Na, hoặc nhiều cách viết khác nữa. Ông
sang Trung Quốc vào Ngũ Đài Sơn để “ thu thập kinh nghiệm mầu
nhiệm của Văn Thù Bồ Tát ”. Đáp lời mời của Tajihino Mabito
Hironari, người tháp tùng chuyến thứ 9 của những phái đoàn
Nhật gửi sang nhà Đường, cùng học giả Lý Cảnh, ông cùng Phật
Triết và Đạo Nhược (người Trung Quốc) sang Nhật năm 736. Trong
lần sang Nhật, thuyền của Tiên Na và Phật Triết đến Dazaifu
(Kyushu) tháng 5 năm 736, sau đó đến Tsu, Nanba (Osaka) vào
tháng 8, được Gyôki cùng các tăng lữ khác đón đến ở chùa Đại
An ở Sakyô, Heijô (Kyoto) và dạy tăng lữ ở đó. Bồ Đề Tiên Na
thường đọc kinh Hoa Nghiêm và rất giỏi về mật chú. Tháng 4 năm
751 ông được phong làm Tăng Chính, và năm sau (752) ông được
làm
Kaigan dôshi
(Khai nhãn Hướng sư hay gọi tắt là Khai nhãn sư, tức là
master-of-ceremonies),
phụ trách cúng dường khi “ khai nhãn ” cho Đại Phật ở chùa
Minh Đại. Ông là vị tăng lữ
có chức quan lớn nhất. Bồ Đề Tiên Na mất ngày 25 tháng 2 năm
760, lễ hoả táng được tổ chức long trọng.
Chúng ta cần nói thêm về đại lễ tại chùa Minh Đại vào năm 752
vì ý nghĩa của lễ này vô cùng quan trọng. Vào thế kỷ
VII, VIII, IX, dưới đời Đường, Trung Quốc có đủ loại hàng hóa
cần thiết : từ âm nhạc, đồ sứ đến thuốc men hay hương liệu.
Ngoài chữ Hán trong “ thế giới Đông Á ”, tiếng Phạn đang chiếm
địa vị độc tôn ở các nơi thuộc văn minh Ấn Độ. Ấn Độ có nhiều
vương quốc và sắc tộc khác nhau. Tuy Ấn Độ giáo (Hinduism)
đang ở trên đà đi lên, chùa chiền Phật giáo hãy còn chiếm phần
lớn. Đối với người Đông Á, âm nhạc và các vũ điệu là những gì
hấp dẫn nhất. Những phòng trà nổi danh ở Trường An (Tây An
hiện nay) thường có những dàn nhạc “ người ngoại quốc ” hay những
vũ nữ “ Tây dương ”. “ Nam Ấn Độ ”, “ Vó ngựa Thổ Nhĩ Kỳ ”, “ Trăng
vùng Brahman ”, v.v. là những bài hát ở các phòng trà. Người
ta tính có đến 171 mặt nạ để nhảy múa. Trung Quốc có thể mời
đến 25 000 nguời tăng lữ người ngoại quốc, chủ yếu là Ấn Độ
hay Java.
Bởi vậy, việc Tajihino Mabito Hironari mời Tiên Na và Phật
Triết sang Nhật từ
năm
736 chính là để chuẩn bị ngày lễ lịch sử theo mô hình Trung
Quốc. Cần nói thêm rằng vào thời Nara (710-794), trước
sự lớn mạnh
của Trung Quốc thuộc nhà Đường, những tác phẩm về lịch sử (Kojiki
hay
Cổ sự ký,
712,
Nihon shoki
hay
Nhật Bản thư kỷ,
720) hoặc thơ (Man’yôshu
hay
Vạn diệp tập,
760) đã lần lượt ra đời trong trong hoàn cảnh tương tự. Vì vậy,
Shoku-Nihongi
đã ghi lại sau khi xong “ đại lễ âm nhạc Á châu vĩ đại ” (great
Asian music festival)
vào năm 752 như sau : “ Ngày 9 tháng 4, tượng Đại Phật đã hoàn
thành và sẵn sàng để chiêm bái. Thiên hoàng đến chùa Đông Đại,
ban huấn lệnh cho một số quan chức rồi bắt đầu đại lễ. Thứ tự
chương trình và vị trí của người tham dự buổi lễ giống như
trong lễ Tết. Quan chức trên ngũ phẩm bận triều phục, quan lục
phẩm hay thấp hơn mặc đồng phục và màu sắc định thứ bậc. Mười
ngàn tăng lữ Utaryo (ban nhạc chính thức, có nhiều người ngoại
quốc) và nhạc công của mỗi chùa đứng sắp hàng. Quý tộc và quan
chức của mỗi vùng sắp hàng chỉnh tề. Vũ công và nhạc công
trình diễn, gồm có Gosechi (5 nữ nhạc công múa theo nhạc của
cung đình Nhật), Kumemai (múa kiếm trần theo âm nhạc),
Tatefushi (múa đội mũ sắt, mang kiếm và mộc), Arare-hashiri (còn
gọi là Toka, vừa chạy vừa la “ Muôn năm ”), và Hoko (vũ điệu
múa bởi thiếu nữ Trung Quốc, mặc
hakama).
Ngôi vườn [chùa Đông Đại] chia làm hai, Đông và Tây, và tiếng
hát vọng qua vọng lại khu vườn. Thật khó mà tả lại cho chính
xác. Từ ngày Phật giáo được truyền vào nước ta, không có cảnh
nào to lớn cho bằng” (4).
Trong
Nihon Sandai Jitsuroku
có ghi là “ 107 người tập nhạc Lâm Ấp ở vườn chùa Đại An ” (trong
883 bảng chỉ dẫn).
3.4
“ Múa
Bồ Đề
(Bosatsu),
Bạt Đầu (Batô) và nhạc Lâm Ấp (Rin’yu) ” :
Múa Bồ Đề là một điệu múa trong nhã nhạc của Đông Nam Á. Bồ Đề
là dịch âm chữ Hán của chữ Bodhi, tức là đạo, giác, tri để bỏ
hết phiền não và có được trí tuệ đúng đắn. Múa Bồ Đề và nhạc
Lâm Ấp có thể hiểu là những điệu múa Phật giáo mang tính cách
Lâm Ấp. Nhạc Lâm Ấp do Phật Triết mang sang Nhật cùng với Tiên
Na, chúng ta biết đó là những điệu múa mang mặt nạ có dáng vẻ
kỳ cục, dị thường. Vì Phật Triết và Tiên Na được xem là cha đẻ
của nhạc Lâm Ấp, năm 736 được xem là năm bắt đầu nhạc Lâm Ấp ở
Nhật. Ngày nay, múa Lâm Ấp và múa Bồ Đề không còn lại tất cả
những chi tiết, chỉ có múa Bạt Đầu là còn lại khá đầy đủ.
Múa Bạt Đầu là một điệu múa Thái Thực (Taishiki)
trong Đường nhạc. Múa một người (hitori-mai)
có 2 loại : múa bên trái và múa bên phải, như vừa múa vừa chạy
(hashiri-mai),
hoặc đôi khi như múa trẻ con (đồng
vũ).
Mặt nạ có mũi màu đỏ và màu đen, đầu tóc hình dạng ghê rợn,
tay mặt đánh trống, tay trái vừa múa vừa nắm tay. Tương truyền
điệu múa này được Phật Triết và Tiên Na đưa vào Nhật Bản từ
nhà Đường. Điệu múa đi từ “ Lâm Ấp loạn thanh ”
(Rin’yu
ranjô),
đó là những thanh âm “ đánh loạn lên ” nên còn gọi là “ cổ
nhạc loạn thanh ” (kogaku
ranjô).
Sáo là nhạc cụ chính yếu.
3.5
“ Không
biết ông mất và hưởng thọ bao nhiêu ”
: Vì Nhật Bản là quần đảo, di chuyển từ Nhật đến các nước khác
rất mực khó khăn, đặc biệt vào thời cổ đại. Bởi vậy, sau đại
lễ ở chùa Đông Đại, khó hình dung Phật Triết tìm đường về Lâm
Ấp (cho dù ông ta có về được) mặc dù ông biết quê ông đang có
chiến tranh. Tuy nhiên, vì sao người
ta lại
không biết ông mất khi nào, đặc biệt ông là người có địa vị ở
Nhật lúc bấy giờ ? Cái chết của ông là một nghi vấn lớn.
“ Ông viết Tất Đàm Chương
thứ nhất ” : Phật Triết có lẽ viết sách này bằng
chữ Hán. Dịch từ tiếng Phạn là
Siddham, “ Tất ”
là “ biết hết ” ; “ Tất Đàm ” là “ thành tựu ” hoặc “ hoàn
thành ”. Có
thể dịch là “ Tất Đàn ” (“ đàn ” như trong cây bạch đàn), hay
“ Tất Đàm ” (“ đàm ” như chữ “ đàm thoại ”). Việc tác giả qua
đời khi cuốn sách vừa mới viết chương “ thứ nhất ” của Chương
một dĩ nhiên là một điều đáng đánh dấu hỏi lớn.
Hè năm 1988, tình cờ tôi được mời nói chuyện ở trường Vạn Hạnh.
Trời hôm ấy mưa tầm tã. Giảng phòng chứa độ 150 người, người
đứng cũng nhiều. Trước khi chia tay, thầy T.M.C nói : “ Có cái
ông mô đó người Lâm Ấp, đóng góp chi về âm nhạc ở Nhật. Khi mô
có tài liệu chi thì coi dùm hí ”. Năm ngoái [2005], tôi tình
cờ tìm ra Phật Triết. Tôi vừa viết vừa nghĩ đến thầy.
Tháng 4, 2006
Vĩnh Sính
[1]
Mochizuki Bukkyô Daijiten,
Dai 5
kan. Hensan Daihyô: Tsukamoto Yoshitaka. Tokyo: Sekai Seiten
Kankôka, Shôwa 63 nen [1988].
[2]
Ryukoku Daigaku,
Bukkyô Daijiten,
vol. 6.
Tokyo: Tôsanbô, Shôwa 60 nen [1985].
[3]
Tăng Chính là chức quan lớn nhất trong tăng
lữ. Tăng Chính có 3 bực: Đại Tăng Chính, Tăng Chính, và Quyền
Tăng Chính.
[4]
Shoku-Nihongi,
vol. 18, 752 A.D.
|