|
T̀M HIỂU VỀ VU LAN
Thích
Nguyên Hiền
Nói đến
Vu-lan, ư người viết muốn nói về những kinh điển liên quan đến
ư nghĩa Vu-lan, bao gồm những chú sớ, trước thuật của lịch đại
Tổ sư đă dày công biên soạn và đă được xếp vào Đại Tạng cũng
như Tục Tạng Kinh. Tuy nhiên, đây cũng chỉ là một bài viết sơ
lược trong khuôn khổ một đặc san, với những tài liệu khiêm tốn
mà người viết được đọc. Hơn nữa, những trước tác của các Tổ sư
qua nhiều đời về Kinh Vu-lan-bồn quá nhiều (hơn 60
loại), không thể đối chiếu hết được, chỉ xin chọn một vài
tác phẩm quan trọng để dẫn chứng. Ngưỡng mong các bậc cao minh
thùy từ chỉ giáo.
I. Tổng luận
Kinh
Vu-lan-bồn chỉ là một kinh điển nhỏ thuộc Phương Đẳng bộ, vỏn
vẹn chưa đầy một trang giấ鹠trong ĐẠI CHÁNH TÂN TU ĐẠI TẠNG
KINH, quyển 16. Thế nhưng qua các triều đại ở Trung Quốc, từ
Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh đến đời Dân Quốc, đời nào
cũng có chư Tổ trước thuật, chú sớ, luận giải bản kinh này, đủ
thấy tầm quan trọng của bộ kinh đối với tín ngưỡng Phật giáo
như thế nào. Ở Việt Nam, Kinh Vu-lan và Kinh Báo Hiếu được
diễn dịch khá sáng tạo, đă đi vào ḷng Phật tử như một thứ TÂM
KINH mà gần như ai thường xuyên đi chùa tụng kinh lễ Phật đều
ít nhiều thuộc ḷng bản kinh này. Lễ Vu-lan tự nhiên đă trở
thành một lễ hội lớn nhất của giới Phật giáo ở Việt Nam, do đó
việc t́m hiểu nguồn gốc và ư nghĩa Kinh Vu-lan là một việc làm
cần thiết. Hiện chưa có vị nào dịch một bộ sớ nào về Vu-lan để
phổ cập cho Phật tử hiểu, đây cũng là một thiếu sót rất lớn.
Sự diễn dịch sáng tạo Kinh Vu-lan và Báo Hiếu mà các chùa ở
Việt Nam hiện nay đang tụng đọc vào dịp tháng Bảy theo thể văn
vần, dễ hiểu, gần gũi với tâm hồn Việt. Tuy nhiên, để thuận
tiện cho việc gieo vần, nhiều chỗ trong bản dịch vẫn c̣n dùng
từ Hán Việt quá hàm súc mà giới b́nh dân khó hiểu được, như "cửu
tự cù lao", "hiếu hạnh vi tiên", "thần tỉnh mộ khan" v.v...
Điểm thứ hai là toàn bộ kinh chỉ giúp cho người đọc tụng hiểu
chữ HIẾU ở phạm vi Nhân thừa, chưa phát huy hết được thâm
nghĩa Đại thừa siêu tuyệt của bản kinh nói chung và ư nghĩa
của những chi tiết quan trọng trong kinh.
Kinh
Vu-lan-bồn (Phạn : Ullambana-sùtra), 1 quyển, do ngài
Trúc Pháp Hộ dịch sang Hán văn vào đời Tây Tấn (750 - 801).
Nội dung thuật lại việc đệ tử của Phật là ngài Mục-kiền-liên (Phạn
: Maudgalyàyana; Pàli : Moggallàna) xót thương cho mẹ đang
bị khổ ở đường ngạ quỷ, nên mới hỏi Phật. Phật chỉ dạy vào
ngày Rằm tháng Bảy, ngày Tự tứ của chúng tăng, dùng bá vị cơm
canh, ngũ quả để cúng dường mười phương chư Phật và Tăng chúng,
có thể cứu mẹ thoát khổ nạn.
Hội Vu-lan-bồn
mà kinh này nói vốn phù hợp với bổn phận hiếu hạnh của thế
gian. Ngài Tông Mật, vị Tổ thứ 5 của tông Hoa Nghiêm đời Tống
đă cường điệu tư tưởng làm con hiếu phải báo ân cha mẹ, dung
ḥa tính chất tương quan giữa Phật giáo và luân lư thế gian
của người Trung Quốc, vốn lấy Nho gia làm nền tảng. Từ đó kinh
này có tác dụng khá tích cực và được lưu truyền vô cùng rộng
răi.
Đồng
bản dị dịch (cùng bản Phạn nhưng khác người dịch) với
kinh này là Báo Ân Phụng Bồn Kinh (c̣n gọi là Báo Tượng
Công Đức Kinh), không rơ dịch giả là ai. Kinh Đại Bồn Tịnh
Độ được thuật trong PHÁP UYỂN CHÂU LÂM quyển 62 cũng là dị bản
của kinh này. Các bộ mục lục lớn như LỊCH ĐẠI TAM BẢO KỶ quyển
6, VƠ CHU SAN ĐỊNH CHÚNG KINH MỤC LỤC quyển 9, KHAI NGUYÊN
THÍCH GIÁO LỤC quyển 2 đều cho rằng dịch giả của kinh này là
Trúc Pháp Hộ, nhưng cũng có thuyết cho rằng kinh này là ngụy
tạo, v́ nói nội dung và sự phiên dịch trong bản kinh thường
không chính xác. XUẤT TAM TẠNG KƯ TẬP th́ cho rằng kinh này
không rơ dịch giả.
Thế
nhưng, ở Ấn Độ từ xưa đă có tín ngưỡng tin cái khổ "đảo huyền"
ở địa ngục, không thể vơ đoán kinh này là ngụy tạo. Nếu so
sánh kinh văn và một số dị bản th́ có thể dịch giả đă thêm vào
một số câu trong bản dịch. Điều này cũng thường thấy trong một
số bản dịch các kinh khác, dịch giả đă đưa một số chi tiết phù
hợp với tín ngưỡng và tư tưởng của địa phương đương thời, miễn
là vẫn giữ được tinh thần cốt tủy trong văn kinh.
II.
Nguồn gốc chữ Vu-lan-bồn
Ở Việt
Nam gần đây có một số sách báo chỉ ra sự sai lầm căn để của
một vài cách hiểu chữ Vu-lan-bồn. Đại loại từ trước, ở Việt
Nam, nhiều người hiểu chữ "bồn" có nghĩa là cái chậu; "bồn bát"
là vật của Tỳ-kheo dùng để đựng thức ăn. Nhiều người đă lớn
tiếng công kích và trích dẫn Phạn văn để chứng minh chữ "bồn"
cũng là âm dịch trong ba chữ Vu-lan-bồn chứ không phải là cái
chậu. Thật ra, sự sai lầm này không phải ở các dịch giả Việt
Nam, mà chính từ xưa ở Trung Hoa đă có cách hiểu như vậy rồi.
Vu-lan-bồn
là phiên âm từ chữ Phạn Ullambana, có chỗ phiên âm là Ô-lam-bà-noa,
nếu dịch ư th́ có nghĩa là "Đảo huyền" (cái khổ bị treo
ngược). Thật ra, Ullambana là một chuyển ngữ của
Avalambana, dụ cho cái khổ của người chết hết sức khó chịu,
giống như người bị treo ngược lên vậy. Các bộ sách lớn của
Trung Quốc như PHIÊN DỊCH DANH NGHĨA TẬP quyển 9, THÍCH THỊ
YẾU LĂM quyển hạ, VU-LAN-BỒN KINH LƯỢC SỚ... đều cho rằng chữ
Vu-lan Bồn là phiên âm sai. Bởi v́ chữ "bồn" là phiên âm từ
chữ "bana" của tiếng Phạn chứ không phải nghĩa "bồn bát" – "dùng
bồn bát bằng thất bảo để cúng Phật và Tăng" – như PHÁP UYỂN
CHÂU LÂM đă trích dẫn để giải thích ĐẠI BỒN TỊNH ĐỘ KINH,
nhưng trải qua nhiều đời, phần nhiều đều viện dẫn nghĩa này
một cách sai lầm mà không để ư đến những trích dẫn đă nói ở
trên.
Bắt đầu
từ tác phẩm VU-LAN-BỒN KINH TÁN THUẬT của ngài Huệ Tịch đời
Đường. Ngài cho rằng đặt các trân hào mỹ vị vào trong một cái
chậu, rồi dâng cúng cho Phật cùng Tăng để cứu cái khổ "Đảo
huyền". Ngài Tông Mật giải thích trong VU-LAN BỒN KINH SỚ
quyển hạ rằng Vu-lan nghĩa là Đảo huyền, c̣n "bồn" là đồ để
cứu giúp, cho nên giải thích Vu-lan Bồn là "Cứu đảo huyền,
giải thống khổ". Từ cách giải thích này của ngài Tông Mật, đời
sau đều y theo đó để hiểu chữ Vu-lan Bồn.
C̣n
trong VU-LAN BỒN KINH SỚ HIẾU HÀNH SAO quyển thượng của ngài
Ngộ Vinh đời Tống th́ dịch đề Kinh Vu-lan Bồn là "Giác Giả
Thuyết Cứu Đảo Huyền Khí Kinh" (Bậc Giác ngộ nói về Kinh "vật
để cứu cái khổ Đảo huyền"). Chữ "bồn" là cách tỉnh lược
sai lầm, Cựu dịch là Bồn-tá-na; Tân dịch là Môn-tá-nẵng, tức "Cứu
khí" (vật để cứu giúp), đây là cách phiên âm từ chữ mun壡na
của tiếng Phạn. Mun壡na là chuyển ngữ (đọc trại) của chữ
muccana tiếng Pàli và chữ mocana tiếng Phạn. Nhưng thật ra chữ
này có nghĩa là "cứu giúp" chứ không có nghĩa là "đồ cứu giúp",
cho nên thuyết của ngài Ngộ Vinh cũng sai lầm.
III.
Nguồn gốc của lễ Vu-lan
Lễ Vu-lan
hiện nay đă trở thành một lễ lớn và rất quan trọng trong tín
ngưỡng các nước Phật giáo. Vậy tư tưởng này xuất phát từ đâu ?
Khởi
nguyên của Vu-lan-bồn rất sớm, tư tưởng này có trước cả thời
Đức Phật tại thế. Trong cả hai bộ Đại sử thi của Ấn Độ cổ đại
đều có thuật lại những điều liên quan đến Vu-lan-bồn. Trong
chương thứ 74, phần 1 của bộ Mahàbharata nói đến từ Putra,
nghĩa là người đàn ông cần phải chẩn cứu (trayate) cha
ḿnh ở dưới địa ngục (pun). Do v́ ở Ấn Độ ngày xưa tin
rằng nếu người đàn ông mà không có con trai nối dơi th́ sau
khi chết sẽ đọa vào nơi hiểm ác, cho nên một người Bà-la-môn
đến 20 tuổi, sau khi học hành đầy đủ rồi phải về nhà lấy vợ,
sinh con để nối dơi tông đường, lấy đó để tế cúng tổ tiên.
C̣n lễ
Vu-lan-bồn mà ngày nay vẫn c̣n duy tŕ trong các chùa viện
Phật giáo là xuất phát từ Kinh Vu-lan-bồn. Đệ tử của Phật là
Mục-kiền-liên dùng Thiên nhăn thông thấy thân mẫu của ḿnh đọa
vào ngạ quỷ khổ sở, da bọc lấy xương, đêm ngày bị hành hạ liên
tục. Thấy vậy, Mục Liên mới đưa bát cơm đến dâng cho mẹ, nhưng
v́ nghiệp báo nên bát cơm hóa thành than lửa. V́ muốn cứu
thoát mẹ khỏi khổ, Mục Liên về bạch Phật để xin Ngài chỉ bày
pháp giải cứu cho mẹ. Đức Phật chỉ dạy rằng vào ngày Rằm tháng
Bảy, ngày Tự tứ của chúng tăng, dùng bá vị thức ăn đựng trong
b́nh bát để cúng dường Tam bảo th́ sẽ được vô lượng công đức,
cứu được cha mẹ bảy đời quá văng. Ở Ấn Độ từ xưa đă y theo lời
dạy này mà thực hành pháp Vu-lan- bồn, như B́nh Sa Vương, cư
sĩ Tu-đạt, Mạt-lợi phu nhân... đă từng tạo 500 b́nh bát bằng
vàng để cúng dường Phật và Tăng.
Ở Trung
Quốc, theo các bộ sử hiện c̣n th́ vua Lương Vơ Đế là người đầu
tiên thiết cúng Vu-lan-bồn. Năm 538, nhà vua đă đến chùa Đồng
Thái mở hội cúng dường Vu-lan rất lớn. Sau đó Vu-lan trở thành
một phong tục, các bậc đế vương cũng như thần dân nhiều đời
đều có tổ chức hội này để báo đáp ân đức của tổ tiên, cha mẹ.
Vào đời
Đường, các vị vua như Đại Tông, Đức Tông hết sức chú trọng
việc cúng tế Vu-lan-bồn. Vua Đại Tông cải biến nghi thức cúng
thí bồn bát trong các tự viện thành một nghi thức trong cung
đ́nh, và dùng những khí vật hết sức trang nghiêm. Ngoài dân
gian cũng bắt chước kết hoa đăng trang trí trước cửa nhà hoặc
bày biện khắp điện đường, sĩ thứ nô nức đến chùa tranh tu công
đức.
Đến đời
Tống th́ phong tục cúng Vu-lan cũng y như đời Đường, nhưng
b́nh bát và các vật trang nghiêm có phần giảm thiểu, không c̣n
tráng lệ như trước. Theo ĐÔNG KINH MỘNG HOA LỤC quyển 8, điều
Trung Nguyên Tiết, vào ngày này, người ta đốt tiền âm phủ, áo
giấy, đồng thời diễn kịch Mục Liên cứu mẹ. Trong sách SỰ VẬT
KỶ NGUYÊN của Cao Thừa có chỉ trích hội Vu-lan-bồn đă mất đi ư
nghĩa đích thực nói trong kinh Phật. Rất nhiều kinh điển của
Phật giáo nói nội dung của hội Vu-lan-bồn chỉ là tụng kinh và
thí thực mà thôi, c̣n nếu nghĩ rằng hội Vu-lan-bồn là chỉ để
thí thực cho quỷ thần là sai. Thế mà người đời sau không hiểu,
các tự viện cũng quy tụ tín đồ, lấy việc tiến vong độ quỷ làm
chính, đó là do xưa bày nay bắt chước, thật ra như thế là trái
với ư của Phật. C̣n việc dùng "đồ ăn trăm món", "trái cây năm
màu" là ư nói tất cả những món ngon vật lạ chứ không phải là
đủ số 100; ngũ quả [1] là chỉ chung cho các loại trái cây chứ
không phải là "trái cây 5 màu" như Kinh Vu-lan bản Việt ngữ đă
dịch. Dùng những món ngon vật lạ cúng dường Phật, Tăng để được
phước báo, đời sau không biết lại dùng đủ rau dưa hoa quả, bún
bánh cơm canh, hương hoa trà phẩm để cúng thí quỷ thần, quả là
sai một ly đi một dặm.
Ở Nhật
Bản, việc cúng tế bắt đầu từ thời Suy Cổ Thiên Hoàng (606),
đến năm 657 thời Thiên hoàng Tề Minh mới có hội Vu-lan-bồn.
Hội Vu-lan dầu sao cũng dễ dung ḥa với phong tục "Tổ tiên
sùng bái" của dân gian Nhật Bản, cho nên về sau hội này thịnh
hành khắp cả trong triều ngoài nội. Phong tục này vẫn c̣n măi
đến ngày nay.
Ngày
nay, hội Vu-lan-bồn được các tự viện tổ chức long trọng. Ngoài
việc tụng kinh và thí thực c̣n có tổ chức cúng dường trai tăng.
Gần đây, giới Phật giáo ở Đài Loan xem ngày Rằm tháng Bảy là
Tăng Bảo tiết, đây cũng là thời gian mà dân gian gọi là Trung
Nguyên tiết. Đối với tín ngưỡng dân gian phần nhiều truyền
tụng rằng ngày này cửa địa ngục rộng mở để phóng thích ngạ quỷ,
cho nên ngày này họ giết nhiều súc sanh, bày biện đủ thứ thức
ăn để đăi cúng cho ngạ quỷ, rồi thỉnh Đạo sĩ tụng kinh siêu độ,
với kỳ vọng tiêu tai giải nạn, bảo hộ b́nh an, làm ăn thuận
lợi. Nhưng đứng trên lập trường "Giới sát" của Phật giáo th́
làm như thế chẳng những không lợi ích ǵ mà c̣n tạo thêm
nghiệp sát, gây sự tham lam, sân hận cho ḿnh và mọi loài, quả
báo sẽ vô cùng tai hại, hoàn toàn khác xa với ư nghĩa Vu-lan-bồn
nói trong kinh Phật.
Ở Việt
Nam, không biết có tài liệu nào ghi chép việc cúng Vu-lan-bồn
xuất phát từ lúc nào ? Nhưng thiết nghĩ từ xưa ở Việt Nam phần
nhiều ảnh hưởng văn hóa của Trung Hoa, nên chi chẳng có ǵ
khác mấy. Khi đọc "Vân Đài Loại Ngữ" của Lê Quư Đôn, chúng tôi
thấy có một đoạn nói về Vu-lan-bồn, đặc biệt là có một vài
nhận xét của Lê Quư Đôn rất hay, chúng tôi xin trích dịch
nguyên văn đoạn ấy để tham khảo :
"Chu
Tử lại nói : Các bậc hiền triết đời trước cúng tế ở mộ phần
th́ không nói ǵ đến Nghĩa lư (Tiên chánh mộ tế bất ngôn
nghĩa lư).
Sách
MỘNG HOA LỤC chép : Tết Trung Nguyên người ta bày đồ mă,
giấy màu, lấy tre làm cái giường ba chân giống như cái bầu
dầu trong cây đèn, treo đồ mă, áo giấy lên đó rồi đốt, gọi
là Vu-lan-bồn. Lục Du nói : Tục lệ đến ngày Rằm tháng Bảy
làm đồ chay cúng tổ tiên, chuốt tre làm bồn chậu để đựng
tiền giấy rồi lấy cọng tre châm lửa mà đốt.
Sách
THÍCH THỊ YẾU LĂM chép : Tiếng Phạn nói Vu-lan-bồn cũng như
tiếng Hán nói Cứu Đảo Huyền. Sách THÔNG GIÁM đời Đường nói
vua Túc Tông sai Vương Dư làm chức Từ Tế Sứ. Lúc cúng tế, có
khi Vương Dư đốt giấy tiền giống như những người đồng bóng.
Truyện Vương Dư nói : Từ đời Hán về sau, khi chôn cất người
chết người ta đều chôn tiền theo. Đời sau dân tục lấy giấy
làm tiền để cúng tế quỷ thần. Vương Dư cũng dùng theo cách
ấy để cúng tế trừ tai ương.
Chu
Tử nói : Người xưa dùng ngọc và lụa, người đời sau dùng tiền,
đến đời vua Huyền Tông, việc thờ cúng quỷ thần thật nhiêu
khê. Không có nhiều tiền, Vương Dư bèn lấy tiền giấy để thay
thế. Sách THANH DỊ LỤC lại nói : Ngày đưa xe Huyền Tông đi
an táng, những thứ vàng bạc châu báu tiền tài đều làm tượng
h́nh để ngụ ư cả.
Chu
Tử lại nói : Đầu đời nhà Tống, hễ nói đến lễ th́ làm mũ áo
giấy, nhưng không dùng tiền giấy. Không biết tiền giấy và mũ
áo giấy có ǵ khác biệt nhau không ? Tiền giấy có từ đời vua
Túc Tông (756 – 762), do Ất Thái sứ Vương Dư làm ra, c̣n mũ
áo giấy th́ có từ thời Ngũ đại.
Sách
TRIỀU DĂ THIÊM TÁI chép rằng : Theo phong tục vùng Lănh Nam,
hễ trong nhà có người bệnh th́ giết gà giết ngỗng cúng để
cầu phước, nếu bệnh chưa khỏi th́ giết ḅ heo dê để cầu đảo,
tục này đến nay vẫn c̣n. Người xưa chê cười thói này đă lâu,
v́ muốn cầu sinh th́ lại sát sinh, đó là điều mà quỷ thần
giận ghét. Ở vùng Trung Châu, người ta chỉ dùng hương đèn,
tiền giấy, ngựa giấy, hoa quả, đồ chay để cầu đảo chứ không
sát hại sinh mệnh loài vật. Đă giữ ǵn ḷng nhân từ, tô bồi
phúc đức, muốn cầu thần ban cho tuổi thọ th́ phải dùng ḷng
nhân từ và phúc đức, dâng hiến ḷng thành chứ đâu phải ở vật
? ..." (VÂN ĐÀI LOẠI NGỮ quyển 4, Điển Vựng 9 b, 10 a, 10 b,
11 a).
Lê Quư
Đôn hiển nhiên không phải là nhà Phật học. Ông là kẻ bước ra
từ cửa Khổng sân Tŕnh. Tuy nhiên, ông đọc nhiều hiểu rộng, có
thái độ bàng quan, nên những điều ông viết rất khúc chiết và
thâm thúy. Xem ra, việc đốt giấy tiền có từ Trung Quốc, c̣n
việc giết súc sanh để cúng tế lại là phong tục vùng Lănh Nam (Việt
Nam ?). Người xưa đă chê bai và chỉ ra chỗ sai lầm trầm trọng
như vậy, lẽ nào đến ngày nay, thời đại khoa học phát triển mà
mọi người c̣n đốt áo giấy, đồ mă và giết súc sanh để cúng tế
th́ quả là lạc hậu. Đừng biện bạch rằng xưa bày nay bắt chước,
biết nó đă sai mà vẫn tin và làm theo th́ tai hại vô cùng.
Vậy để
hiểu Kinh Vu-lan mà Đức Phật chỉ dạy với mục đích ǵ, chúng ta
cần phải khảo sát ư nghĩa trong văn kinh một cách nghiêm túc,
từ đó chúng ta tự tạo cho ḿnh một thái độ, một cách nh́n đúng
đă鮠đối với kinh điển mà bậc Giác ngộ đă ân cần chỉ dạy.
IV. Ư nghĩa Kinh Vu-lan-bồn
Để hiểu
ư nghĩa của kinh một cách chính xác nhất, lẽ ra phải dựa vào
những bản chú sớ "tùy văn giải thích". Chú sớ Kinh Vu-lan-bồn
như trên đă nói là rất nhiều, chư Tổ đă phân khoa, chiết tự,
phân tích một cách tỉ mỉ. Hiện tại ở Việt Nam chưa thấy dịch
bộ Chú sớ nào, nên việc hiểu cặn kẽ Kinh Vu-lan-bồn là rất khó.
Trước khi lược nói ư nghĩa của kinh, chúng ta cần khảo sát
xuất xứ của kinh.
Các
kinh nói về việc báo hiếu và Vu-lan, hiện tại trong ĐẠI CHÁNH
TÂN TU ĐẠI TẠNG KINH tập 16 có "Phật Thuyết Phụ Mẫu Ân Nan Báo
Kinh", 1 quyển, do Tam Tạng pháp sư An Thế Cao, người nước An
Tức dịch sang tiếng Trung Quốc vào đời Hậu Hán; "Phật Thuyết
Vu Lan Bồn Kinh" do Tam Tạng Trúc Pháp Hộ, người nước Nguyệt
Thị dịch sang Hán văn vào đời Tây Tấn; "Phật Thuyết Báo Ân
Phụng Bồn Kinh", c̣n gọi là Báo Tượng Công Đức Kinh, khuyết
dịch, phụ Đông Tấn Lục [2], "Phật Thuyết Hiếu Tử Kinh", Thất
dịch nhân danh, phụ Tây Tấn Lục [3].
Trong
ĐẠI TẠNG TÂN TOẢN VẠN TỤC TẠNG KINH tập 21 có rất nhiều chú sớ,
tạm liệt kê như sau :
- Vu-lan-bồn
Kinh Sớ Tân Kư, 2 quyển, ngài Tông Mật sớ vào đời Đường, ngài
Nguyên Hiểu kư vào đời Tống.
- Vu-lan-bồn
Kinh Sớ Hội Cổ Thông Kim Kư, 2 quyển, do ngài Phổ Quán thuật.
- Vu-lan-bồn
Kinh Sớ Hiếu Hạnh Sao Khoa, 1 quyển, phần khoa nghi do ngài
Ngộ Vinh tập định vào đời Tống.
- Vu-lan-bồn
Kinh Sớ Hiếu Hạnh Sao, 2 quyển, gồm 1 bản chánh văn Phật
Thuyết Vu-lan-bồn Kinh, Vu-lan-bồn Niệm Tụng Thức và phần sớ
sao, cũng do ngài Ngộ Vinh sao lục vào đời Tống.
- Vu-lan-bồn
Kinh Sớ Sao Dư Nghĩa, 1 quyển, do ngài Nhật Tân soạn vào đời
Tống.
- Vu-lan-bồn
Kinh Tân Sớ, 1 quyển, do ngài Trí Húc sớ vào đời Minh.
- Vu-lan-bồn
Kinh Sớ Chiết Trung Sớ, 1 quyển, do ngài Linh Huy soạn vào đời
Thanh.
- Vu-lan-bồn
Kinh Lược Sớ, 1 quyển, do ngài Nguyên Kỳ soạn vào đời Thanh.
Trên
đây là các bộ kinh sớ rất nổi tiếng, được xếp vào Đại Tạng
cũng như Tục Tạng; c̣n theo tài liệu của Phật Quang Đại Từ
Điển th́ có đến hơn 60 loại, trong đó có bộ Vu-lan-bồn Kinh Sớ
của ngài Cát Tạng đời Đường, không hiểu sao lại không được xếp
vào Đại Tạng. Bản Kinh Vu-lan-bồn trong ĐẠI CHÁNH TÂN TU ĐẠI
TẠNG KINH và bản được chép trong VU LAN BỒN KINH SỚ HIẾU HẠNH
SAO của ngài Ngộ Vinh tương đối giống nhau, có thể là dị bản
chứ không phải là đồng bản dị dịch, bản trong ĐẠI CHÁNH TÂN TU
tương đối nhiều chữ hơn, câu cú đầy đủ hơn.
Xem qua
các đề kinh sớ trên, ta đủ thấy chư Tổ nhiều đời đă dày công
biên soạn, nào là nghĩa, sớ, sao, kư, chú và có cả khoa nghi
nữa. Đọc qua các bộ này, chúng tôi thấy bộ Vu-lan-bồn Kinh Tân
Sớ của ngài Trí Húc đời Minh là hay nhất. Tác phẩm này được
Đại sư Trí Húc soạn khi Ngài c̣n là Sa-di và được ngài Đạo
Phưởng tham đính [4]. Tác phẩm được chia thành hai phần, phần
1 là một bài tóm lược nội dung và ư nghĩa của kinh; phần 2 là
giải thích cặn kẽ từng chữ của kinh. Văn chương dùng trong tác
phẩm rất hay, giải thích gọn ghẽ nhưng rất sáng sủa, dễ hiểu.
V́ phần này quá dài nên chúng tôi không thể dịch hết nguyên
văn đưa vào đây, chỉ xin trích dịch vài đoạn và tóm lược nội
dung phần giải thích đề kinh :
"Kinh
này lấy pháp cúng làm tên, lấy Tự tánh Tam bảo làm thể, lấy
Hiếu từ làm tông, lấy sự cứu khổ ban vui làm dụng, lấy Đại
thừa làm giáo tướng. Tất cả những phước điền ở thế gian
không ǵ hơn Tam bảo, đạo pháp xuất thế không ǵ trước Hiếu
từ, muốn báo đáp thâm ân không ǵ cần yếu hơn là sự cứu khổ
ban vui, muốn thành tựu được việc tế độ không ǵ lớn lao
bằng pháp Vu-lan..."
Trong
phần đầu này, ngài Trí Húc đă chia giáo tướng của Kinh Vu-lan
thành 5 lớp, trong mỗi lớp lại chia thành 2 phần, một là giải
thích theo sự, hai là giải thích theo nghĩa Quán tâm (lư).
Năm lớp là :
-
Nương
theo sự và pháp Quán tâm để giải thích Danh.
-
Nương
theo sự và pháp Quán tâm để phân biệt Thể.
-
Nương
theo sự và pháp Quán tâm để làm rơ Tông.
-
Nương
theo sự và pháp Quán tâm để hiển bày Dụng.
-
Nương
theo sự và pháp Quán tâm để phán Giáo tướng.
Trong
lớp thứ nhất鬠Đại sư Trí Húc đă giải thích đề kinh là tên của
pháp cúng. Trong pháp cúng ấy có đầy đủ Tam bảo. Nghĩa Tam bảo
trong phần này được giải thích rất tỉ mỉ, có thể nói đây là
cách giải thích Tam bảo sâu rộng nhất. Nghĩa Vu-lan-bồn cũng
được giải thích cặn kẽ, duy có điều ở đây đă giải thích "bồn"
là vật cúng, rồi thăng hoa với những ư nghĩa thật phong phú,
như nói :
"Chén
bát là bồn, bách vị ngũ quả là thức ăn, giải cái khổ treo
ngược nơi ngạ quỷ. Nhiếp tâm là bồn, mười chi là thức ăn,
giải cái khổ treo ngược nơi cơi Dục. Niệm xứ là bồn, hành
quán Tứ đế là thức ăn, giải cái khổ treo ngược nơi ba cơi.
Hoằng nguyện là bồn, Lục độ vạn hạnh là thức ăn, giải cái
khổ treo ngược Tứ khô [5]. Nhất tâm là bồn, bất tư ngh́ quán
là thức ăn, giải cái khổ treo ngược Nhị biên. Nói một cách
cụ thể th́ dùng chén bát (bồn) và bá vị thức ăn làm
cảnh chánh nhân duyên, nếu không có sự th́ lư quán biết dựa
vào đâu ? Nếu không có lư quán th́ lực dụng của sự sẽ không
sâu sắc. Có người chợt nghe thuyết này liền muốn bỏ sự mà
theo lư, nếu quả vậy th́ ngài Mục-liên khi mới được Lục
thông cũng đă thành tựu được Niệm xứ bồn, Tứ đế thực, sao mẹ
của Ngài vẫn chưa thoát khỏi cái khổ nơi đường Ngạ quỷ ?"
Ở phần
Quán tâm của lớp thứ nhất, tác giả cũng đă giải thích pháp
cúng Vu-lan-bồn rất sâu sắc :
"Tịnh
giới là khí (bồn), Vô tác Tứ đế, Bất Tư Ngh́ Quán Huệ
là thức ăn, cúng dường tự tánh Nhất thể Tam bảo, giải thoát
trọn vẹn cái khổ treo ngược của Bát đảo. Sớm đặt chân đến
cảnh giới Nhất thật. Vô minh là cha, Tham ái là mẹ, ngay nơi
đó được giải thoát. Trí độ là mẹ, Phương tiện là cha, nhậm
vận tự tại mà nhập vào trí huệ Vô công dụng, cho nên gọi là
Vu-lan-bồn".
Ở lớp
thứ hai, tác giả nương vào sự để phân biệt Thể của kinh. Sư
nói :
"Tất
cả các kinh đều có chánh thể, nếu không có chánh thể th́
không thể phân biệt được tà đảo, như vậy th́ thành ma thuyết.
Các kinh điển Đại thừa đều luận Thật tướng là ấn, là chánh
thể của kinh. Thật tướng tuy có một nhưng có nhiều tên gọi.
Như trời Đế Thích chỉ có một người nhưng có nhiều tên, cùng
khắp các cơi trời. Thật tướng cũng vậy ! Một pháp nhưng có
nhiều tên gọi, cùng khắp các kinh điển. Tên kinh th́ khác,
nhưng lấy cái khác đó để gọi cho một cái thể chung, đối với
lư th́ chẳng sai. Nay trong Kinh Vu-lan nói : "Phải nhờ thần
lực của mười phương tăng". Lại nói : "Trước khi thọ thực đàn
trai... trước Phật tiền hoặc tự tháp trung, chư tăng chú
nguyện viên dung, sau rồi mới tự thọ dùng bữa trưa". Như vậy,
chú nguyện tức là pháp, có đầy đủ Tam bảo. Ngài Mục Liên lại
nói : "Lại cũng nhờ oai thần Tam bảo", Tam bảo ở đây chính
là Tự Tánh của tất cả chúng sanh. Nếu không có đủ công đức
của Tam bảo th́ phàm và thánh xa nhau, tối và sáng măi cách
ngăn, phàm không cảm được mà thánh cũng chẳng ứng được. Tâm,
Phật và chúng sanh, cả ba vốn không sai biệt, mê và ngộ tuy
khác nhau nhưng thể tánh vẫn thường nhất. Do đó chư Phật ở
trong tâm chúng sanh, nương theo sự mà gửi cái lư. Cảm được
chư Phật trong tâm chúng sanh th́ chư Phật trong tâm chúng
sanh vô duyên vô niệm, nhậm vận mà ứng hiện..."
Tiếp
theo, tác giả phân biệt Tam bảo có 4 nghĩa, rồi giải thích cặn
kẽ 4 nghĩa này, bao hàm Trụ tŕ Tam bảo, Thắng nghĩa Tam bảo,
Đại thừa biệt tướng Tam bảo và Nhất thể Tam bảo. Sau đó, tác
giả lại nương vào pháp Quán tâm để biện biệt Thể của kinh, đại
ư "Tất cả chúng sanh tức là tướng của Niết-bàn, không thể đoạn
diệt, chư Phật cầu giải thoát ngay nơi tâm hạnh chúng sanh.
Nếu quán tâm như thế th́ có thể đầy đủ tất cả Phật pháp. Cho
nên nói : Biển Chánh Biến Tri của chư Phật từ nơi tâm tưởng
chúng sanh. Nếu không quán tâm để phân biệt rơ cái thể ấy của
kinh th́ làm sao nói rằng trong mỗi sát-na đều nhớ nghĩ đến
cha mẹ mà tu hiếu từ đây ?"
Lớp thứ
ba là nương nơi Sự để làm rơ Tông chỉ. Đại sư Trí Húc viết :
"Giới
tuy có nhiều vô lượng, nhưng lấy Hiếu làm tông. Vạn hạnh tuy
nhiều, nhưng Hiếu hạnh vẫn là đứng đầu. Do đó, Đức Thích-ca
từ vô lượng kiếp đă luôn tu hạnh Báo hiếu; ngài Mục Liên
ngay khi thành đạo đă liền nghĩ đến ân bú mớm của cha mẹ,
nên biết không phải sau khi thành đạo mới nghĩ đến cha mẹ,
mà là do nhân duyên muốn báo đáp thâm ân mới tu Thánh đạo.
Giống như Địa Tạng Vương Bồ-tát, kiếp xưa vốn là người con
gái Bà-la-môn, v́ muốn cứu độ mẹ nên mới phát Đại Bi Tâm,
khi nào c̣n một chúng sanh đau khổ th́ nguyện không thành
Phật đạo. Nhân duyên phát tâm của chư Phật, Bồ-tát cũng
tương tợ như thế".
Tiếp
theo, Đại sư Trí Húc phân biệt chữ Hiếu thành hai nghĩa là
Hiếu thế gian và Hiếu xuất thế gian, trong đó mỗi loại lại
chia chẻ thành nhiều nghĩa để phân tích, dẫn chứng những gương
hiếu hạnh của thế gian và xuất thế gian, của nội giáo và ngoại
giáo. Đồng thời, đoạn này c̣n trích dẫn nhiều kinh luận liên
quan để chứng minh, hiển bày rơ tông chỉ của Kinh Vu-lan, như
trích dẫn Luật Ngũ Phần, Kinh Phật Thuyết Hiếu Tử, Kinh Tỳ-ni
Mẫu, Kinh Đốc Ư, Kinh Lễ của Nho gia... Nói chung, đoạn này
tác giả đă tham khảo rất nhiều kinh sách, trích dẫn nhiều danh
ngôn, sử dụng nhiều điển cố để dẫn dụ đâu là hiếu thế gian,
đâu là hiếu xuất thế gian, pháp nào thuộc về quyền (phương
tiện), pháp nào thuộc về thật (cứu cánh).
Ở đoạn
kế tiếp, tác giả làm sáng tỏ ư nghĩa "Tâm từ bi chính là hiếu".
Từ bi ở đây có 3 hạng : Sanh duyên từ, Pháp duyên từ và Vô
duyên từ.
Sanh
duyên từ là quán tất cả chúng sanh tưởng như cha mẹ. Cho nên
Kinh Phạm Vơng nói : "Tất cả người nam là cha ta, tất cả người
nữ là mẹ ta. Ta đời đời thọ sanh nơi họ". Khi quán tưởng như
thế, tất cả kẻ oán người thân đều b́nh đẳng. Trong bảy cảnh
giới, tuần tự ban cho họ ba niềm vui, lấy đó để điều phục sân
hận, phiền năo, san tham và tật đố, cho đến chứng được Từ Tâm
Tam-muội. Hễ ai có duyên với ta th́ ta đều cứu khổ ban vui cho
họ. Thâm ân của cha mẹ là sâu dày hơn cả, cho nên cha mẹ là
những người đầu tiên mà ta phải cứu khổ ban vui.
Pháp
duyên từ là quán tất cả các pháp đều từ duyên sanh. Cho nên
Kinh Phạm Vơng nói : "Tất cả đất, nước là thân trước của ta;
tất cả lửa gió là chính thân thể của ta". Chúng sanh đều do Tứ
đại (địa, thủy, hỏa, phong) hợp thành, không nhân ngă,
không thọ mạng, Tứ đại đă không hai th́ Từ tâm duyên đến cũng
bất nhị. Khi quán tưởng như thế, kẻ oán người thân đều cùng
một tướng, cho đến chứng đắc Từ Tâm Tam-muội, năng lực cứu khổ
ban vui c̣n thù thắng hơn Sanh duyên từ.
Vô
duyên từ là biết rơ Tâm, Phật và chúng sanh, cả ba chẳng có ǵ
sai khác. Cả pháp giới là nhất tướng, chân thật b́nh đẳng,
không trụ ở tướng của pháp và tướng của chúng sanh, quán Bồ-đề
tức Phiền năo, Niết-bàn tức Sanh tử, khởi thệ nguyện Vô tác,
phá trừ gốc khổ; quán Phiền năo tức Bồ-đề, Sanh tử tức
Niết-bàn, khởi thệ nguyện Vô tác, ban phát niềm an lạc. Từ ở
đây chính là Bi, Bi ở đây chính là Từ, xứng tánh khởi tu pháp
viên đốn, hiện thành Tam-muội. Năng lực Đại từ bi này không
thể nghĩ bàn.
Trong
ba pháp Từ trên, Sanh duyên từ là pháp tu của chung cả Tam
thừa, nhưng hàng Nhị thừa th́ không có hoằng nguyện lợi tha;
Pháp duyên từ th́ hàng Nhị thừa cũng có một số ít tu tập được,
c̣n chính là pháp tu của Bồ-tát; c̣n Vô duyên từ chính là
Trung đạo đệ nhất nghĩa, hàng Nhị thừa không thể vói tới nổi.
Ở đây, ư nghĩa Kinh Vu-lan đă trở thành pháp tu Đại thừa cao
tột mà nếu không có căn cơ Đại thừa th́ khó có thể lănh hội
được. Đại sư Trí Húc đă trích dẫn lời của Nho gia để làm rơ
tông chỉ : Vô cớ mà làm thương hại đến một côn trùng, không
phải là hiếu; vô cớ mà làm tổn hại đến một lá cây ngọn cỏ,
không phải là hiếu. Nho gia c̣n nói như vậy, huống là Phật đạo
thậm thâm ? Tóm lại, hiếu thuận cha mẹ, sư tăng, Tam bảo chính
là pháp hiếu thuận cao tột.
Ở phần
Quán tâm để làm rơ tông chỉ, tác giả đă phân tích rằng ngay
nơi một niệm hiện tiền mà có đầy đủ Tam bảo, tùy thuận quán
sát th́ gọi là Hiếu. Như vậy, mê là bất hiếu và ngộ là hiếu.
Khởi tâm động niệm mà trái nghịch với pháp tánh th́ cả thập
giới c̣n mê huống ǵ cha mẹ. "Ngộ th́ Trí Độ Mẫu, Phương Tiện
Phụ cùng được giải thoát; Mê th́ Vô Minh Phụ, Tham Ái Mẫu cùng
đọa vào nẻo khổ".
Lớp thứ
tư là nương nơi sự để hiển bày lực dụng của kinh. Về phần dụng,
Đại sư Trí Húc đă nói hết sức ngắn gọn, bởi hiểu được Danh,
Thể và Tông rồi th́ Dụng của Kinh không cần tŕnh bày cũng tự
rơ. Nói chung, "cứu khổ ban vui" chính là Dụng của Kinh. Cứu
khổ sanh tử, ban vui Niết-bàn; cứu cái khổ Nhị biên, ban niềm
vui Trung đạo... Ở phần Quán tâm để hiển dụng, Sư nói : Chỉ
cần quán một niệm hiện tiền có đầy đủ thể tánh Tam bảo th́ có
thể bạt trừ được tự tánh Khổ, Tập trong mười cơi một cách trọn
vẹn, cùng với tự tánh của mười cơi tịch diệt viên măn.
Lớp thứ
năm là nương theo sự để phán thích giáo tướng của kinh. Lư
luận ở đoạn này rất sắc bén, minh tuệ. Trước hết, Sư nói Kinh
này thuộc về giáo Đại thừa Phương Đẳng. Rồi lư luận rằng cả
hai tạng Đại thừa và Tiểu thừa đều thâu về Bồ-tát tạng. Có
người hỏi : Ngài Mục-kiền-liên chứng được lục thông trong lúc
Đức Phật giáo hóa mới có 12 năm, tức thuộc thời kỳ giáo lư A-hàm,
sao gọi là thuộc Đại thừa Phương Đẳng ? Sư đáp : Người chỉ
biết 5 thời riêng biệt mà không biết được cái nghĩa chung của
5 thời, cần phải dựa trên nghĩa lư để xác định nghĩa vị của
kinh ấy thuộc bộ nào mới khỏi sai lầm. Ở phần Quán tâm để phán
thích giáo tướng, Sư nói : Tâm có đầy đủ các thừa nên chính
tâm là giáo tướng. Nếu Tâm là Đại thừa th́ không có ǵ không
chuyên chở hết. Chỉ cần thành tựu một niệm quán tâm này th́ có
thể chuyển hóa hết tất cả tâm, tâm sở. Nếu không nương nơi Sự
để giải thích kinh th́ không thể hiểu được những điều mà Đức
Như Lai đă ân cần giáo hóa. Nếu không dựa vào sự Quán tâm mà
giải thích th́ không thể trong tất cả thời thường tu pháp cúng
Vu-lan-bồn. Trong kinh nói : Trong từng ư niệm thường phải
nghĩ đến cha mẹ v.v... chính là Đức Phật dạy chúng ta phải
Quán tâm. C̣n kinh nói : Ngày Rằm tháng Bảy mỗi năm đều tác
pháp Vu-lan-bồn... chính là Đức Phật dạy chúng ta phải tu theo
Sự. C̣n nói : Tất cả Phật tử phải nên phụng tŕ pháp này,
chính là khuyên chúng ta phải hành tŕ cả hai pháp Sự và Quán.
Đại sư Trí Húc cho rằng chúng sanh từ vô thủy kiếp trôi lăn
trong sanh tử vô minh, mê cả lư lẫn sự, phiền năo và ác nghiệp
nặng nề nên cần phải Sự Quán song tu.
Toàn bộ
năm lớp Sự quán nói trên chỉ là giải thích đề kinh, sau đó
ngài Trí Húc mới bắt đầu nhập văn giải thích. Từng câu từng
chữ được Ngài phân tích thấu đáo, dẫn chứng cụ thể, đủ thấy
giá trị của tác phẩm này. Tuy nhiên, để hiểu sơ lược ư nghĩa
Kinh Vu-lan, chỉ cần hiểu đề kinh là cũng đủ cho ta thấy được
tầm quan trọng và giá trị đích thực của kinh này trong Tam
Tạng giáo của Phật. Hiểu được như thế th́ việc tụng đọc, thọ
tŕ của chúng ta mới có ích lợi thật sự. Chúng ta đă khởi được
niệm Từ nào khi tụng đọc Thánh điển thậm thâm ?
V. Lạm bàn về lễ Vu-lan ở Việt Nam
Phật
giáo truyền vào Việt Nam đă 20 thế kỷ. Chúng ta thường ca ngợi
Phật giáo là nguồn sống của dân tộc, văn hóa Phật giáo là văn
hóa dân tọ䣮 Đặc trưng của văn hóa trong dân gian, không ǵ có
tính đại chúng bằng lễ hội. Lễ hội biểu hiện được nét đẹp tín
ngưỡng, h́nh thái phong phú, vui tươi và lành mạnh. Lễ hội c̣n
có tác dụng hướng đạo, khuyến hóa rộng răi nhất. Cho nên, muốn
phát triển văn hóa Phật giáo, việc chú trọng lễ hội là việc
làm hết sức cần thiết.
Trong
Phật giáo, đặc biệt là Phật giáo Việt Nam, lễ lớn chỉ có hai
ngày : Phật Đản và Vu-lan. Các lễ hội mùa Xuân mặc dù mang
nặng màu sắc Phật giáo, nhưng nói cho cùng, đó là lễ hội ảnh
hưởng từ tín ngưỡng Phật giáo chứ chưa phải là lễ hội Phật
giáo đích thực. Ở miền Trung và miền Bắc Việt Nam có rất nhiều
lễ hội truyền thống gắn liền với chùa chiền được duy tŕ, gần
như tỉnh nào cũng có, như Lễ hội chùa Hương, chùa Thầy (Hà Tây),
giỗ Đức Thánh Trần (Côn Sơn, Kiếp Bạc - Hải Hưng), hội chùa
Dâu (Hà Bắc), hội Quán Âm (Ngũ Hành Sơn - Đà Nẵng) v.v...
Nhưng, những lễ hội này chỉ mang tính chất địa phương, mang
nặng màu sắc tín ngưỡng dân gian. Giáo lư Phật giáo nói chung
và nét đẹp văn hóa đặc thù của Phật giáo gần như chưa được chú
ư.
Thiển
nghĩ, một ngày lễ như lễ Noel của Thiên Chúa giáo - một tôn
giáo mới được truyền vào Việt Nam mấy trăm năm, với lượng tín
đồ chưa được 1/10, mà lễ Noel đă được người ta chào
đón rầm rộ ở các tỉnh thành như thế nào. Trong khi lễ Phật Đản
hoặc Vu-lan, với truyền thống và lượng tín đồ đông đảo gần như
tuyệt đối, tại sao lễ Phật Đản và Vu-lan không được nâng lên ở
hàng Quốc lễ ?
Văn hóa
là quốc hồn quốc túy của dân tộc. Hẳn không ai dám phủ nhận
vai tṛ của Phật giáo trong kho tàng văn hóa dân tộc. Thế mà
thực chất, ngay nơi hàng ngũ tín đồ Phật giáo, hai chữ Vu-lan
đối với họ cùng c̣n mơ hồ.
Trong
ca dao dân gian có câu : "Tháng Bảy ngày Rằm xá tội vong
nhân".
Xá tội
vong nhân thôi ư ? Thế th́ ư nghĩa tích cực của Vu-lan nằm ở
chỗ nào, nếu ngoài ư nghĩa hiếu hạnh mơ hồ đối với người đă
khuất ? Điều này không thuộc về phía quần chúng, lại cũng
không phải của nhà nước, mà là của những người lănh đạo tinh
thần, đại diện là Giáo hội Tăng-già.
Không
đơn thuần chỉ là bảo vệ nét đẹp truyền thống, bởi như trên đă
nói, truyền thống về lễ Vu-lan ở Việt Nam chưa có ǵ đặc sắc
lắm. Chúng ta c̣n cần phải phát huy, t́m ṭi những thứ hay,
những điều tốt đẹp nơi những nền văn hóa khác, miễn sao phù
hợp với giáo lư và tín ngưỡng của tôn giáo ḿnh. Chắc hẳn có
người sẽ cho như thế là lai căn, là vay mượn ? Th́ đă sao nào
? Ngay đến việc "Bông hồng cào áo" chẳng phải là sự vay mượn
của một văn hóa khác đó sao ? Thế mà từ khi nó được thực hiện
ở Việt Nam (khoảng thập niên 60) đến nay, biết bao nhiêu loại
h́nh nghệ thuật đă theo đó mà nảy mầm, nào là thơ, nhạc, họa,
kịch..., đến nỗi nếu không biết, dù hết sức mới mẻ, nhiều
người vẫn cứ tưởng chuyện cài hoa hồng trong lễ Vu-lan là "nét
đẹp truyền thống" của Phật giáo. Chúng ta nghĩ ǵ về vấn đề
này ?
Nguyên
nhân mà lễ Vu-lan không được nhân rộng và tổ chức thành lễ hội
đàng hoàng, theo thiển ư của chúng tôi, là v́ lễ Vu-lan chỉ
được tổ chức tập trung tại các chùa viện. Phật tử ghi tên cầu
siêu Cửu huyền thất tổ, mỗi gia đ́nh một cái sớ dài lê thê, có
chùa đọc mỗi đêm mấy tiếng đồng hồ mới xong tên của các hương
linh. Phật tử đến ngồi lắng nghe tới tên cha mẹ, gia đ́nh của
ḿnh, ngáp ngắn ngáp dài chờ đợi. Ở trên th́ đọc lướt thật
nhanh cho mau hết, ở dưới th́ nghe không kịp, nhiều khi đọc
qua rồi mà không biết, đâm ra lo lắng, sợ cha mẹ ḿnh không
nghe được tên th́... không biết rằng ḿnh có hiếu (!). Ngày lễ
Vu-lan không phải là Quốc lễ, hàng Phật tử ai đến chùa th́
được nghe pháp, tụng kinh, tham dự các hoạt động văn hóa như
văn nghệ, cài hoa. C̣n nhiều người bận việc làm ở công sở th́
không thể đến chùa trong ngày này, nên lâu dần quên cả ngày
Đại lễ mà Phật giáo thường gọi là Vu-lan Thắng Hội. Thắng hội
là hội lớn, hội thù thắng hơn hết, nhưng rốt cuộc chỉ c̣n trên
danh nghĩa.
Vào
ngày lễ Noel, các tín đồ Thiên Chúa mỗi nhà đều có sắm sửa một
cây thông, treo đèn hoa lộng lẫy để đón mừng. Tại sao ta không
khuyến tấn Phật tử cũng tổ chức lễ Vu-lan trong từng gia đ́nh
? Chẳng hạn như cũng quét dọn nhà cửa sạch sẽ, quy định một
giờ giấc nào đó trong ngày Rằm tháng Bảy, con cái sẽ tặng hoa
cho cha mẹ, nói một điều ǵ đó để tỏ ḷng hiếu thuận, cũng
treo đèn hoa, thắp nến, chọn hoa sen làm biểu tượng Phật giáo
để trưng bày trong ngày này. Nếu giáo hội soạn được một nghi
thức đàng hoàng cho buổi lễ cài hoa trong gia đ́nh được th́
càng tốt. Sau buổi lễ tại gia đ́nh, Phật tử sẽ đến chùa nghe
pháp, hoặc dự một lễ hội mang tính chất đại trà tổ chức đặc
biệt tại một cơ sở Phật giáo nào đó trong quận huyện, làng xă.
Lễ hội tập trung phải hết sức đặc biệt, như triển lăm tranh
tượng, thư pháp, hàng mỹ nghệ với chủ đề Vu-lan, tổ chức văn
nghệ, ca hát, phát hành các đặc san nói về công ơn cha mẹ, tổ
chức các cuộc thi mang h́nh thái sinh hoạt dân gian như đua
thuyền, biểu diễn vơ thuật v.v... Người đến tham dự lễ hội
không nhất thiết phải là Phật tử mà bất kỳ già trẻ sang hèn,
không phân biệt tôn giáo, đẳng cấp. Dần dần, h́nh thức lễ hội
này sẽ thành truyền thống, tốt đẹp và lợi lạc biết bao, tác
dụng giáo hóa của nó cũng hữu hiệu vô cùng.
Trên
đây cũng chỉ là gợi ư, hy vọng những người có tâm đối với văn
hóa Phật giáo sẽ tư duy và sáng tạo, để cho ngày lễ Vu-lan trở
thành một ngày lễ có ư nghĩa quan trọng và ảnh hưởng sâu sắc
đến toàn thể quần chúng Việt Nam.
Chú Thích
(1) Theo VU-LAN-BỒN KINH TÂN SỚ của ngài Trí
Húc, Ngũ quả là chỉ cho 5 phần của một cây : Căn, hành, diệp,
hoa, quả (rễ, thân, lá, hoa, quả). C̣n theo VU-LAN-BỒN
KINH SỚ HIẾU HÀNH SAO của ngài Ngộ Vinh, Ngũ quả gồm : 1/ Hạch
quả (loại quả có hạt, như Táo, hạnh, đào, lư...), 2/
Phu quả (loại quả có da, như Dưa, lê, táo tây, dâu...),
3/ Xác quả (loại quả có vỏ, như Dừa, hồ đào, thạch lựu...),
4/ Cối quả (loại quả có vỏ sần sùi, như Tùng, bá...),
5/ Giác quả (loại quả có góc cạnh, như Ấu, các loại đậu...).
(2) (bản đời Tống đề là Thất dịch, phụ Tây Tấn
Lục, bản đời Nguyên và bản đời Minh đề là Thất dịch nhân danh,
phụ Đông Tấn Lục).
(3) (bản đời Tống và đời Nguyên ghi là Thất
dịch, bản đời Minh ghi là Thất dịch nhân danh).
(4)Bồ-tát Sa-di Cổ Ngô Trí Húc tân sớ, Bồ-tát
Tỳ-kheo Ôn Lăng Đạo Phưởng tham đính.
(5) Tứ khô : Gọi đủ là Tứ khô tứ vinh (Bát
đảo), tức 4 thứ chấp trước Vô thường, Phi lạc, Vô ngă và
Bất tịnh của hàng Nhị thừa (Tứ khô) và 4 thứ chấp trước
Thường, Lạc, Ngă, Tịnh của phàm phu (Tứ vinh).
|