|
CHÂU
ĐỐC
Nguyễn Thanh Liêm
Châu Đốc là tỉnh địa đầu của Miền Tây Nam Việt, nằm bên biên
giới Việt Miên. Phía Tây và phía Bắc của Châu Đốc là nước
Kampuchia(Cao Miên) . Phía Đông và Đông Nam là hai tỉnh Kiến
Phong và An Giang. Rạch Giá, tức tỉnh Kiên Giang là tỉnh giáp
giới phía Nam của Châu Đốc. Diện tích của tỉnh Châu Đốc là
2,759 cây số vuông. Tỉnh lỵ ở cách Sài G̣n 145 cây số về hướng
Tây. Châu Đốc là vùng đất sau cùng trong quá tŕnh thành h́nh
của Miền Nam nước Việt. Năm 1757 vua Miên là Nặc Tôn dâng đất
Tầm Phong Long cho Chúa Nguyễn để trả ơn, trong đó có Châu Đốc.
Thời này Châu Đốc chỉ là một địa điểm quân sự, một đồn binh
của Việt Nam, một “đạo” theo chữ dùng thời Gia Long – Minh
Mạng, chưa có dân chúng định cư sinh sống. Từ năm 1817 trở đi
Châu Đốc mới bắt đầu trù phú nhờ chính sách mở rộng cương vực
của Chúa Nguyễn. Triều đ́nh đặt chức Quản Đạo, Cai Phủ để mộ
dân đến khai khẩn đất đai mở mang nông nghiệp. Kinh Vĩnh Tế
đào xong lại đem thêm cho Châu Đốc nguồn nhân lực và tài lực
rất đáng kể. Xin mời bạn hăy cùng tôi đi một chuyến về miền
biên tái xa xôi này.
Yếu tố địa lư núi non sông nước có giá trị văn hoá vô cùng
quan trọng ở đây. Hai nhánh lớn của Cửu Long c̣n rất gần nhau
là Tiền Giang và Hậu Giang đều chảy qua tỉnh này. Ở đây người
xưa xem sông Cửu Long là con sông quư nên c̣n có tên Bửu Giang.
Qua khỏi Châu Đốc hai nhánh sông này mới bắt đầu dang ra dần.
Châu Đốc là con đường giao thông và giao lưu quan trọng giữa
hai quốc gia và hai dân tộc Miên Việt. Kinh Vĩnh Tế quan trọng
nổi tiếng của Miền Nam dọc theo biên giới Việt Miên, nằm trong
tỉnh này. Núi Sam với miểu Bà Chúa Xứ hằng năm có cả trăm ngàn
người về dự lễ Vía Bà, và Thất Sơn huyền bí – “Miền Năm Non
Bảy Núi” – đều ở nơi đây. Thất Sơn, ngọn núi quư hay Bửu Sơn,
là cái nôi của một tôn giáo quan trọng của Miền Tây Nam Phần
là Bửu Sơn Kỳ Hương với sự nối tiếp của Phật Giáo Hoà Hảo.
Châu Đốc cũng là nơi sinh sống của một bộ phận rất quan trọng
của dân tộc Chăm (hay người Chàm) mà người miền Nam thường gọi
là Chà Châu Giang. Chúng ta hăy duyệt qua những nét văn hoá
đặc thù của tỉnh ven biên này.
Trước Đại Chiến Thế Giới Thứ Nhất người dân Châu Đốc chưa biết
trồng lúa sạ. Họ vẫn theo lối trồng lúa nước cổ truyền của dân
Việt. Lối trồng lúa cổ truyền này thất bại hoàn toàn ở vùng
này v́ vào mùa mưa, “mùa nước nổi”, nước sông Cửu Long dâng
cao từ 1.5 thước đến 4.5 thước làm cho lúa chết và mùa màng bị
hư hại hết. Người nông dân rất khổ sở, họ phải đi mua lúa gạo
từ những nơi khác đem về sinh sống. Phải đến khoảng cuối thập
niên 1920 nhờ sự khám phá ra giống “lúa sạ” của ông Phan Văn
Vàng người nông dân mới gặt hái được nhiều thành quả tốt đẹp
với loại ruộng bị nước ngập mênh mông vào mùa nước nổi ở vùng
này. Lúa sạ là loại lúa không cần phải cấy, chỉ cần rải hạt
giống (sạ) xuống ruộng rồi tự nó sẽ mọc lên. Đặc biệt là nó cứ
lên cao theo mực nước, mực nước sông Củu Long lên cao bao
nhiêu th́ lúa cũng cao theo bấy nhiêu. Người Pháp gọi nó là
lúa nổi (riz flottant), loại lúa hoàn toàn thích hợp với vùng
nước nổi ở Long Xuyên Châu Đốc. Giống lúa này đă có từ xưa ở
Miên nhưng người Việt ḿnh chưa biết đến. Ông Phan Văn Vàng
sống về nghề mua bán cá sấu ở bên Miên. Trong khi qua lại mua
bán bên đó ông thấy được cách trồng lúa sạ của người dân Miên.
Ông bèn mua lúa giống này đem về phổ biến ở Châu Đốc. Lúa sạ
phát triển nhanh từ đó, đem lại nguồn lợi lớn lao cho nông dân
vùng Châu Đốc Long Xuyên. Người dân ở đây nhớ ơn ông Vàng, lấy
tên ông đặt tên đường trong thành phố như ở Tân Châu chẳng hạn.
Trong quận lỵ Tân Châu có con đường mang tên Đường Phan Văn
Vàng là vậy.
Ngoài lúa sạ Châu Đốc c̣n nổi tiếng về tơ tằm, nhất là ở quận
Tân Châu. Từ xưa Tân Châu đă nổi tiếng là “xứ tằm tang”. Các
làng mạc ở đây đều có trồng dâu nuôi tằm, đặc biệt là ở các xă
Vĩnh Hoà, Tân An, Vĩnh Xương, Long Phú. Một số xă lân cận,
thuộc quận khác cũng trồng dâu nuôi tằm như Thường Phước, Long
Khánh, Long Thuận (quận Hồng Ngự). Hàng danh tiếng ở Tân Châu
là lănh “Mỹ A” rất được dân Miền Nam ưa chuộng. Gần đây khi
các ḷ nhuộm bắt đầu nhuộm bằng mặc nưa th́ lănh Mỹ A càng
được người ta ưa thích hơn nữa v́ hàng đen mướt và không phai
màu. Trái mặc nưa xưa kia phải mua từ Kampuchia nhưng sau này
người ta cũng bắt đầu trồng ở Việt Nam.
Có loài cá đặc biệt có rất nhiều ở vùng Châu Đốc, nhất là ở
miệt Tân Châu, Hồng Ngự, nhiều đến độ người ta phải dùng làm
phân bón v́ ăn không hết, mà làm mắm hay làm nước mắm cũng
không hết. Đó là con cá linh, một giống cá trắng có vảy nhỏ,
xuất phát từ vựa cá thiên nhiên của biển Hồ bên Miên. Hằng năm
cứ đến ngày mùng 5 tháng 5 âm lịch th́ nước sông Cửu Long bắt
đầu quay (nổi màu đục ngầu từng cụm từng cụm quay quay), tức
là từ đó nước mưa từ trên nguồn bắt đầu đổ nhiều vào sông Cửu
Long khiến nước dâng lên dần thật cao. Khi nước quay th́ cá
linh bắt đầu nở con li ti bằng cọng chân nhan. Các con cá linh
con li ti này bắt đầu rời nơi sinh ra đời, thả lênh đênh theo
ḍng nước Cửu Long, trôi giạt về miền Châu Đốc Long Xuyên,
xuống tận miền Hậu Giang. Nước sông mênh mông tràn lên đầy
ruộng đồng vườn tược, cá linh cũng tràn lan theo nước, chổ nào
cũng có. Lúc này cá linh đă lớn bằng đầu chiếc đủa. Đợi lúc
nước hạ (thượng tuần tháng 10 âm lịch), chúng lần lượt ngược
gịng Cửu Long trở về quê hương biển Hồ. Người ta đánh cá linh
bằng cách xây đáy, ven đăng, đặt rọ theo mương, theo mấy khúc
doi, theo các ngọn rạch, hoặc “vồn” (tức là xúc cá linh bằng
dụng cụ đặc biệt giống như cây vợt thật to gọi là vồn). Người
ta đi vồn cá linh bằng ghe, gọi là ghe vồn. Những người chỉ
đánh cá linh để ăn trong nhà th́ dùng một thứ dụng cụ đươn
bằng tre gọi là “ḅ”. Qua mùa cá linh “lên” (ra đầy sông rạch)
th́ dọc theo bờ sông Tiền Giang từ biên giới Miên xuống đến
Vàm Nao (xă Hoà Hảo), bến nào cũng có người ta thả “ḅ”, đốt
đuốc dài dài theo bờ sông, nhộn nhịp kéo “ḅ”gọi nhau ơi ới
làm vang dội cả một góc trời. Trong một đêm, mỗi cái ḅ có thể
được kéo lên đôi ba dác, và mỗi dác như vậy có thể có đôi ba
giạ cá linh. Đó chỉ là người thường đánh để ăn trong nhà.
Những ghe đáy chuyên môn đánh cá linh để làm mắm và làm nước
mắm th́ không biết bao nhiêu giạ mà kể. Cá linh có thể nướng,
có thể nấu chua, có thể kho hầm. Làm ǵ ăn cũng béo, cũng bùi
cũng rất là ngon miệng. Đầu cá linh ăn cũng rất ngon, nhất là
đầu cá linh kho hầm ăn với cơm cháy th́ ngon hơn bánh ḿ cá
ṃi nhiều lắm.
Nói đến Châu Đốc là phải nói đến Núi Sam. Núi Sam ở cách tỉnh
lỵ Châu Đốc 5 cây số. Núi Sam nổi tiếng v́ ở đây có Miểu Bà
Chúa Xứ, có Chùa Tây An và có Lăng Thoại Ngọc Hầu. Trong các
đền thờ ở Miền Nam hiện nay có lẽ Miểu Bà Chúa Xứ là nơi quy
tụ khách thập phương về nhiếu nhất, hơn cả Miểu Bà Đen ở Tây
Ninh. Đây là một ngôi miếu rộng, vách gạch lợp ngói, nơi chánh
điện có pho tượng Bà rất to, sơn phết rực rỡ. Tượng này không
biết do ai tạc nhưng theo các nhà cổ học th́ đây là tượng kiến
trúc theo các nhà tạc tượng đạo Bà La Môn có thể vào khoảng
trước thời Đế Thiên Đế Thích. Tượng cao 1 thước 25, nặng trên
một tấn. Trước kia tượng đặt ở lưng chừng núi. Thoại Ngọc Hầu
phu nhơn xây dựng Miếu ở dưới chân núi rồi cho thỉnh tượng về
đây. Tương truyền rằng lúc đầu phải dùng nhiều người đàn ông
lực lưỡng để di chuyển nhưng đám đàn ông này không cách ǵ
khiêng nổi bức tượng, sau cùng phải nhờ đến sức của hằng trăm
trinh nữ mới xê dịch được pho tượng rất linh thiêng này. Hai
bên bàn thờ Bà có hai câu đối nói lên sự linh ứng của Bà:
“Cầu tất ứng, thành tất linh, mộng trung chỉ thị,
Xiêm khả kính, Thanh khả mộ, ư ngoại nan lường.”
Tín ngưởng Bà Chú Xứ là tín ngưởng chịu ảnh hưởng hay đă được
vay mượn của người Chàm. Trong quá tŕnh phát triển về phương
Nam người Việt đă giao lưu, vay mượn một số nét (traits) văn
hoá, nhất là về kỹ thuật và tín ngưởng, của những dân tộc khác
như Chăm và Khmer. Ở Châu Đốc, hay nói rộng ra cho cả Miền Tây
Nam Phần, chỉ có hai cuộc lễ qui tụ đông đảo quần chúng nhất,
đó là ngày “Vía Bà” ở núi Sam và ngày kỷ niệm thành lập giáo
hội Phật Giáo Hoà Hảo tại Thánh Địa Hoà Hảo. Ngày Vía Bà là
ngày 25 tháng 4 âm lịch, và ngày kỷ niệm thành lập Phật Giáo
Hoà Hảo là ngày 18 tháng 5. Vào những ngày này đường lưu thông
thường bị tắt nghẻn bởi những đợt người từ các nơi tựu về.
Cách Miểu Bà Chúa Xứ chừng vài trăm thước là Chùa Tây An. Chùa
được xây cất vào năm Thiệu Trị thứ bảy (1847) lúc đầu c̣n nhỏ,
lợp tranh với một ít tượng Phật do Tổng đốc Doản Uẩn thiết lập.
Dần dần khách thập phương đến chùa dâng cúng nhiều tượng Phật
khiến sau này chùa phải mở rộng ra và chứa trên 140 cốt Phật.
Ngoài tượng Phật chùa có thờ cả tượng Thần Nông, Huỳnh Đế,
Ngọc Hoàng. Ở phía hậu đường, ngay căn giữa có đặt một bàn thờ
lớn trên đó có một pho tượng có mang mắt kiếng, cằm có râu,
mặc áo nâu sồng, vẻ mặt từ ái. Đó là tượng Đức Phật Thầy Tây
An, người đă làm cho ngôi chùa này phát triển không ngừng từ
mấy chục năm qua. Phật Thầy Tây An tên thật là Đoàn Minh Huyên,
sinh ngày rằm tháng mười năm Đinh Măo (1807) tại làng Ṭng Sơn,
tổng An Thạnh Thượng, tỉnh Sa Déc. Đức Phật Thầy bỏ nhà ra đi
từ lúc nhỏ, không biết đi đâu làm ǵ? Măi đến năm Kỷ Dậu
(1848) Ngài mới trở về quê cũ. Ngay lúc đó bệnh dịch tả đang
hoành hành ở vùng này. Ngài ra tay cứu chửa làm cho bao nhiêu
người thoát chết. Tên tuổi Ngài vang dội khắp nơi, bổn đạo
theo Ngài càng lúc càng nhiều khiến chánh quyền đâm ra lo ngại,
phải t́m cách quản thúc Ngài ở Châu Đốc. Để tiện việc kiểm
soát, chánh quyền chỉ định cho Ngài đến ở tại Chùa Tây An. Tại
đây Ngài đă cảm hoá được vị hoà thượng ở chùa này và thu hút
hằng vạn tín đồ về với Ngài. Từ đó người ta xem Ngài như một
vị Phật, và tôn xưng Ngài là Phật Thầy Tây An. Đạo của Ngài
cũng là đạo Phật nhưng cách lập giáo của Ngài khác hơn cách
lập giáo của các nhà sư đương thời. Ngài giản dị hoá thủ tục
thờ cúng, không gỏ mơ tụng kinh, không cạo đầu mặc áo cà sa,
không cần phải cất chùa xây tượng Phật. Tu ở đâu cũng được,
miễn tránh điều ác, làm điều lành, rửa ḷng trong sạch, thực
hành bốn ơn lớn (Tứ Ân) là ơn tổ tiên cha mẹ, ơn đất nước, ơn
tam bảo, ơn đồng bào nhân loại. Giáo lư của Ngài có phần mâu
thuẫn với khung cảnh của chùa Tây An với hằng trăm tượng Phật
bên trong. Thật ra th́ chùa đă được xây dựng từ lâụ trước khi
Ngài bị chánh quyền đưa tới. Việc dâng cúng tượng Phật đă có
từ trước và Ngài không muốn chen vào, thay đổi chính sách sẵn
có của chùa. Đạo của Ngài cũng được gọi là Bửu Sơn Kỳ Hương là
nguồn gốc của Phật Giáo Hoà Hảo sau này.
Lăng Thoại Ngọc Hầu nằm ở chân núi Sam, bên trái con đường
Châu Đốc – Tịnh Biên. Qua nhiều bậc đá người ta sẽ lên đến một
sân rộng ở trên cao có bốn trụ đá khổng lồ đứng sừng sửng ở
phía trước, và nhiều ngôi mộ cái cao cái thấp ở bên trong. Sau
hàng chục ngôi mộ là một đền thờ xây dựng dưới những tàn cây u
nhả. Đền xây bằng tường vôi, nền đá tựa lưng vào núi Sam.
Thoại Ngọc Hầu có nhiều công đối với triều đ́nh nhà Nguyễn và
nhất là có nhiều công ơn đối với người dân Miền Nam. Gốc người
Quảng Nam, tên thật là Nguyễn Văn Thoại, theo Gia Long đánh
Tây Sơn, đi công cán bên Xiêm, bên Miên và Lào, giử nhiều chức
vụ quan trọng như Chưởng Cơ Bắc Thành, Trấn Thủ Lạng Sơn, Trấn
Thủ Định Tường, Bảo Hộ Cao Miên, Trấn Thủ Vĩnh Thanh, Khâm Sai
Thống Chế án thủ Châu Đốc, v v. . . Nhưng công tác được người
đời nhớ nhiều nhất là công việc khẩn hoang và đào kinh. Ông
bảo : “Thần thụ mệnh vua, siêng năng kính cẩn, nhóm dân lập ấp,
tuỳ xem địa thế: một đường ngang song song ra đến trường giang,
một đường thẳng lên Sốc Vinh, một đường ngay đến Ḷ G̣. Vổ về
dân sự, mở mang thôn ấp, khai khẩn ruộng vườn, tuy trong muôn
phần chưa thoả măn được một, nhưng đem nay mà sánh xưa, th́ đă
khác lạ lắm.” Ngoài những công việc quan trọng trên, ông c̣n
đào hai con kinh rất có giá trị quân sự, kinh tế, chính trị và
xă hội đối với Miền Nam. Con kinh thứ nhất ăn thông từ Long
Xuyên qua Rạch Giá được triều đ́nh nhà Nguyễn đặt tên là Thoại
Hà và núi bên cạnh kinh là núi Thoại Sơn (lấy tên của Nguyễn
Văn Thoại). Con kinh thứ nh́ quan trọng hơn nữa, đó là con
kinh chạy dài từ Châu Đốc đến Hà Tiên, dọc theo biên giới Miên
Việt. Kinh này được vua Minh Mạng đặt tên là Vĩnh Tế Hà, và
phần núi Sam bên cạnh kinh này được đặt tên là Vĩnh Tế Sơn (Vĩnh
Tế là danh xưng của Nhất Phẩm phu nhân của Bảo Hộ Thoại).
Ngoài núi Sam, Châu Đốc c̣n có phần núi Thất Sơn, vùng núi đầy
mầu nhiệm huyền bí của rất nhiều người dân Miền Nam cũng như
dân Khmer trước đó. Danh xưng linh thiêng của vùng này của
người Miền Nam là vùng “Năm Non Bảy Núi”. Bảy núi tức là Thất
Sơn (thất là bảy, sơn là núi). Bảy núi này là : (1) Núi Két (Anh
Vũ sơn), (2) núi Giày 5 giếng, gần núi Két (Ngũ Hồ sơn), (3)
núi Gấm hay núi Cấm (Thiên Cẩm sơn), (4) núi Tượng (Liên Hoa
sơn), (5) núi Nước gần núi Tượng (Thuỷ Đài sơn), (6) núi Dài (Ngoạ
Long sơn). và (7) núi Tôi (Phụng Hoàng sơn). C̣n Năm Non là
năm cái chỏm cao (c̣n gọi là “Vồ”) của Núi Cấm. Năm cái vồ đó
là : Vồ Ḅ Hong, Vồ Đầu, Vồ Bà, Vồ Ông Bướm, và Vồ Thiên Tuế.
Thất Sơn nằm trong khu tam giác Tịnh Biên – Nhà Bàng – Tri Tôn,
choán một khu vực dài 30 km, bề ngang độ 17 km (khoảng 1/7
diện tích tỉnh Châu Đốc). là một pháo đài thiên nhiên vô cùng
kiên cố bên cạnh Kampuchia và Thái Lan, án ngữ cả vùng biển Hà
Tiên, Rạch Giá. Thất Sơn là nơi trú ẩn, và là mật khu của
những anh hùng chống Pháp hồi cuối thế kỷ XIX sang đầu thế kỷ
XX. Thất Sơn cũng là vùng linh địa là cái nôi của Phật giáo
Miền Nam hay Bủu Sơn Kỳ Hương. Phật Thầy Tây An, Phật Trùm,
Ông Đạo Khoai đều đă từng tu luyện nơi đây. Đưc Huỳnh Phú Sổ
của Phật Giáo Hoà Hảo cũng đă từng vào đây học đạo. Đối với
các nhà tu hành, các nhà tôn giáo, cũng như một số người hiểu
biết thuở xưa th́ Thất Sơn chứa nhiều huyền bí nhiều nhiệm mầu
mà người thường không biết được. Người ta thường nói đến Thất
Sơn hay vùng “Năm Non Bảy Núi” với ḷng tôn kính sợ sệt từ xưa
đến giờ.
Trong toàn tỉnh Châu Đốc có bảy thôn ấp có người Chăm ở. Đó là
các thôn ấp Koh Ta-boong (mà người Pháp âm là Kotampong), Hà
Bao, Vĩnh Trường, Phum Soài, Khánh An, Khánh B́nh và Châu
Giang. Người Việt ở Miền Nam gọi họ là Chà Và hay Chà Châu
Giang. Thật ra họ là người Chàm gốc ở Miền Trung. V́ trốn
tránh chiến tranh một số đă sang sinh sống ở Kampuchia. Năm
1755 khi Nguyễn Cư Trinh b́nh định Cao Miên có chiêu dụ một số
người Chăm về vùng Tây Ninh, Hồng Ngự và Châu Giang Châu Đốc
khai khẩn ruộng vườn, góp phần ngăn chặn giặc Miên vùng biên
tái xa xôi này. Hồi năm 1932 một số người Chăm ở vùng Phan
Rang Phan Rí theo Lê Văn Khôi chóng lại triều đ́nh Huế. Thất
bại nhóm người này bị tàn sát rất nhiều. Một số phải bỏ xứ
trốn đi qua Kampuchia, một số rút lên Miền Thượng, và một số
đến nương ngụ với những đồng bào Chàm ở Châu Đốc. Người Việt ở
đây thấy họ giao thiệp với Mả Lai, sang học đạo ở Pattani mới
lầm tưởng họ là người Mả Lai và mới gọi họ là Chà Và hay Chà
Châu Giang. Tiếng Chà Và do tiếng Java (ở Nam Dương) mà ra.
Đối với người Chăm, danh xưng Chà Và là một danh xưng có tính
cách khinh miệt cũng giống như danh xưng An Nam mà người Hán
đă gán cho người Việt ḿnh vậy. Người Chăm ở Châu Đốc theo Hồi
giáo. Họ cử thịt heo, khi có người chết th́ chôn chớ không
thiêu như đạo Bà La Môn. Con trai khi lớn lên khoảng 13, 14
tuổi th́ phải chịu lễ cắt quy đầu (circoncision), c̣n con gái
th́ khuê môn bất xuất. Theo tục lệ của người Hồi giáo, khi có
khách đàn ông đến nhà th́ đàn bà rút vào trong không được tiếp
khách. Thỉnh thoảng cũng có người Chăm lấy vợ Việt Nam nhưng
ngược lại người ta không thấy có người đàn ông Việt Nam nào
lấy được vợ Chăm có lẽ v́ những tập tục khắt khe đối với phụ
nữ của người Hồi giáo. Mỗi ngày người Chăm phải hành lễ 5 lần,
tiếng Mả Lai gọi là Sambahyăng, và mỗi năm phải chịu một tháng
Ramadan (khoảng tháng 4 – 5 dương lịch) là tháng họ phải nhịn
đói, không được hút thuốc và phải kiêng cử cả việc chung chạ
với đàn bà. Nhịn đói, chịu khổ nhục là để thông cảm nổi khổ
đau củng người nghèo khổ và nhân đó con người sẽ cảm thấy biết
ơn Thượng Đế Allah. Người Chăm cử hành đại lễ Roya, đọc kinh
Coran và đi chúc mừng nhau giống như ngày Tết của người Việt
Nam vậy. Xin mượn lời Dohamide & Dorohiêm nói về Koh Ta-booong,
một thôn ấp khép kín của người Chăm ở bên kia bờ Hậu Giang
ngang tỉnh lỵ Châu Đốc, trong quyển “Bangsa Champa” của hai
ông để kết thúc bài viết về tỉnh này:
“Từ bên này bờ sông nh́n sang bên kia, không xa lắm, chỉ
vào khoảng 50 thước là cùng, tiếng trẻ em vui đùa vẫn vọng mồn
một sang bên này bờ, nhưng thực tế là hai thế giới khác biệt.
Thật vậy, nhà cửa bên kia sông, thường đắp nền cao rồi dựng
cột và vách lên, bên trong nhà có bàn thờ tổ tiên, bày biện
bàn ghế, giường ngủ có chân cao. Hầu như trước nhà nào cũng
đều có một bàn thờ nhỏ gọi là “bàn ông Thiên” buổi chiều khói
hương nghi ngút. Bên này sông, trái lại, nhà nhà đều có sàn;
cột thường bằng cây nguyên bào nhẵn, cao khỏi đầu người, mặt
tiền nhà nào cũng có một cái thang rắn chắc bằng gỗ, và bên
trong nhà hầu như không có bàn ghế, nên khi khách đến nhà th́
chủ nhà trải chiếc chiếu hoặc tấm thảm, để chủ khách cùng ngồi
xếp bằng trên sàn gỗ. Nhà cửa cất phần lớn sát vào nhau, cả
làng hầu như không có nhà nào trồng rau quả, vườn tược, nhứt
là vườn trầu xanh tươi như bên kia bờ.
Người dân bên này bờ thường vận chăn sà-rong vấn quanh ḿnh,
dài đến gót chân, b́nh thường gọi người dân bên đất liền là
yuôn, và ngược lại, những người yuôn này lại gọi người dân bên
cù lao là Chàm, có khi là Chà, và khi có chút ǵ không bằng
ḷng nhau th́ gọi là . . . Chà và. Người dân bên cù lao sống
bao quanh chúng tôi tự gọi ḿnh là người Chăm, trong sanh hoạt
hằng ngày, sử dụng một ngôn ngữ riêng không phải tiếng Việt mà
là tiếng Chăm.
Vào thập niên 1940, thời Pháp thuộc, xă hội người Chăm ở
Koh Taboong sống c̣n rất khép kín, nên chỉ một số ít người có
giao dịch với bên ngoài mới nói và hiểu được chút ít tiếng
Việt. Do thiếu giao lưu về văn hoá và xă hội, giữa người Chăm
bên này bờ và người Yuôn bên kia bờ rạch, đều có một số thành
kiến với nhau về một số mặt thực tế trong sanh hoạt hằng ngày.
Cụ thể, người Yuôn dùng đủa ăn cơm th́ bị người Chăm chê là
Đáng Tạo Hoá (Allah) đă tạo ra bàn tay cho con người sử dụng,
th́ tại sao lại đi dùng hai chiếc đủa để gắp đồ ăn được xem là
rizki, tức ăn phước của Đáng Tạo Hoá ban cho như vậy? Ngược
lại người Yuôn lại tỏ ra gớm tục ăn bốc của người Chăm, có vẽ
như không mấy hợp vệ sinh. Măi về sau này, tôi mới được rơ,
người Yuôn và người Chăm thuộc hai nền văn minh khác biệt, một
bên là nền văn minh đôi đủa, và một bên là nền văn minh ăn bốc,
mỗi nền văn minh bao trùm một số dân tộc sanh sống trên một
vùng bao rộng của trái đất. Có đi sâu t́m hiểu th́ mới biết
tập tục ăn bốc là tập tục chung của người A Rap, người Thổ,
người Ấn Độ, người Mả Lai, người Nam Dương, v v . . . đ̣i hỏi
cả một kỷ thuật, tạo thành thói quen từ hồi c̣n bé thơ, trước
và sau khi ăn, phải rửa tay, chỉ sử dụng ba ngón giữa và ngón
cái của bàn tay mặt để đưa cơm vào miệng, trong khi bàn tay
trái chỉ để cầm những ǵ dơ bẩn.” ( Dohamide &
Dorohiêm, Bangsa Champa, tr. 26-28).
Nguyễn Thanh Liêm
(Non Sông Gấm Vóc)
|