|
VĨNH LONG
Nguyễn Thanh Liêm
Trong khi Sài G̣n Gia Định và các tỉnh Miền Đông Nam Phần đă
thuộc về Việt Nam từ giữa thế kỷ XVII th́ Vĩnh Long vẫn c̣n là
vùng đất hoang vu của một ít người Khmer sinh sống rải rác,
thưa thớt. Phải vào gần cuối thế kỷ này mới có một số người
Việt và người Hoa (Minh Hương) vào đây khai phá, trồng trọt,
sinh sống. Làng xă thành h́nh và phát triển nhanh theo nhịp độ
bành trướng về Phương Nam của người Đàng Trong và chính quyền
của triều đ́nh Nhà Nguyễn hồi đầu thế kỷ XVIII.
Năm 1732 lưu dân người Việt bị
quân Miên tấn công. Chúa Nguyễn là Ninh Vương Nguyễn Phúc Chu
cử Trương Phúc Vĩnh đem quân vào dẹp yên. Vua Chân Lạp là Nặc
Tha nhường Me Sa (Mỹ Tho) và Long Hồ cho Chúa Nguyễn. Chúa
Nguyễn lấy đất Long Hồ lập thành châu Định Viễn (Vĩnh Long) và
đặt dinh Long Hồ. Lỵ sở lúc này đặt tại Cái Bè, Mỹ Tho. Đất
Long Hồ (Vĩnh Long) chánh thức có mặt trong lănh thổ Việt Nam
kể từ đó.
Năm 1753 lại có binh biến do
người Chân Lạp hậu thuẫn bởi quân Xiêm sang đánh phá, chúa
Nguyễn Phúc Khoát sai Nguyễn Cư Trinh làm tham mưu đem quân
năm dinh (3 dinh trong Nam là Trấn Biên, Phiên Trấn và Long Hồ,
và 2 dinh ngoài Trung là B́nh Khương và B́nh Thuận) sang đánh
Chân Lạp. Vua Chân Lạp là Nặc Nguyên thua trận bèn dâng hai
phủ Tầm Bôn và Lôi Lạp (G̣ Công và Tân An) để cầu ḥa. Sau khi
b́nh định xong, Nguyễn Cư Trinh dời dinh Long Hồ qua xứ Tầm
Bào tức là tỉnh lỵ Vĩnh Long bây giờ. Vào thời đó, Long Hồ
dinh giử vai tṛ vô cùng quan trọng đối với việc bảo vệ và
phát triển Miền Tây Nam Phần. Về quân sự, Long Hồ dinh bao gồm
ba đạo (xem như ba khu chiến thuật) được thiết lập để bảo vệ
Tiền và Hậu Giang. Ba đạo này là Tân Châu Đạo (ở Cù Lao Giêng,
Tiền Giang), Châu Đốc Đạo, và Đông Khẩu Đạo ở Sa Đéc. Cùng với
ba đạo của dinh Long Hồ c̣n có hai đạo của Hà Tiên Trấn do Mạc
Thiên Tứ cai quản để phối hợp chống giử cả Miền Tây nước Việt.
Hai đạo (khu chiến thuật) của Hà Tiên Trấn là Kiên Giang Đạo (vùng
Rạch Giá) và Long Xuyên Đạo (vùng Cà Mau, An Xuyên ngày nay).
Về hành chánh th́ tất cả năm đạo kể trên đều thuộc Long Hồ
dinh và Vĩnh Long từ thuở đó được xem như là đầu năo của cả
Miền Tây Nam Phần cũng như Cần Thơ sau này vậy. Tây Đô hồi đó
là Vĩnh Long mà những di tích lịch sử, cũng như những anh hùng
liệt sĩ, những tài năng của vùng địa linh nhân kiệt này c̣n
sống măi trong ḷng người dân Nam Việt.
Từ thời Pháp thuộc sang đệ
Nhất và Đệ Nhị Cộng Ḥa, Bến Tre, Trà Vinh, Sa Đéc, Cần Thơ
lần lượt tách ra làm thành tỉnh mới, Vĩnh Long chỉ c̣n lại
phần đất nằm giữa Tiền Giang và Hậu Giang, tiếp giáp với các
tỉnh Tiền Giang (Định Tường) ở phía Bắc, Đồng Tháp (Kiến Tường)
ở phía Tây, Cần Thơ (Phong Dinh) ở phía Nam, và Trà Vinh (Vĩnh
B́nh) ở phía Đông, với diện tích 1, 478 cây số vuông và khoảng
1, 023, 400 dân số (theo thống kê năm 2002). Vĩnh Long nằm
giữa hai bến đ̣ nổi tiếng hồi xưa quen gọi là Bắc Mỹ Thuận và
Bắc Cần Thơ. Đây là vùng đất phù sa màu mở rất thích hợp với
lúa nước và các loại cây ăn trái, nhất là loại cây trái vùng
nhiệt đới nổi tiếng như sầu riêng, măng cụt, chơm chơm, ḅn
bon, ổi, xoài, mận, dâu, sa bô chê, vú sửa, v v . . .Cái Mơn
là nơi nổi tiếng về ươn cây mà các tỉnh lân cận thường đến đây
mua về trồng. Đây cũng là đất của nhiều nhân vật lịch sử nổi
tiếng của Miền Nam từ Nguyễn Cư Trinh, Tống Phước Hiệp, Châu
Văn Tiếp, Phan Thanh Giản, Petrus Trương Vĩnh Kư, Nguyễn Thông
đến các chính trị gia gần đây như Trần Văn Hương, Nguyễn Văn
Lộc, v v . . .Nhiều di tích lịch sử như thành xưa (Thành Long
Hồ), đồn xưa Đồn Cổ Chiên), lăng mộ (Lăng Hà Tiên, Mộ ba vị
công thần triều Nguyễn), những nơi có liên hệ đến Gia Long,
những chùa đền, miếu cổ như Chùa Di Đà, Miếu Quốc Công, Văn
Thánh Miếu, làm cho Vĩnh Long có nhiều nét văn hóa lịch sử
đáng kể. Các hoạt động nghệ thuật, tôn giáo, giáo dục có nhiều
nét độc đáo nói lên địa vị của một tỉnh thủ đô một thời nào.
Một trong những công thần
triều Nguyễn từng làm Lưu Thủ tại Long Hồ dinh thuở mới thành
lập là Tống Phước Hiệp. Ông là cháu Quận Công Tống Phúc Trị,
người huyện Tổng Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Đời Vơ Vương Nguyễn Phúc
Khoát, Tống Phước Hiệp được cử làm Lưu Thủ dinh Long Hồ. Ông
vô cùng tận tụy với chức vụ, hết sức lo lắng mưu cầu hạnh phúc
cho dân chúng, làm cho công cuộc trị an được vạn phần tốt đẹp.
Ông đă từng đem quân cứu viện giúp Mạc Thiên Tứ đánh đuổi quân
Xiêm trong nhiều trận chiến, gây tổn thất nặng nề cho quân
Xiêm, đem lại b́nh yên cho nhân dân. Ông bị bệnh, và từ trần
năm 1776, để lại bao nhiêu thương tiếc trong ḷng người dân
Long Hồ. Ông được triều đ́nh truy tặng Hữu Phủ Quốc Công, sắc
chỉ lập miếu thờ tại dinh Long Hồ. Ngài đă qui thần nhưng oai
linh hiển hách, dân chúng đất Vĩnh Long rất tin tưởng nơi Ngài.
Sống làm tướng, thác làm thần , từ trước tới nay người dân
luôn thờ phụng Ngài, nơi đền thờ Ngài lúc nào cũng khói hương
nghi ngút.. Ngày vía Tổng Quốc Công được tổ chức long trọng
hằng năm vào mùng 2 và mùng 3 tháng 6 âm lịch, có rước hát bộ
xây chầu. Tên Ngài đă được dùng làm tên trường Trung Học tỉnh
lỵ Vĩnh Long, một trường trung học to lớn, rất nổi tiếng ở
Miền Tây cũng như trường Phan Thanh Giản ở Cần Thơ hay trường
Thoại Ngọc Hầu ở Long Xuyên. Ở Mỹ (Nam Cali fornia) hội Ái Hữu
Tống Phước Hiệp đă được thành lập từ mấy năm nay, dưới sự
hướng dẫn của giáo sư Đào Khánh Thọ và giáo sư Vơ Thị Ngọc
Dung (hai vị đều là cựu giáo sư và cựu hiệu trưởng của trường),
qui tụ được nhiều người cựu học sinh, có tài đức, có thiện chí,
và có sự nghiệp đáng kể.
Một danh nhân đáng thương,
đáng kính nhất của đất Vĩnh Long là cụ Phan Thanh Giản. Tên
chữ là Tinh Bá và Đạm, hiệu là Lương Khê, biệt hiệu là Mai
Xuyên, cụ là vị Tiến Sĩ đầu tiên của Miền Nam. Tổ tiên cụ là
người Trung Hoa, cuối đời nhà Minh mới sang Việt Nam, trước ở
B́nh Định, sau này thân sinh của cụ vào Định Tường rồi qua
làng Bảo Thạnh, huyện Bảo An, tỉnh Bến Tre sinh sống. Cụ Phan
sinh năm 1796. Thân sinh là người giỏi chữ nho, đến Vĩnh Long
làm thư lại cho Nam triều, thường tải lương thực về Huế. Mẹ
mất sớm, cha bị vu cáo phải ở tù, Phan Thanh Giản phải sống
bần hàn, nhưng rất chăm chỉ học tập, được hàng xóm sẵn sàng
giúp đở. Năm 1825 Phan Thanh Giản đậu kỳ thi Hương ở Gia Định
và năm sau , 1826, đi thi Hội đậu luôn Tiến Sĩ ở Huế. Đậu xong
cụ được bổ nhiệm Hàn Lâm viện biên tu, làm việc tại Huế. Sau
đó đổi ra Quảng B́nh, rồi về Quảng Nam dẹp loạn. Lại về Kinh
làm ở Bộ H́nh, rồi làm Phó Sứ sang Trung Hoa. Cụ được triều
đ́nh ngợi khen về tài ngoại giao, được cử giử chức Kinh Lược
Sứ ở Trấn Tây (Cao Miên) rồi Bố Chánh Quảng Nam. Được vua tin
cậy bổ Đô Sát Viện Ngự Sử, sung chức Cơ Mật Viện Đại Thần. Năm
1861 sau khi Gia Định và ba tỉnh Miền Đông mất vào tay Pháp,
triều đ́nh sai Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp vào Nam thương
thuyết. Năm 1863 cụ Phan lại được triều đ́nh Huế cử hướng dẫn
phái đoàn hơn 50 người, với Petrus Kư làm thông ngôn, lên
đường sang Pháp thương thuyết để chuộc lại ba tỉnh Miền Đông.
Sau hơn hai tháng lênh đênh trên mặt bể, phái đoàn đă đến Pháp
và được vua Napoléon III của Pháp đón tiếp trọng thể. Cuộc
thương nghị bất thành nhưng phái đoàn Việt Nam cũng có cơ hội
được chứng kiến cảnh tiến bộ, phồn thịnh của xă hội Tây phương
lúc bấy giờ. Trở về Việt Nam cụ Phan được cử vào trấn nhậm
Miền Tây để giữ ba tỉnh c̣n lại. Nhưng không bao lâu các tỉnh
này cũng bị người Pháp chiếm nốt trước sự bất lực của triều
đ́nh Việt Nam, và nhất là trước cái đau vô cùng của Kinh Lược
Phan Thanh Giản. Không giữ thành được cho triều đ́nh và đất
nước quê hương cụ Phan uống thuốc độc (á phiện với giấm thanh)
tự tử. Cụ mất ngày mùng 5 tháng 7, năm 1867. Linh cửu được đưa
về làng Bảo Thạnh, Bến Tre. Các quan Nam và Pháp tới thăm ai
cũng ngậm ngùi mến tiếc. Tên tuổi của cụ c̣n sống măi với non
sông nhất là trong ḷng người dân Nam Việt . Tên cụ được dùng
làm tên trường Trung Học lớn ở Tây Đô : trường Trung Học Phan
Thanh Giản. Hiện nay hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Phan Thanh
Giản-Đoàn Thị Điểm đă được thành lập ở các nơi trên khắp thế
giới, qui tụ nhiều cựu học sinh, nhân tài của đất nước.
Một nhà bác học lừng danh của
Việt Nam hồi hạ bán thế kỷ XIX cũng là người con của đất Vĩnh
Long. Đó là Petrus Trương Vĩnh Kư mà tên người đă được dùng
làm tên cho trường Trung Học lớn vào bậc nhất và cũng nổi
tiếng vào bậc nhất ở Miền Nam : trường Petrus Trương Vĩnh Kư.
Trường nằm ngay tại Thủ Đô Sài G̣n. Nhà bác học Petrus Kư sinh
năm 1837 tại Cái Mơn, làng Vĩnh Thạnh, tổng Minh Lệ,
huyện Tân Minh, tỉnh Vĩnh Long (bây giờ thuộc tỉnh Bến Tre).
Lúc ông được ba tuổi th́ cha ông là Lănh Binh Trương Chánh Thi
bị bệnh chết trong khi đồn trú ở Nam Vang. Mẹ ông là bà Nguyễn
Thị Châu phải tảo tần nuôi con. Ông bắt đầu theo học chữ Nho
với một ông thầy đồ tên Học, người ở cùng xóm với gia đ́nh.
Petrus Kư rất thông minh, có trí nhớ siêu phàm, được thầy và
bạn xem như thần đồng. Một người bạn thân của gia đ́nh là cụ
Tám, một vị linh mục từng được ông Trương Chánh Thi che chở
cho trong khi có lệnh cấm đạo Thiên Chúa của triều đ́nh Huế,
thương t́nh cảnh bà Nguyễn Thị Châu, mới xin bà cho Petrus Kư
theo ông học chữ Quốc Ngữ và tiếng La Tinh. Không bao lâu sau
th́ cụ Tám mất và Petrus Kư được một linh mục người Pháp, có
tên Việt Nam là cố Long, đem về nuôi dưỡng cho tiếp tục học.
Nhưng lúc này chính sách cấm đạo của triều đ́nh Huế càng trở
nên vô cùng khắc nghiệt. Chỉ dụ Sát Tả ngày 14 tháng 8 năm
1848 dẫn đến những chiến dịch sát hại hết sức tàn bạo những
người giảng đạo cũng như những con chiên theo đạo Thiên Chúa.
Cố Long phải t́m cách gởi Petrus Kư lên Cao Miên vào chủng
viện Pinhhalu học thần học và triết học bên đó. Năm 15 tuổi
ông tốt nghiệp ở đây với vị thứ cao nhất, xuất sắc nhất. Ông
cùng hai người nữa được chọn lựa để vào học chủng viện Giáo
Hoàng (Collège Constantinien) ở đảo Penang. Trong thời gian
học ở Penang sự hiểu biết của Petrus Kư càng được mở mang rộng
răi. Nhờ thông minh lại có trí nhớ dai, ông học một biết mười.
Ông thường đến thư viện ngoài giờ học, đọc đủ thứ sách Hán,
Anh, La Tinh, Hy Lạp, Ư, Pháp, v v . . .thu nhận rất nhiều
những kiến thức Đông, Tây, kim cổ. Năm 1858 ông tốt nghiệp
khóa học ở Penang, với vị thứ cao nhất trong số 300 chủng sinh
ra trường. và được lựa chọn để đưa đi La Mả học làm linh mục.
Nhưng Petrus Kư từ chối, không đi La Mả mà lại xin trở về Việt
Nam để chịu tang mẹ vừa mất hồi năm trước. Hai năm sau, do sự
tiến cử của linh mục Lefebvre, ông ra làm thông ngôn cho Pháp.
Từ đó ông được cử đi thông dịch trong những cuộc tiếp xúc quan
trọng giữa Pháp và triều đ́nh Huế. Quan trọng nhất là lần ông
tháp tùng sứ bộ Phan Thanh Giản sang Pháp triều kiến vua Nả
Phá Luân Đệ Tam tại diện Tuileries ngày 5 tháng 11 năm 1863.
Ông đă làm cho nhà vua và triều thần hết sức ngạc nhiên về sự
am tường tiếng Pháp của một người Việt Nam hồi thời bấy giờ.
Chuyến đi này cũng là dịp để ông thăm viếng, học hỏi để hiểu
biết thêm về một số các nước Âu Châu và nền văn minh của họ
như Pháp, Ư, Tây Ban Nha, và nhất là được tiếp kiến Đức Giáo
Hoàng và làm quen với một số văn thi sĩ học giả nổi tiếng của
Pháp như Victor Hugo, Littré, Duruy, Renan, và khoa học gia
Paul Bert. Kiến văn sẳn có của ông càng được mở rộng thêm
trong chuyến công du này.
Từ năm 1864 đến năm 1868 ông làm giám đốc và đi dạy tiếng Đông
Dương cho người Pháp ở trường Thông Ngôn (Collège des
Interprètes). Từ 1868 tờ Gia Định báo được giao cho Petrus Kư
quản đốc. Với công tŕnh xây dựng Gia Định Báo có thể xem như
Petrus Kư là người đầu tiên làm báo bằng chữ Quốc Ngữ ở Việt
Nam. Năm 1872 ông được bổ làm thơ kư Hội Đồng Thành Phố Chợ
Lớn và năm sau được mời dạy Hán văn và Việt văn ở trường Tham
Biện Hậu Bổ (Collège des Stagiaires). Năm 1874 ông được đề cử
tham dự giải thưởng “Toàn Cầu Bác Học Danh Gia” và đă đoạt
được giải thưởng với hạng thứ 17 trong số 18 văn hào đoạt giải
“Thế Giới Thập Bát Văn Hào.” Năm 1875 ông được cử làm chánh
đốc học trường Hậu Bổ và năm 1878 được biệt phái ra Bắc Kỳ
trong ba tháng để nghiên cứu về t́nh h́nh chính trị ở đó. Đây
là cơ hội để ông thăm viếng các di tích lịch sử và t́m hiểu về
đời sống của người dân Bắc Việt. Tập hồi kư “Chuyến Đi Bắc Kỳ
năm Ất Hợi” là kết quả của chuyến công du này. Sau đó ông được
cử vào Hội Đồng Thành Phố Sài G̣n, Hội Đồng Học Chánh Thuộc
Địa, và được bổ làm Officier d’Académie (1883). Do sự trọng
dụng của Toàn Quyền Paul Bert, năm 1886 Petrus Kư được cử làm
việc trong Cơ Mật Viện bên cạnh triều đ́nh Huế, dạy tiếng Pháp
và chữ Quốc Ngữ cho vua Đồng Khánh, được vua phong làm Hàn Lâm
Viện Thị Giảng Học Sĩ. Ở Huế ít lâu Paul Bert chết và ông lấy
cớ đau yếu xin cáo từ trở về Nam. Ông tiếp tục làm việc cho
Soái Phủ Sài G̣n và làm giáo sư thổ ngữ Đông phương, dạy chữ
Hán và tiếng Cao Miên tại trường Hậu Bổ. Liên Hiệp Đông Dương
ra đời năm 1887 bao gồm Nam Kỳ, Trung Kỳ, Bắc Kỳ và Cao Miên.
Năm sau khoảng tháng tư năm 1888 ông được phái đi công cán tại
Vọng Các về vấn đề ranh giới giữa Thái Lan và các nước Đông
Dương ở tả ngạn sông Cửu Long. Trường thông ngôn đóng cửa ông
chỉ c̣n đi dạy tại trường Hậu Bổ và dành nhiều th́ giờ cho
việc nghiên cứu, viết lách, biên soạn sách vở để xuất bản. Năm
1888 ông tự bỏ tiền ra xuất bản tạp chí Thông Loại Khóa Tŕnh,
một tạp chí chú trọng nhiều về văn hóa, giáo dục có tính cách
nhân bản, dân tộc, và khai phóng. Vào những ngày gần cuối đời,
ông sống trong cảnh nghèo túng, không c̣n lương hướng ǵ để
sống, lại thêm tốn tiền in ấn, sách báo bán không được, nợ nần
chồng chất. Nhưng ông vẫn say mê viết lách, ông làm việc quá
nhiều, lao tâm, khổ trí, sức khỏe suy giảm nhanh v́ bệnh hư
khí huyết. Ngày 1 tháng 9 năm 1898 Petrus Kư trút hơi thở cuối
cùng tại nhà riêng ở Chợ Quán, hưởng thọ 61 tuổi, để lại cho
đời một công tŕnh văn hóa lớn lao bằng chữ Quốc Ngữ, và một
nền học thuật mới dung ḥa trí thức với đạo đức, tổng hợp khoa
học kỷ thuật Tây phương với luân lư đạo đức Á Đông. Petrus Kư
có cái vốn kiến thức thật sâu xa rộng răi, và rất hiện đại,
hơn tất cả những nhà nho cùng thời với ông, nhất là những kiến
thức khoa học cùng những phương pháp nghiên cứu, phân tích,
suy luận khoa học của Tây phương mà hầu hết những nhà trí thức
Việt Nam hồi thời này chưa ai có hay chưa ai biết. Nói đến
Petrus Kư là phải nói đến vai tṛ “khai đường mở lối” của ông
trên các địa hạt như (1) dùng chữ Quốc Ngữ thay thế chữ Nôm và
chữ Hán trong việc biên khảo, trước tác, (2) viết câu văn xuôi
thay lối văn biền ngẫu của các nhà nho, (3) xây dựng nền học
thuật mới tổng hợp văn hóa Á Đông và văn minh Tây phương thay
thế nền học thuật cũ của nho gia, và(4) làm báo theo đúng ư
nghĩa một tờ báo bây giờ.
Trên thế giới hiện giờ có nhiều hội Ái Hữu Cựu Học Sinh Petrus
Kư như Hội Petrus Kư Bắc Cali, Hội Petrus Kư Nam Cali, Hội
Petrus Kư Âu Châu, Hội Petrus Kư Úc Châu, v v . . .qui tụ rất
nhiều giáo sư, nhân viên, cựu học sinh và thân hữu. . .
Vĩnh Long c̣n nhiều danh nhân nữa nhưng khuông khổ của bài này
không cho phép ghi ra hết, xin hẹn vào những dịp khác. Bên
cạnh các danh nhân, Vĩnh Long có nhiều di tích lịch sử đáng
nói. Một trong những di tích đó là Văn Thánh Miếu, xem như một
trong những di tích lịch sử xưa nhất của đất Vĩnh Long. Miếu
được thành h́nh do công của Đề Học Nguyễn Thông, người đă đứng
ra xây cất để thờ Đức Khổng Tử và các bậc hiền triết. Khởi
công từ năm 1864, Văn Miếu được hoàn tất vào năm 1866, bao gồm:
(1) một chánh điện thờ Đức Khổng Tử, với hai bên Tả Ban và Hữu
Ban thờ Tứ Phối và Thập Triết, (2) hai miếu nhỏ hai bên gọi là
Tả Vu và Hữu Vu, thờ thất thập nhị hiền, và (3) Văn Xương Các
trước Văn Thánh Miếu, trên lầu thờ Văn Xương Đế Quân, dưới lầu
thờ Vơ Trường Toản và cụ Phan Thanh Giản. Phía ngoài có đôi
liễn:
“Hoàng phong xử sĩ thanh cao lăo,
Tự hiệu thư sinh tiết liệt thần”
Câu trên nói về Vơ Trường Toản là một cụ già thanh cao, không
chịu ra làm quan, ở ẩn dạy học, được vua Gia Long cho là “Sùng
Đức Xử Sĩ.” Câu dưới nói về cụ Phan Thanh Giản, một bề tôi
tiết liệt, nhưng khi gần chết dặn người sau chỉ ghi câu “lăo
thư sinh” (học tṛ già) mà thôi. Lús sinh tiền, khi làm Kinh
Lược Vĩnh Long, cụ Phan thường cùng Đề Học Nguyễn Thông nhóm
họp các văn nhân thi sĩ tại Văn Thánh Miếu, đọc sách, làm văn.
Thượng Thư Bộ Học Bộ Trưởng Bộ Giáo Dục) đời vua Duy Tân, có
viếng Văn Thánh Miếu, và nhân đó có đề đôi liễn:
“Xuân Thu hà đẳng càn khôn, đạo tại ngũ kinh song nhật
nguyệt,
Thù Tứ biệt thành vơ trụ, đồ qua lục tỉnh nhất cung
tường.”
(Đời Xuân Thu trời đất bậc nào, đạo ở năm kinh đôi nhật nguyệt,
Sông Thù, Tứ cơi bờ riêng đó đường qua sáu tỉnh một cung
tường)
Có những giai thoại gắn liền với những địa danh đặc biệt nổi
tiếng ở Vĩnh Long xưa như sông Cổ Chiên chẳng hạn. Sông Cổ
Chiên ở Vĩnh Long là nơi từng xăy ra nhiều trận hải chiến lịch
sử giữa quân ta và quân Xiêm, quân ta và quân Chân Lạp, và
giữa quân Tây Sơn và quân Nguyễn Ánh. Không biết bao nhiêu
binh sĩ đă phải bỏ ḿnh nơi đây, v́ vậy mà từ xưa thường hiển
hiện nhiều điều quái dị. Có những ma quỉ hiện về làm cho ghe
thuyền qua lại vùng này hết sức kinh dị. Có người bảo đó là
oan hồn các chiến sĩ trận vong, uất hận v́ bị thảm tử trong
các trận ác chiến chưa được siêu sinh. Vậy phải lập đàn cầu
siêu cho các vong linh để cho vùng này được yên ổn. Dân chúng
nghe theo, lập đàn cầu siêu cho các oan hồn. Từ đó yên ổn,
không c̣n bóng h́nh ma quái nữa. Nhưng cũng từ đó lại sinh ra
những tiếng động lạ lùng như vang lên từ dưới đáy sông, nghe
kỷ th́ như tiếng chuông, tiếng trống vang dội ầm ĩ. Nhiều
người lắng nghe và cùng có cảm giác như tiếng trống giục,
tiếng chiêng khua trong những trận thủy chiến hải hùng. Từ đó
người ta gọi sông này là sông Cổ Chiên là v́ vậy. Cổ là trống,
Chiên có lẽ là Chiêng, tức là tiếng chiêng, tiếng trống vang
dầy. Một giai thoại khác cũng rất đặc biệt, có liên hệ tới
danh xưng Long Hồ. Ở Vĩnh Long có một nơi mà Tiền Giang và Hậu
Giang cùng mấy sông khác tiếp nối nhau làm cho nước xoáy ṿng
và người địa phương ở đây đặt tên chổ đó là Hồi Oa, tức là nơi
Nước Xoáy. Người ta kể là hồi năm 1787 dân chúng ở Hồi Oa xôn
xao về tin Thánh Giá (Nguyễn Ánh) sẽ ngự đến đây và như vậy
chắc chốn này không tránh được nạn đao binh (giữa Tây Sơn và
Nguyễn Ánh). Ít lâu sau Nguyễn Ánh đến thật, và nhà vua đă
chiêu dụ được nhiều người trong vùng, gây nhiều cảm t́nh trong
dân chúng, được mọi người hết ḷng pḥ giúp. Nguyễn Ánh cho
xây đắp thành đất ở đây hai bên có lập đồn pḥng thủ. Binh Tây
Sơn nhiều lần tiến đánh nhưng không thắng nổi đành phải rút
quân. Nguyễn Ánh xem đây là đất hưng vượng bèn cho đổi tên Hồi
Oa thành ra Long Hưng. Các vùng gần đó đều đổi tên có chữ Long
đứng đầu như Long Ẩn, Long Thắng, Long Hậu, v v . . . Con sông
Long Hồ trước kia mang tên Chân Lạp là Tầm Vồ cũng theo xu
hướng chung đó mà đổi là sông Long Hồ. Đêm đêm người ta c̣n
nghe các cô gái chèo ghe ngâm :
“Tầm Vồ rày đă đóng đô,
Xin quan đổi lại Long Hồ
cho xinh”.
Vĩnh Long có cù lao (hay Cồn) Tân Phong,
thuộc quận Chợ Lách, rất nổi tiếng về sản xuất ốc gạo. Cồn
Tân Phong nằm giữa ḍng sông, dài khoảng 3 km, ngang chừng 1,5
km. Ở đây ốc gạo sản sinh nhiều và nhanh, chỉ 3 tháng là ăn
được. Mùa ốc gạo là từ tháng 3 đến tháng 6, đặc biệt trong
tháng 5 là ốc ngon nhất. Đồng bào Tân Phong thường bắt ốc gạo
ban đêm để sáng hôm sau bán ở chợ Cái Bè, Mỹ Tho. Muốn bắt ốc
gạo người ta phải lặn xuống đáy sông (ở những nơi sông không
sâu), cào ốc vào rổ rồi chuyển cho tốp người khác đem lên bờ.
Phần đông là phụ nữ làm các công việc vận chuyển trên bờ. Ở
những nơi sâu người ta phải dùng vợt bằng giây gai lặn xuống
xúc ốc lên đổ ngay lên ghe đậu gần bên. Ngày xưa khi chưa có
cầu, mỗi lần qua Bắc Mỹ Thuận người ta thường thấy nhiều người
bán ốc gạo. Đó là ốc gạo sản xuất ở Cù Lao Tân Phong. Cũng ở
Bắc Mỹ Thuận du khách có thể thưởng thức nhiều món ăn độc đáo
cũng như những thứ trái cây đặc biệt của vùng : các loại chim
nướng thơm ngon, ổi xá lị to tướng mát rượi. Ngày nay Bắc Mỹ
Thuận không c̣n. Chổ này bây giờ là một cây cầu rất hiện đại
giúp việc lưu thông từ Miền Đông qua Miền Tây (hay ngược lại)
hết sức dễ dàng tiện lợi. Nhưng những người của các thế hệ lớn
tuổi hơn, có những hiểu biết về Bắc Mỹ Thuận, chắc không khỏi
ngậm ngùi luyến tiếc một số kỷ niệm vui buồn nào đó về bến đ̣
Mỹ Thuận của năm xưa.
Một nhà tu người Vĩnh Long có bài thơ về
tỉnhVĩnh Long và 7 quận của tỉnh này (quận Châu Thành, quận
B́nh Minh, quận Tam B́nh, quận Chợ Lách, quận Trà Ôn, quận
Vũng Liêm, và quận Minh Đức) trong khi nhà sư đi vân du các
nơi. Người viết xin phép trích dẫn những đoạn diễn tả độc đáo
về vùng địa lư này để kết luận cho bài viết.
« Vĩnh Long cảnh đẹp người xinh,
Quyện ḷng du khách gợi t́nh nước non!
(quận Châu Thành)
Có ai về đến Vĩnh Long
Cho tôi nhắn gởi đôi ḍng nhớ thương!
Nhớ Long Hồ, nắng hai sương
Nhớ thuyền đủng đỉnh ngược đường Cổ Chiên.
Thương cụ Phan lấy bút nghiên,
Chống quân xăm lược , đoạt miền Đông Nam.
Thêm vào đấy những danh lam,
Tân kỳ, cổ kính, ḷng làm sao quên?
Miếu Tổng Quốc Công hương ngút tỏa,
Tám lăm (85) lá sắc miếu công thần
Ngàn năm “Văn Thánh” trơ sương tuyết
Di Lặc tươi cười rạng ư dân. . . .
(quận B́nh Minh)
Ba Càn phát xuất nhiều tôm cá
Chim chuột, bắp dưa, bưởi, mận, cam
Du khách thương hồ hay ngoại quốc
Về rồi vẫn nhớ món chim ram.
Sông Hậu hai bờ cây trái thanh,
Nối liền chiếc Bắc đượm t́nh duyên
Phần đông tín ngưởng theo tôn giáo
Hoa Việt thêm vào Việt gốc Miên. . . .
(quận Tam B́nh)
Tam B́nh giáp với Trà Vinh
Sống về ruộng rẫy, dân t́nh hiền lương. . .
(quận Chợ Lách)
Quận Chợ Lách nhiều vườn cây ăn trái
Giáp Cái Mơn, Kinh Xáng một con đ̣. . .
Tân Phong ốc gạo nhiều như gạo
Tựa thế Ba Càn có ốc cao.
(quận Trà Ôn)
Nước ngọt quanh năm, nhiều Cá Cháy
Sùng Nho, sùng Đạo, sống hiền lương
Có Lăng Thống Chế tên Điều Bác
Pḥ hộ dân cư được cát tường. . .
(quận Vũng Liêm)
Đất có ph́ nhiêu cây trái ngọt
Nửa phần làm ruộng, nửa làm vườn. . .
(quận Minh Đức)
Sinh hoạt đủ ngành người tấp nập
Chuyên về ruộng rẫy, sống quân b́nh
Những cô thôn nữ bên ḍng nước
Mơ bóng t́nh quân, hưởng thái b́nh.
Vĩnh Long tiền ruộng, bạc sông
Mái chèo khoan nhặt, bóng hồng thướt tha
Nụ cười chào khách gần xa
Hẹn ngày trỗi hát bài ca thanh b́nh.
(Lưu niệm ngày dừng chân nơi 7 quận Vĩnh Long)
Thượng Tọa Giác Huệ
Nguyễn Thanh Liêm
(Non Sông Gấm Vóc)
|