|
Nói đến Bát kỉnh pháp, chắc hẳn trong giới tu sĩ không
ai không biết đức Thế Tôn đă nêu ra những ǵ trong ấy. Nhưng để hiểu rơ và
hành tŕ đúng với tinh thần Bát kỉnh pháp th́ lại là một vấn đề khác. Ở đây,
người viết xin nêu lên một vài quan điểm của ḿnh, với mong muốn mọi người
có được một cái nh́n thấu đáo để Bát kỉnh pháp dù ở thời đại nào cũng mang
một giá trị hết sức quan trọng đối với đời sống Ni giới.
“Bát kỉnh pháp” hay c̣n gọi là “Tám pháp cung kính”
hay “Bất khả việt”, dịch là “Tám điều không thể vượt qua”. Tám điều này có
thật sự quan trọng làm tăng ích cho hàng Tỳ-kheo-ni hay chỉ mang tính trói
buộc trong hoàn cảnh xă hội đương đại?
Bát kỉnh pháp được đức Thế Tôn áp dụng cho hàng Ni
giới trong quá tŕnh h́nh thành giáo đoàn Tỳ-kheo-ni. Theo học giả E.J
Thomas, khoảng năm năm sau khi đức Phật thành đạo, giáo đoàn Tỳ-kheo-ni mới
h́nh thành. Sự kiện đức Thế Tôn chấp nhận cho người nữ xuất gia đă nâng giá
trị của nữ giới lên một bậc. Đây là việc làm duy nhất chưa từng thấy trong
lịch sử Tôn giáo.
V́ sao người viết lại bảo rằng đức Phật đă nâng vị trí của nữ giới lên một
bậc? V́ vị trí nữ giới trước Phật giáo thật vô cùng tồi tệ do Bộ luật Manu
(The law of Manu) ban hành: “Hôn nhân là tăng cường ràng buộc, cột trói
người phụ nữ vào đàn ông. Người phụ nữ là một phần của đàn ông, một người
giúp việc trung thành để phục vụ chồng”. Các nước phương Đông cũng như thế.
Nhất là trong xă hội phong kiến, nữ giới chỉ được xếp vào giới nội trợ và
phạm vi sinh hoạt chỉ hạn cuộc trong gia đ́nh: “Gái trong khung cửi, trai
ngoài bút nghiên”. Họ hoàn toàn không được học hành, không được tham gia các
hoạt động bên ngoài xă hội,… thậm chí khi có khách đến nhà phải lánh mặt,
không có tư cách tiếp chuyện…
Đức Thế Tôn đă làm cuộc cách mạng tư tưởng và giải
phóng nữ giới bằng cách tuyên bố rộng răi: “Người nữ có thể đạt đến mức tiến
bộ tột đỉnh về đời sống tâm linh, thành tựu trí tuệ thâm sâu dẫn đến
Niết-bàn”. Tuyên ngôn này đă tác động sâu sắc đến các tôn giáo đương thời,
v́ trong ư thức hệ của người Ấn “nữ giới là những ngọn đuốc soi rọi con
đường đi xuống địa ngục” (Hemacondara).
Có thể nói rằng, ngày nay khắp mọi nơi trên thế
giới, người ta đều nh́n nhận rằng đây là một sự cách tân phi thường, v́ đức
Phật đă chấp nhận cho nữ giới đặc quyền tiếp thu giáo lư ngang hàng với nam
giới. Hơn 25 thế kỷ trôi qua, chúng ta chưa thấy một tôn giáo nào thành lập
giáo hội cho nữ giới. Chính v́ thế mà Ni giới luôn mang ơn sâu nặng với đấng
Từ Phụ. Ngài đă nâng địa vị nữ giới đến mức cao đẹp nhất.
Sau sự kiện vua Tịnh Phạn băng hà, để giải hóa cuộc
tranh chấp giữa hai dân tộc Sakyan và Koliyan đang giành quyền sử dụng nước
ḍng sông Rehini, đức Thế Tôn đă kết thúc cuộc hỗn chiến bằng bài thuyết
giảng hết sức từ bi và b́nh đẳng. Một số phi tần của ḍng họ Sakyan dưới sự
hướng dẫn của Ma-ha Ba-xà-ba-đề, cùng nhau đến diện kiến trước Thế Tôn xin
được gia nhập vào Tăng đoàn: “Bạch đức Thế Tôn, thật là một đại duyên cho nữ
giới nếu được Ngài chấp nhận cho gia nhập vào Tăng đoàn để khép ḿnh trong
khuôn khổ của giáo pháp và giới luật mà Ngài đă công bố.” Ma-ha Ba-xà-ba-đề
đă thỉnh nguyện thiết tha như vậy nhưng Thế Tôn không hứa khả. Ba phen thưa
thỉnh vẫn không được, bà quyết định cắt bỏ mái tóc xinh đẹp, vứt bỏ trang
sức, cùng 500 phi tần ḍng họ Xá-di, tự khoác lên ḿnh tấm y vải thô, đi bộ
mấy ngàn dặm đến Vesali cầu xin đức Thế Tôn cho họ được xuất gia. Sự bền
ḷng và gan dạ của Gotami, đă khiến tâm thị giả A-nan trắc ẩn. A-nan đă khơi
lại những điều mà Thế Tôn không thể không thuận ḷng. Song, Thế Tôn thấy
được những hiểm họa và những khiếm khuyết không thể tránh khỏi khi chấp nhận
nữ giới xuất gia. Ngài thấu hiểu tận cùng nghiệp tánh của nữ giới khi nâng
họ lên ngang hàng với nam giới, hơn nữa, để trắc nghiệm nghị lực và ư chí
của nữ giới, quan trọng hơn là thăm ḍ phản ứng của các tôn giáo đương thời,
ngơ hầu có thể hóa độ nữ giới, v́ nữ giới xuất gia là một việc làm trái với
đạo lư lâu đời của xă hội Ấn Độ. Do đó, Thế Tôn chế ra “Bát kỉnh pháp”, nhằm
giúp họ trưởng dưỡng thiện tâm và chỉnh đốn nền nếp tu tập để bước lên thềm
thang giải thoát.
1. Một Tỳ-kheo-ni, dù có trăm tuổi hạ khi gặp
Tỳ-kheo mới thọ giới cũng phải chào hỏi, đảnh lễ và cung kính.
2. Một Tỳ-kheo-ni không được khiển trách hay nặng
lời đối với Tỳ-kheo trong bất cứ trường hợp nào.
3. Tỳ-kheo-ni không được ngăn Tỳ-kheo xét tội,
thuyết giới, tự tứ hay nói lỗi của Tỳ-kheo. Trái lại, Tỳ-kheo được quyền
cử tội Tỳ-kheo-ni.
4. Muốn thọ tŕ cụ túc giới phải thông qua nhị bộ:
Tỳ-kheo và Tỳ-kheo-ni.
5. Nếu Tỳ-kheo-ni phạm tội hữu dư (Tăng tàn) th́
phải đối trước hai bộ Tăng mà thực hành pháp ư hỷ (Ma-na-đỏa) trong thời
gian nửa tháng.
6. Tỳ-kheo-ni nữa tháng phải đến bên Tỳ-kheo cần
cầu giáo giới.
7. Tỳ-kheo-ni không được an cư kiết hạ ở địa
phương nào không có Tỳ-kheo.
8. Khi an cư xong, phải đến Tỳ-kheo cầu ba sự:
thấy, nghe và nghi.
Tám điều cung kính này được Tôn giả A-nan truyền
trao lại. Maha Pajàpati Gotami và 500 người nữ hoan hỷ lănh thọ, nguyện trọn
đời phụng giữ không vi phạm. Họ y vào tôn chỉ Phật-đà, tu tập đạt đến mục
đích giải thoát tối hậu, v́ trong chân lư tuyệt đối, thánh quả giải thoát
không giành riêng cho ai, kể cả đức Phật.
Không c̣n nghi ngờ ǵ nữa về sự ra đời và tồn tại
của giáo đoàn Tỳ-kheo-ni. Chúng ta nghĩ ǵ khi đức Phật dăm lần bảy lượt mới
hứa khả việc thành lập giáo đoàn Ni và đặc chế Bát kỉnh pháp cho Ni giới.
Ngài quả là bậc rốt ráo cao siêu về mặt tâm sinh lư, tuệ giác của Ngài thông
hiểu hoàn toàn bản chất của nữ giới. Ngài thấy được khế thời, khế cơ mà độ
cho Ni giới. Nhưng, Gotami là di mẫu của Thế Tôn, chắc chắn không thể tránh
khỏi việc ỷ vào địa vị và quan hệ cốt nhục của ḿnh mà gây những hệ lụy cho
Tăng đoàn. Chính những khuyết điểm này mà Ngài đặc chế Bát kỉnh pháp để họ
có thể tiến đến quả vị giải thoát mà không hề ảnh hưởng đến sự tôn vinh của
Phật pháp. Với thiên chức của người mẹ, cùng bản chất yếu mềm của nữ giới có
thể chính là những trở ngại lớn lao cho đời sống độc thân của chư Tỳ-kheo-ni.
Như vậy, đức Phật vạch rơ yếu kém và khuyết điểm
của Tỳ-kheo-ni là nhằm giúp họ xác định những khó khăn gây trở ngại cho
những nỗ lực thành tựu mục tiêu của họ. Ngài đă khuyến khích họ thận trọng,
canh pḥng các cuộc tấn công của những khát vọng cám dỗ và truyền chế Bát
kỉnh pháp khi chấp nhận nữ giới xuất gia, để họ tiến đến quả vị giải thoát.
Tám điều cung kính ấy giúp nữ giới hàng phục tánh ngă mạn ngay trong đời
sống tu hành. Hơn nữa, giúp họ giữ được vị trí thích hợp với tâm tánh của
ḿnh, giúp họ giữ được trạng thái điều ḥa và thuận thảo, đem lại t́nh giao
hảo thích nghi giữa Tỳ-kheo và Tỳ-kheo-ni. Đặc biệt, tám điều này sẽ bảo vệ
nữ giới thoát khỏi những khát vọng nhục dục thấp hèn có thể xảy ra.
Việc nữ giới được xuất gia chính là thọ nhận và
hành tŕ Bát kỉnh pháp, v́ Bát kỉnh pháp chính là giới, mà giới là thầy, là
hành lang an toàn, là tường thành vô h́nh kiên cố đi đến thánh quả. Hơn nữa,
Bát kỉnh pháp là tràng hoa trang sức cho nữ giới thêm lộng lẫy nếu ai biết
trân trọng nó.
Chúng ta phải thấy rằng, Bát kỉnh pháp là linh hồn
của Ni giới, như trong Luật Tứ Phần Tỳ-kheo-ni có ghi: “Như vậy đó A-nan! Ta
nay nói Tám kỉnh pháp suốt đời tôn trọng không được tái phạm, nếu người nữ
nào thực hành đúng tức là đă thọ giới. Cũng ví như có người muốn qua ḍng
nước lớn phải bắc cầu đi qua.” Bát kỉnh pháp được đức Thế Tôn chế ra với mục
đích là tạo điều kiện để Tỳ-kheo-ni đi đến thánh quả chứ không phải để hạ
thấp họ. Chúng ta nên nhớ một điều: nếu không có tám pháp cung kính đó th́
không có giáo đoàn Tỳ-kheo-ni, cũng không có ai là Tỳ-kheo-ni.
Ở đây xin được bàn thêm về vấn đề b́nh đẳng giữa
nam giới và nữ giới ở ngoài xă hội và trong Phật pháp. Hai vấn đề này hoàn
toàn khác nhau. Bởi, b́nh đẳng trong giáo pháp là b́nh đẳng ở cấp độ tu
chứng quả vị, b́nh đẳng ở lĩnh vực tâm linh. Vào thời đức Phật đă có rất
nhiều phụ nữ trong số những đệ tử Phật chứng được quả vị như nam giới mà
trong kinh đă nói rơ. Sự kiện nỗ lực tiến tới giải thoát của Ni giới đă để
lại trong nền văn học Phật giáo những tấm gương vẻ vang, và chứng tích này
c̣n được ghi lại qua những bài thi kệ được ghi trong Tam tạng Pàli:
- Therigàtha (Trưởng lăo ni kệ): gồm những bài kệ của 73 vị tu sĩ lớn tuổi.
- Bhikkhuni Samyutta: Những thi kệ của 10 vị trưởng lăo Ni trong số 73 vị
ấy.
- Apadàna: Là tập tiểu sử viết bằng thơ, kể lại cuộc sống của 40 vị Ni sống
đồng thời với đức Phật.
C̣n b́nh đẳng ngoài xă hội là b́nh đẳng trong công
việc và địa vị, nam giới làm được điều ǵ th́ nữ giới cũng làm được điều đó.
Do đó, chúng ta cần hiểu rơ vấn đề b́nh đẳng của thế gian và xuất thế gian,
để không phải than văn Tám pháp cung kính là vấn đề ràng buộc.
Dù cho lịch sử luôn vận hành, xă hội có khác đi,
th́ Bát kỉnh pháp vẫn mang một giá trị tối thượng là nhằm giúp nữ giới đạt
đến quả vị ngang tầm với nam giới. Nhờ Tám pháp không thể vượt qua mà nữ
giới tránh được những tai họa cho chính ḿnh, giữ được đạo đức, phẩm hạnh,
phát huy được trí tuệ rốt ráo. Có thể nói, nhờ Tám pháp cung kính này mà nữ
giới đă xây dựng cho Ni bộ một nền tảng vững chăi, giữ ǵn được sự thanh
khiết, thánh thiện giữa Tỳ-kheo và Tỳ-kheo-ni hơn mấy ngàn năm. |