|
BÍ MẬT NGUỒN
GỐC DÂN BA TỈNH
QUẢNG B̀NH,
QUẢNG TRỊ VÀ THỪA THIÊN
bài của An Phong Nguyễn Văn Diễn
LGT. Chương II mục 9 tác phẩm Khảo luận Văn Chính Sử mang tên
“Đường Ta Đi” của nhà văn An Phong Nguyễn Văn Diễn, gốc Chợ
Săi Quảng Trị. Trong mục này ông có bàn tới một vấn đề quan
trọng liên quan tới nguồn gốc dân Quảng Trị và ông đặt tên là
“Nghi vấn lịch sử: Lâm Ấp có phải là Chàm không, Nước Việt
Thường ở đâu?”. Đây là một tài liệu hấp dẫn và quí giá cho
những ai quan tâm đến lịch sử đất Quảng B́nh, Quảng Trị, Thừa
Thiên và nguồn gốc những người dân sống ở đó.
Chúng tôi mạnh dạn đưa tài liệu này lên trước dư luận
nhất là đối với các Học giả, Sử gia để cùng soát xét lại “Nghi
vấn lịch sử” mà ông cho rằng các sử gia Việt Nam xưa và nay đă
lầm lẫn.
II/9 .- NGHI VẤN
LỊCH SỬ : LÂM ẤP CÓ PHẢI LÀ CHÀM KHÔNG. NƯỚC VIỆT THƯỜNG Ở ĐÂU
?
Nhân khi nói
tới các nước Bách Việt ở phía Bắc thoát ly từ quốc gia Văn
Lang, xưng độc lập, rồi dần dần bị Hoa tộc xâm chiếm, chúng
tôi xin mời quư độc giả trở lại thăm nước Việt Thường. Nước
Việt Thường được nhắc đến rất nhiều trong lịch sử Việt cũng
như Trung Hoa và gây nhiều tranh luận về vị trí của nước này.
Chẳng những thế, từ nước này mà phát sinh ra nhiều nghi vấn
lịch sử rất quan trọng khác trong giai đoạn 1.000 năm lệ thuộc
Trung Hoa.
Chúng tôi
xin tŕnh trước công luận một số tài liệu liên quan đến vấn đề
này.
- LÂM ẤP CÓ PHẢI
LÀ CHIÊM THÀNH KHÔNG?
- NƯỚC VIỆT
THƯỜNG Ở ĐÂU?
- NGUỒN GỐC 3
LÀNG LONG HƯNG, ĐẠI NẠI Ở
QUẢNG TRỊ
VÀ MỘ TRẠCH Ở THỪA THIÊN?
- CHUYỆN CHÙA
PHẬT LỒI Ở LÀNG NHAN BIỀU, QUẢNG TRỊ
- NGÔN NGỮ VÀ
VĂN NGHỆ VIỆT THƯỜNG
II/9A .- SỬ TẦU –
SỬ VIỆT
Sử gia Việt
Nam khi viết sử Việt từ giai đoạn lệ thuộc Trung Hoa trở về
trước thường truy cứu từ sử Trung Hoa. Sử gia Trung Hoa khi
ghi chép các chuyện ở biên ngoại, họ thường dựa theo báo cáo
của bọn quan lại trấn nhậm. Bọn này đa số là bọn có tội bị đày,
tham nhũng, gian ác… nói chung là bọn sâu dân mọt nước. Làm
th́ lếu, báo cáo th́ hay, miễn sao có lợi cho họ… Do vậy, lịch
sử Việt Nam trong thời kỳ Trung Hoa đô hộ trở về trước không
khỏi bị tŕnh bày sai lạc. Điển h́nh là “giặc” Lâm Ấp mà bọn
quan lại đô hộ Tầu này gán cho người Chàm để chạy tội.
Mặt khác,
nguồn gốc quốc gia Việt Thường của người Lâm Ấp cũng nằm trong
chủ trương bôi xóa dấu ấn Bách Việt nhằm mục đích đồng hóa
“Man di” và chia rẽ hai dân tộc Việt Lạc và Việt Thường.
Tuy nhiên,
người Trung Hoa khi chép sử các nước Việt phương Nam đă vô
t́nh để lộ ra nhiều sơ hở khiến chúng ta có thể suy ra những
sự thực khi t́m về nguồn gốc của người Lâm Ấp. Sau đây là
những sự kiện rất lư thú và quan trọng mà chúng tôi xin đề
nghị các sử gia Việt Nam ngày nay xét lại.
II/9B .- LÂM ẤP
LIÊN MINH LẠC VIỆT NỔI DẬY
ĐÁNH
ĐUỔI ĐÔ HỘ TRUNG HOA
Sử gia Phạm
Cao Dương trong sách Lịch Sử Dân Tộc Việt Nam, từ trang 114
đến trang 122 đă dẫn rất nhiều sách sử Trung Hoa để tŕnh bày
tiểu mục “Người Lâm Ấp quấy phá Giao châu” chúng tôi xin trưng
dẫn những đoạn như sau (Những đoạn có danh mục A, B, C… chữ
nghiêng là phần trích dẫn):
A. “Lâm Ấp:
Quốc giới của Việt Thường thời xưa, đời Tần là huyện Lâm Ấp
thuộc Tượng Quận … tr.117…
Đời nhà Tần,
Tầu chỉ mới chiếm được vài nước Bách Việt ở sát bờ sông Dương
Tử (Trường Giang) mà nước Việt Thường là một. Họ đổi tên nước
Việt Thường thành huyện Lâm Ấp. Vậy Lâm Ấp có thể là tên một
địa danh quan trọng của nước Việt Thường và nằm trong nhóm
nước bị nhà Tần chiếm rồi gom lại thành một quận gọi là Tượng
Quận. Tượng Quân không nằm ở Việt Nam mà nằm bên Tầu, sát với
bờ Nam sông Dương Tử.
Câu B và C
dưới đây do chúng tôi ngắt ra khỏi câu A:
B. “… đời
Hán đổi làm huyện Tượng Lâm thuộc quận Nhật Nam.” tr. 117
C. ”Trung
tâm của nước này theo các nhà khảo cứu hiện đại là các vùng kế
cận thành phố Huế ngày nay” tr.116,
Huyện Lâm Ấp
thuộc Tượng Quận ở bên Tầu thời Nhà Tần và huyện Tượng Lâm
thuộc quận Nhật Nam ở vùng Quảng B́nh, Quảng Trị và Thừa Thiên
thời lệ thuộc nhà Hán là hai địa bàn khác nhau, cách nhau
nhiều ngàn cây số; c̣n thời gian của hai giai đoạn này cách
nhau chừng 260 năm. (Kể từ năm 221 tr.CN, Tần Thủy Hoàng sai
Đồ Thư đem nửa triệu quân xâm lăng các nước Việt phương Nam
đến năm 43 sau CN, Mă Viện thôn tính nước ta vào thời Hai Bà
Trưng).
Sử gia Phạm
Cao Dương và nhiều sử gia khác nghĩ rằng Quảng B́nh, Quảng Trị,
Thừa Thiên là quốc giới của nước Việt Thường, có nghĩa nước
Việt Nam xưa có tên là Việt Thường. Cách suy nghĩ này không
đúng v́ lẫn lộn hai địa danh cùng mang tên Lâm Ấp và Việt
Thường vừa ở bên Tầu vừa ở bên ta, do vậy gây nhiều sai lầm
khác rất quan trọng, chúng tôi sẽ bàn tới ở tiểu mục nước Việt
Thường ở đâu?
D. Trong
“Bulletin des Amis du Vieux Huế” (Đô Thành Hoài Cổ), Học giả
Đào Duy Anh viết bài “Les colonnes de bronze du Mă Viện”xác
định rằng trụ đồng Mă Viện ở núi Đồng Trụ cũng gọi là núi Lam
Thành thuộc tỉnh Nghệ An. Ông nói rằng sách Ngô Lục và sách
Tùy Thư đều chép như thế,
E. “… dẹp
xong tàn quân của tướng Đô Dương ở huyện Cư Phong, quận Cửu
Chân, Mă Viện kéo quân vào Nhật Nam, tiến sát vùng biên giới
th́ dân Chàm đem vàng bạc dâng cống chúc mừng. Mă Viện liền
tâu xin phong cho dân Chàm ở đất Tượng Lâm.(Nguồn gốc Mă Lai
Của Dân Tộc Việt Nam, B́nh Nguyên Lộc)
F. Sử gia
Phạm Văn Sơn trong Việt sử Tân Biên (tr.198) chép theo sách
Lĩnh Ngoại: Cột đồng Mă Viện ở Lâm Ấp (Chiêm Thành). Ông chép
thêm: Khâm Định Việt Sử Tiền Biên, Nghệ An Thi Tập, Vân Đài
Loại Ngữ… cũng nói Đồng Trụ ở Lâm Ấp… tại Nghệ An huyện Hưng
Nguyên có một ḥn núi gọi là Đồng Trụ ăn vào giữa làng Phú
Điền và Nghĩa Liệt. Núi này ở đồng bằng đột khởi lên một ngọn
cao chạy thẳng xuống Lam Giang…
G. “Sự xuất
hiện của người Chàm đă được sử Trung Hoa nói tới trong một
biến cố xảy ra ở huyện Tượng Lâm thuộc quận Nhật Nam trong
thời Đông Hán, đời Ḥa Đế niên hiệu Vĩnh Nguyên thứ 14, tức
năm 102 sau TL. Năm đó hơn 3000 người ở huyện này đă nổi lên
cướp phá, đốt các dinh thự… Để đề pḥng những cuộc biến loạn
mới, nhà Hán đặt chức Tướng Binh Trưởng Sử ở huyện này”
Tr.114.
Đất Quảng
B́nh, Quảng Trị, Thừa Thiên tên cổ là Địa Lư Châu, Ma Linh
Châu va` Bố Chiùnh Châu là đất hoang “khỉ ho c̣ gáy, cho ăn đá
gà ăn muối…” Tuy nhiên, t́m hiểu việc làm của Mă Viện trong
cuộc xâm lược đất Lĩnh Nam th́ chúng tôi thấy rất rơ:
Sau khi Mă
Viện diệt nhà Trưng và chiếm cứ toàn bộ đất Lĩnh Nam và miền
Bắc Việt Nam, y kéo quân vào vùng biên giới quận Nhật Nam.
Người Lâm Ấp rất lo sợ, họ đem vàng bạc, châu báu “dâng cống”
cho Mă Viện và xin quy phục. Mă Viên bèn xin Hán triều đặt tên
vùng đất người Lâm Ấp đang cư trú ở vùng Địa Lư, Ma Linh và Bố
Chiùnh là huyện Tượng Lâm, bổ nhiệm huyện lệnh Tầu lo việc cai
trị và đặt huyện này dưới quyền thống trị của Thái thú quận
Nhật Nam. Cái khéo của Mă Viện là kết hợp đất Tượng Quận và
huyện Lâm Ấp ở bên Tầụu thành huyện Tượng Lâm cho người Lâm Ấp
ở bên Việt (Hầu hết các Sử gia Việt đều tưởng rằng: địa danh
Tượng Quận ở phía Nam sông Dương Tử là tên cũ của địa danh
Tượng Lâm và cho rằng Quảng B́nh, Quảng Trị, Thừa Thiên là đất
Tượng Quận).
Chẳng những
thế, y cướp đoạt hàng ngàn trống đồng và các dụng cụ bằng đồng
dùng trong việc thờ cúng của dân Việt đúc thành một trụ đồng
rất lớn và trồng giữa ranh giới Nghệ An và Quảng B́nh để phân
biệt đất Lâm Ấp và đất Lạc Việt dù rằng Tượng Lâm cũng là một
huyện trực thuộc quận Nhật Nam.
Mă Viện biết
rất rơ đám dân hối lộ vàng bạc cho y là con cháu người Lâm Ấp
(Bách Việt) ở Tượng Quận (bên Tầu) nên y đặt tên huyện Tượng
Lâm và phong đất này cho họ. Tuy nhiên y vẫn cứ gọi họ là Chàm
và trồng trụ đồng giữa biên giới hai tỉnh Nghệ An và Quảng
B́nh, tại sao? – Rơ ràng y muốn dấu tung tích của đám dân này
để chia rẽ hai đồng chủng Việt Lạc và Việât Thường.
Kể từ đoạn
nầy, chúng tôi chỉ nói về người Lâm Ấp ở địa bàn Tượng Lâm và
xin quư độc giả tạm quên địa bàn “huyện Lâm Ấp và Tượng Quận
bên Tầu”. Khi minh định Lâm Ấp không phải là Chàm, chúng tôi
sẽ dùng lại huyện Lâm Ấp này.
Huyện Tượng
Lâm thuộc quận Nhật Nam là một trong 9 quận Việt cổ đang bị
Tầu đô hộ. Ba ngàn dân huyện Tượng Lâm nổi dậy tấn công huyện
lỵ, đốt phá các dinh thự... Vậy đây không phải là Chàm xâm
lăng “nước ta” mà là dân Lâm Ấp ở huyện Tượng Lâm nổi dậy
chống lại quan quân đô hộ. Rơ ràng bọn quan lại đô hộ Tàu đă
vu cáo cho Chàm để chạy tội tham ô, gian ác, hiếp đáp dân lành
đến độ dân chúng huyện Tượng Lâm đă nổi lên “làm loạn”!
H. “Năm 137,
Hậu Hán Thư lại ghi rằng người Man ở cơi xa thuộc huyện Tượng
Lâm, quận Nhật Nam là bọn Khu Liên đem vài ngàn người đánh
huyện Tượng Lâm, đốt thành quách, công sở, giết người Trưởng
lại. Thứ sử Giao Châu là Phàn Diễn đem hơn một vạn quân thuộc
hai quận Giao Chỉ và Cửơu Chân đến cứu, nhưng quân lính sợ
phải đi xa đă quay lại đánh phá phủ lỵ . Phàn Diễn tuy dẹp
được bọn quân sĩ làm phản nhưng thế lực quân Man mỗi ngày một
mạnh” (Tr.114)
Lại dân Man
(Lâm Ấp) nổi dậy dưới sự lănh đạo của một người (tộc trưởng?)
tên là Khu Liên. Họ đốt phá thành quách, công sở và giết
Trưởng lại Tầu chứ không cướp bóc của dân Việt. Hơn một vạn
quân Giao Chỉ và Cửu Chân được điều động tới dẹp loạn. Một vạn
quân này hẳn là người Lạc Việt mới hợp tác với quân Lâm Ấp
đánh lại bọn quan lại Trung Hoa. Sau vụ này, huyện lỵ Tượng
Lâm vẫn c̣n nằm trong tay nghĩa quân Tượng Lâm.
I. “Năm
sau (năm 138), Thị Ngự Sữ Giả Xương sang công cán ở quận Nhật
Nam đă cùng với các châu quận hợp sức đánh Khu Liên nhưng đánh
không lại, lại bị bọn Khu Liên phản công và bao vây hơn một
năm khiến quân Hán lâm vào t́nh trạng thiếu lương ăn và vua
Hán lo ngại triệu tập các Công khanh … Sau nhiều cuộc nghị
luận sôi nổi, cựu thứ sử Tinh Châu là Chúc Lương và Trương
Kiều, người đă dẹp giặc Ích Châu đă được triều đ́nh bổ làm
thái thú Cửu Chân và thứ sử Giao Châu (phủ đô hộ đóng ở Giao
Chỉ). nhờ khéo phủ dụ, hai viên quan mới này đă ổn định được
t́nh thế.” Tr.115
Rơ ràng, vị
anh hùng tên là Khu Kiên lănh đạo cuộc khởi nghĩa của dân
Tượng Lâm nổi lên lật đổ chính quyền đô hộ Trung Hoa chứ không
có Chiêm Thành nào ở đây cả… Các Thứ sử và Thái thú ở hai quận
cực nam Giao Châu Đô hộ phủ này hễ có biến là báo cáo về Tầu
rằng, giặc Chàm tấn công “nước ta” để chạy tội tham ô, bạo
ngược khiến dân Việt v́ căm hờn mà nổi dậy.
Vậy Lâm Ấp
là ai mà các sử gia Việt đều theo Tầu mà gọi là Chàm? Và mĩa
mai thay, các sử gia của ta cũng bắt chước Tầu gọi rằng: “
giặc Chàm đánh nước ta!”
J. “Năm
144 hơn một ngàn người ở quận Nhật Nam lại nổi dậy đốt phá các
huyện ấp. Họ liên kết cả với người Cửu Chân. Thứ sử Giao Châu
là Hạ Phương dùng ân nghĩa chiêu dụ. Quân giặc đều ra hàng cả”.
Tr.115
K. “Năm 160,
khi nhân dân huyện Cư Phong dưới sự lănh đạo của Chu Đạt chống
lại sự tham bạo của viên huyện lệnh, “quân Man” (Lâm Ấp) đă
tiếp tay. Số người làm loạn lên tới bốn, năm ngàn. Họ tấn công
vào quận Cửu Chân. Thái thú Nghê Thức ra đánh bị tử trận… Nhà
Hán sai Đô úy quận Cửu Chân là Ngụy Lăng đi đánh, phá tan được.
Nhưng tướng giặc vẫn c̣n chiếm đóng Nhật Nam, thế lực ngày một
cường thịnh. Nhà Hán lại phải sai Hạ Phương sang chiêu dụ. Nhờ
uy tín có sẵn, Hạ Phương đă khiến được 20.000 quân giặc đầu
hàng” Tr.115
Lại có 2
cuộc nổi dậy của nô lệ Việt, lần trước năm 144 có hơn 1000
người; lần sau, năm 160, đông hơn, có đến 5000 người. Chẳng
những vậy, lại có thêm quân Lâm Ấp liên minh tiếp trợ. Dân
Việt nổi dậy dưới sự lănh đạo của anh hùng Chu Đạt tấn công
quận Cửu Chân và giết được thái thú Nghê Thức. Tuy nhiên, h́nh
như nghĩa quân không chiếm được quận lỵ Cửu Chân. Do vậy họ
tiến vào Nhật Nam và phối hợp với nghĩa quân ở đây tấn công
giải phóng quận Nhật Nam. Từ đó, phong trào dân chúng nổi dậy
bùng lên mănh liệt và trở thành một cuộc Khởi nghĩa thật sự.
Nghĩa quân chiếm được quận Nhật Nam và các huyện của quận này
trong một thời gian dài.
Nhà Hán sai tướng
Ngụy Lăng điều quân từ Cửu Chân vào Nhật Nam đánh dẹp cuộc nổi
dậy có quy mô lớn của Chu Đạt, nhưng quân Ngụy Lăng đă bị thất
bại, có thể y đă bị giết chết. Sau đó, nhà Hán phải sai thứ sử
Giao Châu là Hạ Phương đem đại quân từ Giao Chỉ đến đàn áp.
Chắc chắn cuộc đàn áp rất tàn khốc, đến độ các đạo Nghĩa quân
đang chiếm giữ quận Nhật Nam và các huyện của quận này đă phải
đầu hàng. Tổng số Nghĩa quân đầu hàng lên tới 20.000 người.
Như thế có nghĩa là dân Việt huyện Cư Phong ở Cửu Chân và quận
Nhật Nam cùng nổi dậy dưới sự lănh đạo của anh hùng Chu Đạt
rất đông. Có lẽ sau khi Chu Đạt bị tử trận (?) th́ Nghĩa quân
mới đầu hàng. Nếu số Nghĩa quân đầu hàng lên tới 20.000 th́ số
bị Nghĩa quân bị tàn sát không dưới 10.000.
L. “Theo
các tài liệu của người Tàu, niên đại chính thức của sự thành
lập vương quốc của người Chàm là năm 192. Năm đó con của viên
công tào bản xứ tên là Khu Liên, đă lợi dụng t́nh trạng suy
yếu của nhà Hán, giết viên huyện lệnh huyện Tượng Lâm và xưng
làm vua. Khu Liên cũng là tên của nhóm người nổi loạn năm 137.
Vương quốc này được người Trung Hoa gọi là Lâm Ấp là do sự gọi
tắt của Tượng Lâm Ấp có nghĩa là kinh đô hay đúng hơn là lỵ sở
của Tượng Lâm (có nghĩa là rừng voi). Trung tâm của nước này
theo các nhà khảo cứu hiện đại là các vùng kế cận thành phố
Huế ngày nay”. Tr.116
Năm 192, sau
hơn 320 năm định cư ở huyện Tượng Lâm quận Nhật Nam, người Lâm
Ấp đứng lên lâỉp quốc. Họ xưng quốc hiệu là ǵ th́ không ai
biết, chúng tôi tạm gọi là (Tân) Việt Thường. Tuy nhiên các sử
gia Tầu th́ cứ gọi là nước Lâm Ấp, là Chàm. Rơ ràng người Tầu
chỉ muốn coi Lâm Ấp là Chàm và dứt khoát dập tắt việc quay trở
lại ḍng giống Việt Thường cổ! Không muốn người Lạc Việt liên
kết với đồng chủng Việt Thường vốn rất quật cường dù chỉ là
con cháu một nhóm dân chạy loạn.
M. “Năm 433,
tiến hơn một bước nữa, Phạm Dương Mại (vua nước Lâm Ấp) sai sứ
sang cống nhà Tống, xin quản lănh Giao Châu nhưng không được
vua nhà Tống chấp nhận”. Tr.120
N. “Phạm
Dương Mại do đó tiếp tục cướp phá Giao Châu khiến năm 446 nhà
Tống phải cử Đàn Ḥa Chi và Tông Xác đem quân đi đánh… quân
Chàm đại bại. Chỉ Phạm Dương Mại và các con chạy thoát được
thân…” Tr.120
Tới giai
đoạn này, nước Lâm Ấp đă đủ mạnh, đă có nhiều liên hệ mật
thiết với nhân dân các quận Nhật Nam, Cửu Chân, Giao Chỉ… đă
tự thấy có đủ tầm vóc nói chuyện với nhà Tống để “xin quản
lănh Giao Châu” (lời chép của sử gia Trung Hoa với tư thế nước
lớn). Chúng tôi nghĩ đấy là cuộc vận động của vua Lâm Ấp đ̣i
nhà Tống phải chấp nhận cho Giao Châu tự trị. Tuy nhiên, nhà
Tống không chấp nhận.
Vua Lâm Ấp
Phạm Dương Mại liền tạo sức ép quân sự bằng cách cho quân đội
tấn công thẳng vào phủ trị Giao Châu. Mười ba năm sau tức là
năm 446 nhà Tống sai tướng Đàn Ḥa Chi và Tông Xác đem đại
binh giải cứu Giao Chỉ, ngoài đánh vào, trong đánh ra khiến
quân Lâm Ấp đại bại. Vua Phạm Dương Mại và con trai thoát được
nhưng quân đội Lâm Ấp th́ bị tàn sát toàn bộ, vô cùng khủng
khiếp. Nước Lâm Ấp từ đó suy yếu hẳn. Cuộc chiến này giằng co
suốt 13 năm, chắc chắn vô cùng cam go khiến Lâm Ấp kiệt quệ và
đi đến chỗ đại bại.
Chúng tôi đă
dẫn chứng những tài liệu của sử gia Phạm Cao Dương và một số
học giả khác ghi lại từ các sách sử Trung Hoa nói về các cuộc
chiến tranh giữa Trung Hoa và Lâm Ấp đồng thời chỉ ra những
phần quan trọng để xác minh rằng Lâm Ấp không phải là Chàm (Chiêm
Thành), mà là một ḍng dân rất gần với Việt tộc. Họ thường
xuyên liên minh với dân Việt Lạc đánh đuổi xâm lược Trung Hoa.
Cho đến năm 192 là năm người Lâm Ấp ở huyện Tượng Lâm chính
thức lập quốc. Các cuộc liên minh nổi dậy giữa Việt tộc với
Lâm Ấp như trên c̣n kéo dài liên tục vào những năm tiếp theo:
220, 230, 248, 353, 399, 413, 415, 420, 424, 431, 433, 446,
448, 627… 808
Trong suốt
thời gian kể trên người Lâm Ấp liên tục liên minh với dân Việt
đánh phá các phủ huyện đô hộ Tàu ở các quận Nhật Nam, Cửu Chân
có khi tràn tới quận Giao Chỉ… Dù ghi như trên, thỉnh thoảng
sử gia Phạm Cao Dương vẫn theo sát sách sử Trung Hoa, cứ gọi
Lâm Ấp là Chàm.
Chúng tôi
xin mời quư độc giả xem qua Việt Sử Toàn Thư của Sử gia Phạm
Văn Sơn trước:
O. “… Trung
quốc lại trở về cái cảnh tam phân ngũ liệt gần giống như thời
Đông Chu … các ngai vàng luôn luôn thay đổi. Do vị trí của nó,
Giao châu thuộc về Nam Tống … Năm 448 Lâm Ấp nhân cơ hội (Trung
Hoa nội loạn) cử Sứ sang điều đ́nh với Tống triều xin lănh đất
Giao châu, nhưng đề nghị của họ không được chấp thuận”. Trang
131
P. “Trái
lại năm 468 tháng ba, mùa hạ, triều Tống cử Đàn Ḥa Chi sang
làm thứ sử Giao châu và đánh Lâm Ấp. Vua Lâm Ấp sợ xin trả lại
những người Nhật Nam bị Lâm Ấp bắt trước đây và nộp vàng để tạ
tội”.tr.131
Q. Đoạn sau
đây khá dài, xin tóm tắt: Mặc dù Lâm Ấp nộp vàng xin tạ tội
nhưng đại quân Đàn Ḥa Chi vẫn tấn công, tàn sát dân Lâm Ấp
cực kỳ dă man. Vua Phạm Dương Mại phải dẫn vợ con chạy trốn.
Quân Tống tha hồ vơ vét vàng bạc.Tr.131
R. “Sử
không ghi rơ ràng sau cuộc thắng trận này nhà Tống có lập nền
đô hộ ở Lâm Ấp không, có lẽ họ đă cho Lâm Ấp đầu hàng và hàng
năm nộp cống.”Tr.131
Việt Sử Tân
Biên cũng của Sử gia Phạm Văn Sơn (gồm 7 cuốn với khoảng 4000
trang) ghi thêm:
S. “Người
ta nghi rằng khai sinh ra nước Lâm Ấp là bọn giặc bể ḍng
giống Mă Lai đă xâm nhập vào đất Trung Việt truớc kỷ nguyên có
kinh thành là Khu Túc ở Huế bây giờ…”Tr. 215/Q.I.
T. “Họ (Lâm
Ấp) hợp giống với Cao Miên và giống Chiêm Thành trong khi một
chi phái của họ hợp với giống Mông Cổ và dân tộc Việt Nam”
Cũng trang 215/QI.
Sử gia Phạm
Văn Sơn viết “người ta nghi” tức là các sử gia không biết đích
xác Lâm Ấp là ai, họ ngờ rằng Lâm Ấp là giặc bể từ Mă Lai đến.
Nhưng họ quên rằng, nhiều năm trước, khi Tần Thủy Hoàng xua
quân tấn công các nước Việt phương Nam và tàn sát dân Việt vô
cùng dữ dội. Nhiều ḍng Bách Việt trong đó có dân Ấp Lâm của
nước Việt Thường đă dùng thuyền chạy về phương Nam tị nạn.
Cũng do vậy, cái tên nước Việt Thường, quốc giới của Việt
Thường, Tượng Quận… dính vào ba tỉnh miền Trung này. Và, thêm
một minh xác rất quan trọng: Hai tên hai châu Ô, Châu Ríù của
Chiêm Thành hoàn toàn chưa xuất hiện trong giai đoạn 1000 năm
lệ thuộc này.
Chúng tôi
nghĩ rằng, tại ba tỉnh B́nh, Trị, Thiên này trước và trong
thời gian người Lâm Ấp lập quốc đă có một số bộ lạc Chàm sống
rải rác ở đó. Tuy nhiên người Chàm không đủ mạnh để chống lại
sự cai trị của người Lâm Ấp. Cũng v́ thế mà giới quan lại và
sử gia Trung Hoa cứ nhất định đồng hóa Lâm Ấp (Bách Việt) với
Chàm theo chủ trương chia rẽ hai ḍng Việt Lạc và Việt Thường.
Tại sao có
sự giống Mông Cổ ở đây? Điều này không lạ, theo Tiến sĩ J.Y.
Chu trên Tạp chí khoa học The Nation Academy Of Science - USA
ngày 29/7/1990 th́ người Hiện đại đầu tiên xuất hiện từ đông
Phi Châu cách đây vào khoảng 150.000 năm. Từ đây họ dần dần di
cư ra khắp thế giới. Có nhóm tiến về phía đông qua Ấn Độ, tới
bán đảo Trung Ấn rồi tách ra làm hai: Một tiến lên phía đông
bắc băng qua bắc Việt Nam, Trung Hoa, Mông Cổ, đông Tây Bá lợi
Á rồi băng qua eo biển Bering mà vào Châu Mỹ. Hai đi xuống
phía nam, băng qua Thái Lan, Mă Lai rồi ra các quần đảo. Trong
nhóm lên phía tây bắc chắc chắn có tổ tiên Miêu tức Viêm và
nhiều tổ tiên của các chủng khác như Tây Tạng, Mông Cổ… Vậy
Việt Thường có lai hay trông giông giống Mông Cổ cũng không lạ
vậy.
Từ các đoạn
trích dẫn ghi trên chúng tôi có suy luận như sau:
Chúng ta đă
biết lịch sử giữa Chiêm Thành và Đại Việt kể từ năm 981 (thời
nhà Tiền Lê), đến các nhà Lư, Trần và các họ về sau cho tới
Chúa Nguyễn là những cuộc chiến tranh tàn khốc và hận thù
triền miên cho đến khi Chiêm Thành bị Việt tộc nuốt trọn.
Trong khi đó giữa Lâm Ấp và Việt tộc, các quận Nhật Nam, Cửu
Chân luôn luôn kết hợp ngoài đánh vào, trong nổi dậy, cùng tấn
công kẻ xâm lược Trung hoa rất nhịp nhàng trong suốt 700 năm
gần như không ngưng nghỉ.
Nếu Lâm Ấp
là Chiêm Thành với mảnh đất chỉ bằng vài tỉnh nhỏ (B́nh, Trị,
Thiên), chắc chắn họ không dám xin “lănh” Giao châu vốn là thủ
phủ 9 quận Việt tộc đang bị Tầu đô hộ. Chín quận này đất rộng
người đông gấp 20 lần Lâm Ấp.
Nói cách
khác, Lâm Ấp kiên tŕ, tích cực, liên tục hợp tác với Việt tộc
tấn công các phủ trị đô hộ Trung Hoa đến độ bị họ đàn áp đến
độ suy kiệt và đi vào diệt vong là do họ chung ḍng Bách Việt
với Việt tộc, hai dân tộc cùng mang nổi căm thù đô hộ Trung
Hoa cực kỳ sâu nặng. Chúng tôi tin rằng, vua quan Lâm Ấp đă có
quyết định khôn ngoan khi vừa giúp giải phóng đồng chủng 8
quận, vừa thâu hồi lại quê hương Việt Thường của họ.
Một điều rất
rơ ràng là trong khi nước Lâm Ấp với kinh đô đặt tại Khu Túc
trong phạm vi tỉnh Thừa Thiên hiện nay đang gây sóng gió liên
tục với quan quân đô hộ Trung Hoa, th́ Chiêm Thành đă lập quốc
rất lâu trước đó với kinh đô Chiêm Bà (Quảng Ngăi) sau đó dời
về Đồ Bàn (Quảng Nam). Chứng tỏ Lâm Ấp là Việt Thường - Chiêm
Thành là Chàm, hai dân tộc này hoàn toàn khác nhau.
II/9C .- ĐOẠN SỬ BI
ĐÁT CUỐI CÙNG CỦA
NGƯỜI
VIỆT THƯỜNG NƯỚC LÂM ẤP
Sách Cương
Mục Tiền Biên chép: “Khoảng giữa niên hiệu Trinh Quan
(627-649) nhà Đường, vua Lâm Ấp là Đầu Lê chết, con là Trấn
Long bị giết, người trong nước lập con bà cô của Đầu Lê là Gia
Cát Địa lên làm vua. Gia Cát Địa đổi quốc hiệu là Hoàn Vương
và thường cho quân sang xâm lấn An Nam. Hoàn Vương do đó bị
quan đô hộ An Nam là Trương Chu đánh phá phải bỏ Lâm Ấp dời
đến đất Chiêm, gọi là nước Chiêm Thành… Bấy giờ thành Phật Thệ
ở Phủ Thừa Thiên, Thành Chà Bàn ở tỉnh B́nh Định đều là di
tích cố đô của Chiêm Thành thời đó.
Sách Việt
Sử Toàn Thư th́ chép: Chư Cát Địa đổi quốc hiệu ra Hoàn Vương
quốc nhưng nước này vẫn quen thói quấy nhiểu Giao Châu. Đă có
phen họ chiếm được châu Hoan, châu Ái (tức là hai tỉnh Thanh,
Nghệ của ta) – Hai thế kỷ sau vào năm Mậu Tư (808), Đô hộ
Trương Chu lại đem quân đánh Hoàn Vương quốc rất tai hại khiến
họ phải lui xuống phía Nam (hai vùng Nam, Ngăi bây giờ). Lại
một lần nữa, quốc hiệu Lâm Ấp đổi ra Chiêm Thành cho tới ngày
nay.
Cách hành
văn của 2 đoạn sử trên, cùng tŕnh bày giai đoạn cuối cùng của
lịch sử nước Lâm Ấp nhưng có nhiều điểm không giống nhau (thời
gian và danh xưng thành Phật Thệ…). Chúng tôi xin thử b́nh
giải:
Thời vua
Trinh Quan nhà Đường (627 - 649), nước Lâm Ấp, vua Đầu Lê chết,
thái tử là Trấn Long vừa lên ngôi th́ bị giết, triều đ́nh tôùn
Gia Cát Địa là con bà cô của vua Đầu Lê lên ngôi. Gia Cát Địa
đổi quốc hiệu là Hoàn Vương, kinh đô Khu Túc th́ đổi tên là
Phật Thệ và tiếp tục đường lối của tổ tiên, tiến hành những
cuộc liên minh quân sự với Lạc Việt đánh đuổi quân cướp nước
ra khỏi bờ cơi. Trong gần 200 năm (từ khoảng 627 – 808) họ tổ
chức nhiều cuộc nổi dậy có lúc họ chiếm được Cửu Chân và Nhật
Nam. Năm 808, triều đ́nh Trung Hoa sai tướng Đô hộ Trương Chu
đem đại binh tiêu diệt Hoàn Vương quốc (Lâm Ấp).
Lần thứ hai
từ sau ngày gạt lệ rời bỏ quê hương Việt Thường bên hồ Phiên
Dương năm 221 Tr. CN ; con cháu Việt Thường năm 808 sau CN ,
kẻ ra đi, người ở lại và hàng vạn người nằm xuống, dưới những
nấm mộ tập thể, chôn vùi đây đó trong vùng Quảng B́nh, Quảng
Trị, Thừa Thiên.
Nước Lâm Ấp
hoàn toàn bị tiêu diệt. Khi quân Trương Chu rút đi th́ nước
Chiêm Thành đă lập quốc từ lâu với kinh đô Đồ Bàn (Quảng Nam)
liền vượt đèo Hải Vân tiến ra chiếm đất Tượng Lâm (B́nh, Trị,
Thiên). Người Việt Thường, Lâm Ấp một số lánh nạn lên vùng núi
hay ra bờ gần biển, một số khác chạy ra Nghệ An, Thanh Hóa
sống chung với dân Lạc Việt, một số ở lại trở thành nô lệ
Chiêm Thành…
Từ đầu thế
kỷ thứ 9, lịch sử nước ta không c̣n nhắc đến tên huyện Tượng
Lâm hoặc nước Lâm Ấp nữa. Vùng đất này có tên mới: Châu Ô,
Châu Rí (Lư) do Chiêm Thành đặt. Cũng từ năm ấy, sử Việt chép
rất kỷ các giai đoạn “chiến tranh và ḥa b́nh” giữa Đại Việt
và Chiêm Thành.
Năm 1304,
đời nhà Trần, khi vua Chiêm Chế Mân, dâng hai châu Ô, Lư để
xin cưới Công chúa Huyền Trân th́ con cháu Việt Thường ở lại
với Đại Việt trong khi dân Chiêm Thành rút về phía nam đèo Hải
Vân.
Năm 1697,
phần đất cuối cùng của người Chàm bị chúa Nguyễn Phúc Chu nuốt
trọn và nước Chiêm Thành hoàn toàn bị xóa tên.
II/9D .- VỊ TRÍ
NƯỚC VIỆT THƯỜNG CỔ
Cho đến hôm
nay, vị trí nước Việt Thường trên các tài liệu lịch sử Việt
Nam vẫn c̣n là một nghi vấn.
1. Một số
sử gia cho rằng Việt Thường là tên nước Việt Nam cổ, tức là
toàn miền Bắc Việt Nam ra tới Đèo Ngang.
2. Ông
L.Wie1ger, nhà Trung Hoa học th́ rời vị trí Việt Thường xa hơn
nữa. Ông cho Việt Thường là Cao Mên (Trích dẫn từ VSTB tr.
38).
3. Sử gia
Trần Trọng Kim trong Việt Nam Sử Lược lại nói nước Việt Thường
ở phía Nam Giao Chỉ. (Trích dẫn từ VSTB tr. 38)
4. Sử gia
Lê Văn Ḥe trong Việt Sử cho rằng nước Việt Thường ở vào vị
trí 3 tỉnh Quảng B́nh, Quảng Trị và Thừa Thiên ngày nay. (Trích
dẫn từ VSTB tr. 38)
5. Ông Lê
Chí Thiệp nói rằng, xem bản đồ Trung Hoa thế kỷ 20 Tr. CN c̣n
chia ra nhiều bộ lạc tŕnh độ khác nhau th́ không thể tin được
Sứ giả Việt Thường vượt đường bộ từ Bắc Việt, hoặc theo hải
đạo đến được thành B́nh Dương là kinh đô của vua Nghiêu tận
tỉnh Sơn Tây, phía Bắc sông Hoàng Hà và dưới đời Chu lại đến
thành Tây An ở phía Nam sông Vị, tỉnh Thiểm Tây bấy giờ. Theo
lẽ đương nhiên, chỉ có gần gũi nhau, chịu ảnh hưởng của nhau
mới có sự giao dịch với nhau. Tóm lại, Việt Thường tất không
xa Hán tộc, có lẽ ở phía Nam sông Dương Tử vùng hồ Phiên Dương
và sông Dương Tử. Lư luận này theo ư chúng tôi có ư nghĩa hơn
cả. (Trích dẫn từ VSTB tr. 38)
6. Ở trang
39 VSTB ghi “Kinh Thư chép đất Dương có nhiều giống chim lạ,
đất Kinh có nhiều rùa lớn th́ Việt Thường ở vào khu hồ Phiên
Dương và hồ Đôỉng Đ́nh, như vậy ta càng thấy sự đối hợp với
việc cống chim Trĩ và Rùa lớn.
7. Theo Sử
Kư Tư Mă Thiên, vùng hồ Phiên Dương có đất Việt Thường, vua Sở
Hùng Cừ (887 Tr. CN) phong cho con út là Chấp Tỳ làm vua ở
đấy. Việt Thường, Việt Chương có lẽ là hai tên dùng lẫn cho
nhau (như Cao Mên, Cao man; Lào, lèo…). Ông Lê Chí Thiệp định
vị trí Việt Thường ở ngay chỗ thành Nam Xương…”
Chúng tôi
rất tán đồng ư kiến của ông Lê Chí Thiệp. Nước Việt Thường cổ
chỉ có thể ở vùng gần hai hồ Động Đ́nh và Phiên Dương. Nhưng
lư do tại sao vùng B́nh, Trị, Thiên lại có tên là Việt Thường
th́ chúng tôi có câu trả lời như sau:
Năm 221 tr.
CN, Tần Thủy Hoàng xua quân xâm lăng các nước Việt phương Nam.
Nước Việt Thường bị đánh bại, quư tộc Việt Thường ở “kinh đô
Lâm Ấp (?)” bèn đưa ḍng họ và quân đội theo đường biển chạy
về phương Nam và đổ bộ lên vùng đất sau này gọi là Quảng B́nh,
Quảng Trị, Thừa Thiên thuộc nước Âu Lạc của vua Thục An Dương
Vương và tị nạn ở đó. Họ thân thương gọi vùng đất mới này là (Tân)
Việt Thường, là Lâm Ấp (tổ quốc và kinh đô cũ). Sử ta về sau
lẫn lộn vị trí nước Việt Thường là vậy. Xin nhắc lại vùng
Quảng B́nh, Quảng Trị, Thừa Thiên là nơi “Khỉ ho c̣ gáy, chó
ăn đá gà ăn muối…” là “rú”, tại đây có thể đă có một số bộ lạc
Chàm sống rải rác trên các đồng bằng nhỏ hẹp… Những bộ lạc
Chàm này lập tức bị người tị nạn Việt Thường khống chế *.
Triều đ́nh Chiêm Thành ở bên kia đèo Hải Vân có lẽ đă không
quan tâm tới đám dân Chàm không đáng kể này.
* Y hệt thổ dân Đài
Loan năm 1949 bị đoàn quân bại trận của tổng thống Tưởng Giới
Thạch khống chế ngay khi họ đổ bộ lên đảo này.
Dân tị nạn
Lâm Ấp “vui sống” ở đó, từ cuối thời Âu Lạc của Thục An Dương
Vương, qua Nam Việt của nhà Triệu, rồi nhà Hán xâm lăng Nam
Việt và đặt phủ trị đô hộ… Cho đến khi Mă Viện diệt Hai Bà
Trưng vào năm 43 là 264 năm. Mă Viện đem quân đuổi đánh tàn
quân Hai Bà vào tận đất Nhật Nam. Người Lâm Ấp lúc này c̣n quá
yếu, một mặt họ không giúp Hai Bà Trưng, một mặt thất hứa với
Mă Viện trong việc tấn công mặt hậu Lĩnh Nam. Bây giờ lại hối
lộ Mă Viện rất nhiều vàng bạc châu báu để được yên thân. Nhờ
vậy, Mă Viện lập huyện Tượng Lâm trực thuộc quận Nhật Nam và
cho người Lâm Ấp tiếp tục cư trú ở đó. Như vậy, Lâm Ấp đă tỏ
ra rất khôn ngoan. Họ “ừ! è!…” với Mă Viện nhưng nhất định
không tiếp tay cho giặc để đánh đồng chủng. Có lẽ họ dư biết
dù liên minh với Lĩnh Nam cũng không chống nổi với Mă Viện.
Khi biết Hai Bà Trưng đă hoàn toàn thất bại trước Mă Viện th́
họ dâng vàng bạc để được yên thân mài nanh vuốt chờ dịp quật
khởi. Quả nhiên, kể từ năm 102* (60 năm sau), khi đă có thực
lực, Lâm Ấp tung ra hàng loạt cuộc tấn công vào quân đô hộ Tầu
không ngưng nghỉ.
* Triùch: Sử gia
Phạm Cao Dương trong sách Lịch Sử Dân Tộc Việt Nam viết: “sử
Trung Hoa nói tới trong một biến cố xảy ra ở huyện Tượng Lâm
thuộc quận Nhật Nam trong thời Đông Hán, đời Ḥa Đế niên hiệu
Vĩnh Nguyên thứ 14, tức năm 102 sau TL. Năm đó hơn 3000 người
ở huyện này đă nổi lên cướp phá, đốt các dinh thự… Để đề pḥng
những cuộc biến loạn mới, nhà Hán đặt chức Tướng Binh Trưởng
Sử ở huyện này” Tr.114.
Theo sách
Cương Mục, năm 192 tức là 408 năm sau khi dân Lâm Ấp định cư ở
Tượng Lâm quận Nhật Nam, con cháu người Việt Thường tị nạn
chính thức tái lập quốc gia. Chúng tôi không biết ngoài tên
nước Lâm Ấp, Chàm, Chiêm Thành mà sử Tầu thường gọi, họ có
quốc hiệu nào khác không. Sau khi lập quốc, họ tiếp tục tổ
chức kết hợp với dân Việt ở nhiều địa phương Việt Lạc liên tục
tấn công các phủ trị đô hộ Tầu các quận Nhật Nam, Cửu Chân có
khi vươn tới quạân Giao Chỉ. Triều đ́nh Trung Hoa phải vô cùng
chật vật để bảo vệ quyền đô hộ. Cho đến năm 468 nhà Tống đưa
đại binh tấn công nước Lâm Ấp, tàn phá 55 thành khiến nước Lâm
Ấp yếu đi.
II/9E.- VÀI TÀI
LIỆU RIÊNG
II/9E1 .- BÍ MẬT
NGÔN NGỮ VIỆT THƯỜNG: 3 LÀNG LONG HƯNG, ĐẠI NẠI & MỘ TRẠCH NÓI
TIẾNG G̀?
Bí mật về
ngôn ngữ của dân hai làng Long Hưng và Đại Nại ở Quảng Trị và
làng Mộ Trạch ở Thừa Thiên ngày nay nói tiếng Việt với 60-80%
đặc âm địa phương, khó nghe đến độ chính dân Quảng Trị với
khoảng 20% đặc âm (dân chúng ở vùng quê không học chữ Quốc ngữ)
cũng rất cực khổ để hiểu họ muốn nói ǵ. Tỉ dụ: Ló : lúa ; rọn
: ruộng ; nác : nước ; su : sâu ; khun : khôn ; ngái : xa :
mói : muối ; đùi : cùn ; lọi : găy ; cái chưn : cái chân ; lưa
sưa : lưa thưa ; chạc dây : sợi dây ; mụ tra : bà già ; mự :
mợ ; cơm siu : cơm thiu ; cái trố-ôt : cái đầu ; lộ mụi : lỗ
mũi ; rào : sông ; bọ tui : bố tôi ; bưa : vừa ; bấp bổ : vấp
té ; trung nớ : trong đó ; đi ẽ : đi ĩa ; côi : trên ; trộ mưa
: trận mưa ; mi đi mô rứa : mầy đi đâu đó ; ốt dột quái : xấu
hổ quá ; giăy tọt lên côi nớ : nhảy vọt lên trên đó… Tất cả
vần NH biến thành GI như cái nhà : cái già ; con nhện : con
giện ; bổng nhưng : bổng giưng ; nhiều : giều ; tuy nhiên :
tuy giên ; nhức nhối : giức giối ; nhảy nhót : giảy giót ; nhà
nho : già gio ; nhu nhược : giu giược ; nhóm lữa : dóm lựa…
Những địa
phương ngữ nói trên, chắc chắn có pha trộn ít nhiều với tiếng
Chàm khi mà người Lâm Ấp đă từng sống chung với người Chàm cả
ngàn năm trong suốt thời kỳ lệ thuộc Trung Hoa.
Chúng tôi
không biết nhiều về ngữ học, cũng xin lạm bàn để phân biệt
tiếng Lâm Ấp và tiếng Chàm trên một quy tắc đơn giản như sau:
Tiếng nào nghe na ná hoặc có vần như tiếng Việt toàn quốc là
tiếng Lâm Ấp đồng chủng Việt tộc, c̣n tiếng nào không giống ai
là tiếng Chàm.
Tỉ dụ 1 :
MÓI nghe na ná và cùng vần với MUỐI, GIĂY TỌT cùng vần với
NHĂY VỌT… th́ mói, giăy tọt là tiếng của Lâm Ấp đồng chủng
Việt tộc.
Tỉ dụ 2 :
RÀO là sông, cái TRỐT là cái ĐẦU, CÔI là TRÊN… rơ ràng RÀ0,
TRỐT, CÔI… không giống ai th́ có thể là tiếng vay mượn của
Chiêm Thành.
Vậy chúng ta
tạm có bản phân tích dưới đây
1.- Những tiếng
nghe na ná hoặc đồng vận như : rọn : ruộng ; nác : nước ; mói
: muối ; sưa : thưa ; su : sâu ; chộ nớ : chỗ đó ; tra : già ;
lộ mụi : lỗ mũi ; mự : mợ ; trộ mưa : trận mưa ; cơm siu : cơm
thiu ; bấp : vấp ; giều : nhiều ; bọ : bố ; mần chi hỉ : làm
ǵ nhỉ ; chưn : chân ; con giện : con nhện ; bưa : vừa ; lấy
dô-ôn : lấy chồng ; hun : hôn ; mạ tui : mẹ tôiù … là tiếng
Bách Việt ḍng Việt Thường.
2.- Những tiếng
khác vần hoặc không giống ai như: trốt : đầu ; chạc : sợi dây
; lọi : găy ; rào : sông ; tê : kia ; rứa : thế ; răng : sao ;
nôốt : thuyền ; nậy : lớn ; cái đọi : cái tô … có thể là tiếng
vay mượn của Chàm, Chiêm Thành.
Xét tổng
quát, ngôn ngữ miền bắc và miền nam (kể cả Quảng Nam, Quảng
Ngăi, B́nh Định, Phú Yên, Khánh Ḥa… vốn là quê hương của
Chiêm Thành), khi nói lên, mọi người trên toàn quốc có thể
nghe và hiểu nhau dễ dàng mặc dù có một vài đặc âm, đặc ngữ
nhưng không đáng kể.
Riêng ngôn
ngữ của vùng Thừa Thiên, Quảng Trị, Quảng B́nh, Nghệ An, Thanh
Hóa (nhất là thời gian chữ quốc ngữ chưa thông dụng) th́ hai
miền bắc và nam Việt Nam phải cố gắng lắm mới hiểu được. Nếu
chẳng may gặp phải dân ở ba làng Long Hưng, Đại Nại và Mộ
Trạch (80% đặc âm + đặc ngữ) nói ở trên th́ không thể biết
được họ muốn nói ǵ. Y hệt như ta nghe người… Tây Tạng nói
chuyện!! Nhất định những đặc âm, đặc ngữ ấy là do các dân tộc
ḍng Bách Việt v́ biến động lịch sử mà phải thay đổi nơi cư
trú đă xuất hiện trong ḍng Lạc Việt.
Qua bản phân
tích đơn giản nói trên, chúng tôi thấy rơ dân ba làng Long
Hưng, Đại Nại và Mộ Trạch đúng là con cháu của ḍng Việt
Thường c̣n sót lại. C̣n dân chúng các tỉnh Thừa Thiên, Quảng
Trị, Quảng B́nh cho đến cả Nghệ An, Thanh Hoá rất có thể
trong huyết quản có lẫn ít nhiều máu Việt Thường.
II/9E2 .- TƯỢNG
NGƯỜI ĐẦU CHIM BẰNG ĐỒNG
ĐEN Ở CHÙA PHẬT LỒI
Khoảng năm
1920 (?), trời làm lụt lớn trên sông Thạch Hăn, Quảng Trị.
Nước lụt xoi ṃn bờ cát phía làng Nhan Biều đối diện với tỉnh
lỵ. Sau lụt, dân làng phát giác một đầu chim bằng đồng lồi
trên bờ cát. Đào lên th́ đó là một tượng người đầu chim bằng
đồng đen, nặng khoảng 60 kư. Dân làng Nhan Biều liền xây một
ngôi miếu thờ Người Chim gọi là chùa Phật Lồi. Nhiều năm sau,
quan sứ Quảng Trị (người Pháp) đem lính đến miếu tịch thu
tượng “Người Chim”, nói rằng đem về Pháp nghiên cứu!?
Ngày tôi
c̣n ở Quảng Trị, mạ (mẹ) tôi vốn sinh trưởng ở làng Nhan Biều
tả h́nh dáng tượng Người Chim như sau: cổ chim khá cao, mơ
chim dài, mạnh khỏe, mồng chim lớn và thẳng đứng. Bên dưới cổ
là thân người “trơn tru” không tạc quần áo. Hai chân chim
khẳng khiu, giống bàn chân người, đứng trên một cái đế, tất cả
bằng đồng đen … Ngày nay nhớ lại, tôi tin chắc rằng đó là biểu
tượng “Người Chim” của người Lâm Ấp đem từ đất nước Việt
Thường đến đất Quảng Trị cổ hoặc họ đă đúc ở đấy.
Như chúng
tôi đă dẫn chứng, nước Việt Thường cổ ở giữa hồ Phiên Dương và
hồ Động Đ́nh. Vùng này có rùa lớn và giống chim Trỉ rất đẹp…
Người Việt Thường thờ chim Trĩ làm biểu tượng như người Lạc
Việt thờ chim Lạc. Họ đă từng đem rùa lớn có khắc lịch nông
nghiệp trên mai rùa tặng vua Nghiêu khoảng năm 2300 Tr. CN.
Đến năm 1100 Tr. CN họ lại đem tặng vua nhà Tây Chu một đôi
chim Bạch Trĩ để tỏ ḷng “ngưỡng mộ”, th́ chúng ta sẽ không
sai khi nghĩ rằng:
Người Lâm
Ấp ở huyện Tượng Lâm đúng là dân nước Việt Thường cổ đă từng
di cư đến tị nạn ở đất Quảng B́nh, Quảng Trị, Thừa Thiên và
tái lập quốc gia Lâm Ấp ở đó.
II/9E3 .- DI SẢN
VĂN HỌC VIỆT THƯỜNG VẪN VANG VỌNG
Từ lâu, một
vài nhạc sĩ cho rằng người Chàm xưa mang nổi buồn mất nước nên
ca nhạc của họ mang nét u sầu, ai oán… cũng v́ thế, nhạc cổ
miền Trung đặc biệt là hai điệu Nam Ai và Nam B́nh đă bị ảnh
hưởng bởi nhạc Chàm. Chúng tôi nghĩ rằng những phán đoán trên
có phần nào phiếm diện.
Từ những
minh xác về nguồn gốc người Việt Thường nước Lâm Ấp, chúng tôi
có những ư kiến như sau về bộ môn “văn nghệ cổ *” của miền ba
tỉnh B́nh, Tri. Thiên, nhất là vùng đất chung quanh Huế (vốn
là kinh đô Khi Túc của Lâm Ấp) như sau:
* Chúng tôi gọi
chung là văn nghệ cổ, trong đó có âm nhạc, ca dao, tục ngữ,
chuyện cổ, vè, ca múa, thổi kèn, đánh đàn, đánh trống, truyền
thống lễ nhạc…xuất phát từ ḍng Việt Thường này. Chúng tôi rất
mong sẽ có nhiều học giả để tâm nghiên cứu sâu rộng những vấn
đề mà tôi đề cập sơ lược hôm nay.
Dân Việt
Thường từ hồ Phiên Dương (bên Tầu) theo đường thủy chạy về
vùng Quảng B́nh, Quảng Trị, Thừa Thiên tị nạn, chắc chắn họ đă
đem theo truyền thống văn hóa của họ đến vùng đất cư trú mới.
Nguồn gốc nước Lâm Ấp, biểu tượng Chim Trĩ, tiếng nói Việt
Thường th́ đă được dẫn chứng. Tuy nhiên c̣n nhiều truyền thống
đặc thù khác chưa được đề cập tới, trong đó có sinh hoạt văn
nghệ của họ. Do vậy, “văn nghệ cổ” miền Trung ngày nay, đặc
biệt là Huế (cũng là kinh đô của nước Lâm Ấp, “Tân Việt Thường”),
sau đó là Quảng Trị, Quảng B́nh và có thể cả Nghệ An và Thanh
Hóa… mang dạng văn nghệ và âm nhạc Việt Thường bởi các lư do
sau :
1.- Đất B́nh, Trị,
Thiên (huyện Tượng Lâm) vốn là đất cư trú của người Lâm Ấp từ
năm 221 tr. CN đến năm 808 sau CN (tồn tại hơn 1000 năm) th́
bị Chiêm Thành chiếm và đổi tên là châu Ô, châu Rí (Xin lưu ư:
Dù bị chiếm mất nước, người Lâm Ấp và văn hóa của họ vẫn tồn
tại ở đó). Năm 1.304, vua Chiêm Chế Mân dâng hai châu này cho
nhà Trần đển xin cưới Công chúa Huyền Trân. Rơ ràng người
Chiêm không màng đến một vùng đất vốn không phải là của họ.
Tất nhiên họ cũng không thiết tha, khóc thương đến độả phải
đặt ra những điệu nhạc ai oán, năo nuột như thế.
2.- Vùng đất phía
nam xứ Huế như Quảng Nam, Quảng Ngăi, B́nh Định, Phú Yên,
Khánh Ḥa… có kinh đô Chàm Đồ Bàn và là địa bàn định cư lâu
đời của Chàm, nếu có nhạc ai oán v́ mất nước th́ phải xuất
hiện tại vùng này chứ không phải từ Huế trở ra.
3.- Người Việt
Thường vốn là một dân tộc có văn hóa cao. Khi phải bỏ nước ra
đi v́ giặc ngoại xâm (Tần Thủy Hoàng) tất nhiên nỗi tủi nhục,
sầu hận nước mất nhà tan của họ phải vô cùng cay đắng, sâu
nặng. Văn nghệ của họ chắc chắn đă bị ảnh hưởng từ các cuộc ra
đi tị nạn đó. Trải qua bao thăng trầm, cuối cùng mới lập được
quốc gia Lâm Ấp. Rồi nước Lâm Ấp lại cũng bị điêu tàn, bị
chiếm đoạt và phải làm nô lệ dân Chiêm Thành…
4.- Việt Thường và
Lạc Việt đồng chủng, đồng ngôn ngữ (dù phát âm hơi khác), đă
từng chung vai sát cánh chống lại đô hộ Trung Hoa suốt bảy
trăm năm… nhất định hai dân tộc này đă có thông gia, có trao
đổi văn hóa một cách mật thiết.
Những điệu
Nam Ai, Nam B́nh và nhiều loại văn học khác như văn, thơ, ca
dao, chuyện cổ, ca vè… của các vùng liên hệ tất nhiên chịu ảnh
hưởng từ văn nghệ Việt Thường. Nếu so nổi buồn Việt Thường với
những cung điệu ai oán sầu hận của người Việt tị nạn ở hải
ngoại ngày nay với những bản nhạc “Sài G̣n Ơi Vĩnh Biệt”,
“Người Di Tản Buồn”, “Khi Xa Sài G̣n”, “Sài G̣n Niềm Nhớ Không
Quên”, “Ai Trở Về Xứ Việt”, “Em Nay Ở Phương Nào”… Với hàng
vạn bài thơ, truyện, ca dao mới… nói lên niềm chua xót nước
mất, nhà tan... Hai nổi đau thương, khắc khoải của hai dân tộc
Việt Lạc, Việt Thường trong hai giai đoạn lịch sử cực kỳ đau
thương ấy, chắc cũng không khác nhau bao nhiêu…
Chúng tôi
tin rằng những biệt sắc văn nghệ các tỉnh Thừa Thiên, Quảng
Trị, Quảng B́nh kể cả Nghệ An và Thanh Hóa một số lớn là di
sản văn hóa Việt Thường chứ không phải là của Chàm như chúng
ta vẫn tưởng.
II/9F .- LỊCH SỬ
NƯỚC TA THỜI LỆ THUỘC VÀ
TIỂU
QUỐC LÂM ẤP CẦN TU CHỈNH LẠI
Tiểu quốc
Lâm Ấp, ḍng Việt Thường, đồng chủng Việt tộc hào hùng của
ngàn năm trước, hậu duệ của quư ngài c̣n đấy như chúng tôi đă
phân tích? Hay đă ḥa tan trong ḍng Đại Việt của các thời đại
Ngô, Đinh, Lê, Lư, Trần, Hậu Lê, Nguyễn? Hai vị anh hùng Khu
Liên người tái lập quốc gia Lâm Ấp; Chu Đạt, người lănh đạo
30.000 nghĩa quân đánh chiếm hai quận Cửu Chân và Nhật Nam là
ai? Và biết bao anh hùng, liệt nữ hai nước Việt Lạc và Việt
Thường đă bỏ ḿnh trong suốt 700 năm lịch sử nổi dậy bất thành
ấy? Có ai dành cho họ giọt nước mắt, nén hương thương tiếc,
đồng thời làm sáng tỏ giai đoạn lịch sử đầy máu và nước mắt
nhưng vô cùng hào hùng ấy!
Những người
anh hùng ấy chắc chắn phải được vinh danh trong lịch sử Việt
tộc.
Chúng tôi
thiết tha kêu gọi các nhà làm sử Việt Nam, các học giả đang
nghiên cứu thực hiện bộ sách Giáo khoa Tiểu, Trung và Đại học
nên tu chỉnh các đoạn sử này để khỏi phụ ḷng những anh hùng
Việt tộc ở hai quận Cửu Chân và Nhật Nam cùng cả một ḍng
giống Việt Thường oanh liệt cổ xưa đă hết ḷng với tổ tiên
Việt tộc trong nỗi khốn cùng một ngàn năm đô hộ! Điều này rất
cấp thiết.
Chúng tôi đề
nghị viết lại các biến chuyển lịch sử Việt Nam nên dựa trên 4
điểm chính sau đây:
1.- VỊ TRÍ
NƯỚC VIỆT THƯỜNG Ở PHÍA NAM SÔNG DƯƠNG TỬ GẦN HỒ ĐỘNG Đ̀NH VÀ
HỒ PHIÊN DƯƠNG, LÀ MỘT TRONG BA NƯỚC D̉NG BÁCH VIỆT BỊ NHÀ TẦN
THÔN TÍNH NĂM 221 TR.CN. NHÀ TẦN ĐỔI THÀNH HUYỆN LÂM ẤP VÀ GỌI
VÙNG ĐẤT MỚI CHIẾM LÀ TƯỢNG QUẬN.
2.- SAU ĐÓ
MỘT SỐ DÂN VIỆT THƯỜNG Ở HUYỆN LÂM ẤP, TƯỢNG QUẬN THEO ĐƯỜNG
THỦY CHẠY VỀ PHÍA NAM. HỌ ĐỔ BỘ LÊN ĐẤT QUẢNG B̀NH, QUẢNG TRỊ
VÀ THỪA THIÊN VÀ ĐỊNH CƯ Ở ĐÓ. VÙNG NÀY VỐN LÀ ĐẤT HOANG DĂ Ở
VỀ PHÍA NAM CỦA QUẬN NHẬT NAM. NĂM 43, NHÀ HÁN SAI MĂ VIỆN XÂM
LĂNG LĨNH NAM, MĂ VIỆN LẬP ĐẤT NÀY LÀ HUYỆN TƯỢNG LÂM, ĐẶT
HUYỆN LỆNH CAI TRỊ VÀ CHO NGƯỜI LÂM ẤP CƯ TRÚ Ở ĐÓ. NĂM 192,
NGƯỜI LÂM ẤP GIẾT HUYỆN LỆNH TẦU MÀ LẬP QUỐC, ĐẶT KINH ĐÔ Ở
KHU TÚC GẦN HUẾ .
3.- NGƯỜI
LÂM ẤP TRƯỚC VÀ SAU KHI LẬP QUỐC (102 Tr.CN – 808 S.CN) NHIỀU
LẦN LIÊN MINH VỚI DÂN VIỆT CÁC QUẬN NHẬT NAM, CỬU CHÂN VÀ GIAO
CHỈ TẤN CÔNG VÀO THÀNH LŨY ĐÔ HỘ TRUNG HOA NHẰM GIẢI PHÓNG
VIỆT TỘC THOÁT KHỎI THẢM TRẠNG LỆ THUỘC TRUNG HOA. NHƯNG TIẾC
THAY MỌI CỐ GẮNG ĐỀU KHÔNG THÀNH CÔNG. NƯỚC NÀY ĐĂ BỊ TRUNG
HOA TIÊU DIỆT VÀO NĂM VÀ BỊ CHIÊM THÀNH CHIẾM KHOẢNG NĂM 808.
NƯỚC LÂM ẤP (ĐẤT TƯỢNG LÂM) BỊ CHIÊM THÀNH ĐỔI THÀNH HAI CHÂU
Ô, LƯ…
4.- DÂN TỘC
VIỆT NAM XÁC NHẬN SỰ SAI LẦM KHI GỌI NHÂN DÂN LÂM ẤP LÀ CHÀM,
LÀ GIẶC TRONG QUÁ KHỨ. NAY CHÍNH THỨC VINH DANH VÀ TRI ƠN
NGƯỜI LÂM ẤP VÀ NƯỚC LÂM ẤP LÀ ĐỒNG CHỦNG BÁCH VIỆT ĐĂ HẾT
L̉NG VỚI DÂN TỘC VIỆT NAM TRONG NỔI KHỐN CÙNG 1000 NĂM LỆ
THUỘC TRUNG HOA.
An Phong Nguyễn Văn
Diễn
|