|
Bác Sĩ Trần Mạnh Ngô
- Khi gặp một bệnh nhân Mỹ gốc Á Châu muốn
xin thử máu tổng quát th́ nên thử nghiệm thêm truy tầm viêm
gan A, B, và C. Thử máu bao gồm truy tầm kháng thể viêm gan
A, kháng thể viêm gan C. Riêng phần viêm gan B gồm có HBsAg
(hepatitis B Surface Antigen), HBsAB (hepatitis B surface
antibody).
Thử nghiệm HBcAb không nằm trong thử nghiệm truy tầm viêm
gan B, nhưng là muốn t́m hiểu: liệu bệnh nhân trong quá khứ
đă từng bị viêm gan B? Nếu kết quả thấy bệnh nhân có dương
tính thử nghiệm HBsAg, tức là bệnh nhân bị siêu vi trùng
viêm gan B kinh niên (măn tính). Những thử nghiệm tiếp nối
sẽ là: đếm số lượng HBV DNA. Mục đích muốn biết sức sinh sản
siêu vi trùng viêm gan B.
C̣n thử nghiêm HBeAg và HBeAb giúp định bệnh nhân thuộc loại
HBeAg dương tính (wild type viêm gan B măn tính) hay loại
sớm đột biến HBeAg âm tính (precore mutant varieties). Mục
đích xác định dương hay âm tính HBeAg là giúp tính toán thời
gian điều trị viêm gan B măn tính. Đo lường phân hóa tố ALT
và AST là để t́m hiểu độ viêm của gan do siêu vi trùng viêm
gan B gây ra. Bệnh nhân có thể bị nhiễm siêu vi trùng viêm
gan B nhưng không phát hiện triệu chứng.
Bởi vậy khi bệnh nhân gốc Á Châu muốn thử máu tổng quát th́
cần truy tầm thêm viêm gan, là bởi ở giai đoạn này triệu
chứng viêm gan B có thể chưa xuất hiện. Muốn biết diễn biến
viêm gan B ra sao th́ phải đếm HBV DNA. Sinh thiết gan giúp
bác sĩ định đoạt viêm gan hay chai gan. Tuy nhiên, không
nhất thiết bất cứ ai cũng phải làm sinh thiết. Bệnh nhân
viêm gan B có số lượng HBV DNA cao và ALT b́nh thường phải
làm sinh thiết gan. Bệnh nhân có lượng HBV DNA cao nhưng ALT
b́nh thường vẫn có nguy cơ chai gan và viêm gan, cần điều
trị.
Theo FDA th́ hiện giờ có 5 thứ thuốc được phép điều trị viêm
gan B:
1) interferon-alpha-2b,
2) lamivudine (Epivir-HBV),
3) adefovir divipoxil (Hepsera),
4) entecavir (Baraclude) và
5) peginterferon-alpha-2a.
Ngoài ra, bệnh nhân cần truy tầm ung thư gan. Thường truy
tầm ung thư gan bằng siêu âm. Có thể đo alpha fetoprotein
nhưng không đặc thù. (Reference: Family Practice
Recertifiation, April 2006).
Thêm những nghiên cứu Chăm Sóc Lâm Sàng Bệnh Nhân Viêm Gan
B:
1. Cuộc hội thảo do FDA vừa đề ra ngày April 8, 2006, tại
NIH Campus, Bethesda, Maryland, bao gồm những vấn đề sau đây
trong việc điều trị bệnh nhân viêm gan B:
a) Viêm gan B vẫn c̣n là bệnh gây tàn phế và tử vong cho
người Mỹ và nhiều dân tộc khác trên thế giới,
b) Đề tài nhắm vào siêu vi trùng B sinh sản và và diễn biến
kinh niên hay măn tính.
c) Miễn dịch viêm gan B,
d) Phản ứng tương tác giữa siêu vi trùng viêm gan B và cơ
thể bệnh nhân,
e) Những thử nghiệm thuốc mơí điều trị viêm gan B.
2. Trong Hội Thảo lần thứ 41 tại Hội Họp Bệnh Gan, Âu Châu,
2006, cho biết hiện nay có 3 trong 5 thứ thuốc trị viêm gan
B măn tính được chú ư nhiều nhất: adenovir, entecavir, và
peginterferon alfa-2a.
Kết quả những nghiên cứu cho thấy càng điều trị viêm gan B
kinh niên lâu bao nhiêu càng có hậu quả tốt bấy nhiêu, đặc
biệt nhắm vào 3 thuốc an toàn như adenovir, entecavir và
peginterferon- alfa-2a. Điều trị viêm gan B măn tính là để
ngừa biến chứng chai gan và ung thư gan. Vài kiểu mẫu điều
trị hiện thời là phải lưu ư ngăn chặn triệt để HVB DNA, càng
mạnh, càng lâu, càng tốt. Nhiều thuốc mới khác đang trên đà
thử nghiệm.
Ngừa Nhiễm Siêu Vi Trùng Viêm Gan B
Cơ Quan Chích Thuốc Pḥng Ngừa và Cơ Quan Pḥng Bệnh Hoa Kỳ
vừa đưa ra khuyến cáo mơí pḥng ngừa bệnh viêm gan B cho
người Mỹ. Trước hết là tất cả mọi phụ nữ khi mang bầu có
nguy cơ bệnh viêm gan B, đều phải chích ngừa.
Những phụ nữ trước đó giao hợp với một người khác, đă từng
truy tầm và điều trị bệnh phong t́nh, hay người t́nh bị viêm
gan B kháng nguyên dương tính, đều phải chích ngừa viêm gan
B. Ngoài ra c̣n phải chỉ dẫn cho bệnh nhân viêm gan B cách
tránh lây bệnh cho người khác.
Tất cả mọi trẻ em sống ở Mỹ đều phải chích ngừa viêm gan B.
Trẻ em mới sinh có cân lượng trên 2,000 grams, có mẹ sản phụ
bị dương tính kháng nguyên viêm gan B, đều phải chích ngừa
viêm gan B, trước khi xuất viện.
Tùy theo từng trựng hợp, chẳng hạn nếu trẻ có cân lượng
chưa tới 2,000grams hay người mẹ có viêm gan kháng nguyên âm
tính, có thể chờ chích ngừa sau khi ra khỏi bệnh viện. Bác
sĩ cần viết giấy ghi rơ trẻ sơ sinh phải chích ngừa sau khi
xuất viện và phải có bản chính kết quả thử nghiệm chứng nhận
người mẹ có kháng nguyên viêm gan B âm tính. Trẻ em chích
ngừa viêm gan B sau khi xuất viện không được quá 2 tháng sau
khi sinh. Chích ngừa viêm gan B riêng rẽ hay tổng hợp với
thuốc chích ngừa khác phải ghi rơ vào sổ, đặc biệt mũi chích
cuối cùng phải quá 24 tháng. Phải chích ngừa 4 mũi theo thớ
gian liên tục, nhưng mũi thuốc đầu tiên sẽ chích khi trẻ sơ
sinh c̣n nằm trong nhà thương và mũi cuối có thể chích trong
ṿng 6 tơí 12 tháng sau khi sinh, đặc biệt trong trường hợp
bệnh nhân c̣n nhỏ sống trong vùng có nguy cơ cao nhiễm siêu
vi trùng viêm gan B. Thí dụ dân bản xứ Alaska, dân sống
quanh vùng đảo Thái B́nh Dương hay những di dân gốc Á Châu,
Phi Châu hay bất cứ di dân từ những vùng nào khác có tỉ lệ
nhiễm viêm gan B cao.
Phải chích ngừa viêm gan B cho trẻ em và thiếu niên dưới 19
tuổi nếu trước đây chưa từng được chích ngừa viêm gan B.
(American Family Physicians, 73: 1839, 2006).
Trần Mạnh Ngô, M.D., Ph.D., F.A.A.F.P.; Điện Thoại: (714)
547-3915;E-mail: nmtran@hotmail.com; Y Dược Ngày Nay:
www.yduocngaynay.com
SỐNG CHUNG
VỚI NGƯỜI BỊ VIÊM GAN
BS.
ĐÀO HỮU ANH
Hiện nay bệnh viêm
gan A, B, C, D và E đă lan tràn khắp nơi, nhất là ở các
nước châu Á, trong đó có Việt Nam. Theo kết quả điều tra
của Bệnh viện Bạch Mai - Hà Nội, cả nước ta đă có khoảng
10 triệu người mắc bệnh viêm gan siêu vi, chiếm tỷ lệ 1/8
dân số. V́ đa số bệnh nhân viêm gan tuy có bệnh, nhưng
không hề có biểu hiện đau đớn, nên họ có thể tiếp tục làm
lây bệnh cho người khác khá dễ dàng.
ĐẶC ĐIỂM CỦA BỆNH VIÊM GAN
- Tùy theo từng loại vi khuẩn viêm gan,
bệnh sẽ lây truyền qua nhiều phương thức khác nhau.
- Thông hiểu được những phương thức lây bệnh và cách điều
trị bệnh viêm gan là điều kiện tiên quyết để có thể sống
chung với người bị viêm gan.
- Tự t́m cách chữa viêm gan, hoặc theo những phương thức
chưa được chấp thuận bởi Bộ Y tế có thể làm lá gan hư hại
một cách nhanh chóng hơn.
- V́ bệnh AIDS cũng lây qua máu và quan hệ t́nh dục, nên một
số bệnh nhân viêm gan, nhất là viêm gan B và D cũng có thể
bị nhiễm thêm HIV.
Tuy viêm gan siêu vi là bệnh truyền nhiễm, nhưng bệnh không
nguy hiểm như AIDS hoặc tạo cảm giác ghê sợ như bệnh phong.
Bệnh không có đặc tính “di truyền”, nên anh chị em trong nhà
không nhất thiết phải mang cùng một căn bệnh. Tùy theo từng
loại vi khuẩn khác nhau, bệnh có thể lây từ người này qua
người kia bằng cách này hoặc cách khác. V́ thế, khi sống với
người bị viêm gan, không những chúng ta phải biết cách giúp
đỡ người bệnh vượt qua những khó khăn, mà c̣n phải thông
hiểu những cách thức bảo vệ cho chính ḿnh.
1. Bệnh viêm gan A rất dễ lây (do
lây qua đường tiêu hóa). Bệnh dễ lây nhất là vào
một vài tuần trước khi bệnh nhân có những triệu chứng của
viêm gan cấp tính. Nhưng khi da và mắt trở nên vàng th́ bệnh
không c̣n mang tính truyền nhiễm, tiếp xúc với người bệnh
lúc này không nguy hiểm nữa. Nói cách khác, bệnh chỉ dễ lây
trong thời gian ủ bệnh.
Có thể tiêm ngừa một cách dễ dàng bệnh viêm gan A. Ngoài ra
do đa số chúng ta đều đă tiếp xúc với vi khuẩn viêm gan A
trong quá khứ nên cơ thể đă có kháng thể chống lại vi khuẩn
viêm gan A. Điều này có nghĩa chúng ta đă được miễn nhiễm vi
khuẩn viêm gan A.
2. Bệnh viêm gan B lây qua máu và đường t́nh dục (nên
khó lây hơn bệnh viêm gan A). Thuốc tiêm ngừa
viêm gan B rất hiệu nghiệm và an toàn nên chúng ta cần
tiêm càng sớm càng tốt. Ngay cả những phụ nữ đang có thai,
nếu chưa được miễn nhiễm cũng nên tiêm ngừa để tránh t́nh
trạng bị viêm gan B cấp tính trong thời gian nguy hiểm này.
Đa số phụ nữ trong thời kỳ thai nghén, nếu chẳng may bị
bệnh viêm gan B cấp tính vẫn có thể “lướt” qua một cách dễ
dàng, và bệnh cũng không trở nặng hơn so với người b́nh
thường không mang thai.
3. Không nên giao hợp khi người phụ nữ mắc bệnh
viêm gan C đang hành kinh. Nếu người phụ nữ viêm
gan C đang có kinh, sau khi tắm xong, nên giội nhiều nước
để rửa sạch một số giọt máu nhỏ có thể dính dưới sàn; Hoặc
dùng xà-bông lau nhà hay các loại thuốc “xịt” khử trùng
sau khi bước ra khỏi pḥng tắm.
4. Nên dự trữ một ít găng tay khám bệnh
trong nhà, để đề pḥng trường hợp phải chăm sóc những vết
thương của bệnh nhân viêm gan B và C.
5. Phương pháp hữu hiệu nhất hiện nay để pḥng
ngừa bệnh viêm gan B và D là chủng ngừa, v́ vậy
ta nên đi tiêm ngừa càng sớm càng tốt. Nếu có một trong
những người thân đang bị viêm gan B, nên định lượng HBsAB
(HBsAB titer) trong máu, trường hợp định lượng cao hơn 10
IU/L, tức là đă được miễn nhiễm cho cả hai bệnh viêm gan B
và D.
6. V́ viêm gan B, C, D gần như không bao giờ lây
qua mồ hôi và nước bọt nên những tiếp xúc, va
chạm hàng ngày với bệnh nhân không nguy hiểm lắm. Chúng ta
vẫn có thể ăn uống chung hoặc chấm chung một chén nước mắm
với họ mà không sợ bị lây bệnh. Do đó không cần phải cô
lập hóa bệnh nhân viêm gan. Bắt họ nấu nướng riêng hoặc
dùng những chén bát riêng là một điều phi lư, thiếu hiểu
biết về khoa học.
7. Viêm gan E lây qua thức ăn và nước uống ô nhiễm
bởi vi khuẩn. Khác với viêm gan A, bệnh vẫn có
thể tiếp tục lây trong nhiều tuần lễ, sau khi người bệnh
đă phát ra những triệu chứng viêm gan cấp tính. V́ số tử
vong cho cả mẹ lẫn bé sơ sinh có thể tăng lên rất cao,
nhất là trong 3 tháng cuối của thai kỳ, do đó những phụ nữ
đang mang thai phải rất thận trọng về vấn đề vệ sinh nếu
trong nhà có người đang bị viêm gan E.
Một khi gan đă bị chai, bệnh sẽ tiếp tục phát triển ngày
một nhanh hơn. Đây là thời gian “không c̣n thuốc chữa”,
tất cả mọi nỗ lực trị bệnh chỉ nhằm tŕ hoăn và thuyên
giảm những biến chứng của chai gan. Trong thời điểm này,
tất cả các thuốc, ngay cả những thuốc thiên nhiên từ cỏ
cây, nếu uống không đúng cách hoặc quá nhiều đều có thể
làm bệnh trở nên trầm trọng hơn.
BỆNH VIÊM GAN VÀ BỆNH AIDS
V́ cách thức lây nhiễm viêm gan B và AIDS tương tự nhau,
nên một số bệnh nhân đă bị lây cả 2 bệnh này cùng lúc, khi
dùng chung kim tiêm hoặc giao hợp với người có bệnh. Hiện
những trường hợp này đang tăng nhanh một cách đáng ngại.
Bệnh nhân bị viêm gan B và C, nếu bị lây thêm AIDS sẽ dễ
tử vong hơn. V́ vi khuẩn viêm gan, cộng với sự “tiếp tay”
của HIV có thể sẽ tàn phá gan một cách nhanh chóng. Bệnh
nhân cũng dễ bị nhiễm trùng và ung thư hơn. Do đó việc
sống chung với bệnh nhân viêm gan mang HIV trong người sẽ
nguy hiểm hơn gấp nhiều lần.
Tóm lại, khi sống với bệnh nhân viêm gan, chúng ta cần
hiểu rơ chứng bệnh của họ. V́ đây không phải là bệnh nan y
và không dễ lây như cảm cúm, nên không cần phải xa lánh
hoặc bắt họ ăn uống, nấu nướng riêng biệt. Nếu chưa được
miễn nhiễm, nên tiêm ngừa viêm gan B càng sớm càng tốt. Do
hiện nay chưa có thuốc tiêm ngừa viêm gan C, nên bằng mọi
cách phải tránh tiếp xúc một cách trực tiếp với máu của
bệnh nhân.
Một trong những ghi nhớ quan trọng nhất khi hành nghề y là
“nếu không chữa được, xin đừng phá thêm”, lời khuyên này
rất đúng cho những ai đang chăm sóc bệnh nhân viêm gan măn
tính. Bởi nhiều khi v́ ḷng tốt, chúng ta vô t́nh sẽ làm
hại người thân của ḿnh nhiều hơn là giúp đỡ họ.
|