|
Bùi Ngọc Tuấn
Bát Tràng, truyền thống liên tục
Song song với sự phát triển của đồ gốm Chu Đậu là đồ gốm
Bát Tràng. Khởi đầu từ thế kỷ 14, gốm Bát Tràng là truyền
thống nối dài từ đồ gốm Thanh Hóa, nên Bát Tràng giữ một
địa vị rất quan trọng trong nghệ thuật đồ gốm Việt Nam.
Một số lớn đồ gốm cổ được sưu tập ngày nay như các b́nh ấm,
bát đĩa, men nâu, men trắng từ đời Trần, Lê, Mạc có thể
chính là đồ gốm do làng Bát Tràng sản xuất.
Làng Bát Tràng cổ nằm ở bên bờ sông Hồng, ngay ở Gia Lâm,
ngoại ô Hà Nội hiện nay. Làng Bát Tràng bây giờ nằm ngay
trên băi sông Hồng bên ngoài bờ đê, đất chật, đường ngơ
hẹp, ngoắt nghéo, không có vườn cây và bụi tre, hầu hết
đất đai được dùng làm nhà ở, sân phơi, ḷ nung, băi chứa
nguyên liệu. Dư địa chí (viết xong năm 1435) của
Nguyễn Trăi chép: “Bát Tràng thuộc huyện Gia Lâm, Huê
Cầu thuộc huyện Văn Giang, hai làng ấy cung ứng đồ cống
Trung Quốc là 70 bộ bát đĩa, 200 tấm vải thâm.”(Bát
Tràng làm đồ bát chén, Huê Cầu nhuộm vải thâm). Làng Bát
Tràng có từ đời xưa, dù sử không chép, nhưng chắc Bát
Tràng đă đóng góp rất lớn vào sự phát triển đồ gốm đời từ
đời Lư hay trước đó. Tục truyền vào đời Lư, Hứa Vĩnh Kiều
(hay Cảo), Đào Trí Tiến, Lưu Phương Tú (hay Lưu Vĩnh Phong)
đi sứ nhà Tống, trên đường về học thêm được các nước men
màu về Việt Nam truyền dạy. Hứa Vĩnh Kiều truyền cho Bát
Tràng nước men trắng, Đào Trí Tiến truyền cho Thổ Hà nước
men đỏ, Lưu Phương Tú truyền cho Phù Lăng nước men vàng
thẫm. Dân các làng này vốn đă làm đồ gốm từ trước đó rồi,
nay chỉ thêm các màu men khác mà thôi.
Đồ gốm Bát Tràng có thể xuất phát từ Thanh Hóa với những
người gốc vùng này theo Lư Thái Tổ dời đô vào Thăng Long
năm 1010 (như ḍng họ của Nguyễn Ninh Tràng) mang nghề gốm
vào lập nên làng Bát (tên cổ của Bát Tràng). Ở Thanh Hóa
có làng Bồ Xuyên và trang Bạch Bát chuyên làm đồ gốm từ
thời cổ, như trong câu đối c̣n ghi lại ở đ́nh làng Bát
Tràng:
Bồ di thủ nghệ khai đ́nh vũ
Lan nhiệt tâm hương bái thánh thần
(Nghề từ làng Bồ ra, khởi dựng đ́nh miếu
Ḷng thành như hương lan, cúng tạ thánh thần)
[1]
Cùng với Chu Đậu và các nơi chuyên làm đồ gốm khác, Bát
Tràng đă là một trung tâm sản xuất đồ gốm lớn, cung ứng
cho thị trường nội địa và thị trường quốc tế. Đồ gốm Bát
Tràng được xuất cảng sang Nhật Bản, Đông Nam Á và nhiều
nơi khác. Vào thế kỷ 17, các hăng buôn Tây phương thường
ghé Việt
Nam để mua hàng chuyển sang các nước khác, trong đó đồ gốm
và đồ gốm Chu Đậu, Bát Tràng góp phần lớn. Trước đó là các
tàu buôn Nhật Bản mua hàng về nước. Mặc dù Bát Tràng nổi
tiếng về gạch, nhưng thật ra đó chỉ là phó sản của ḷ gốm.
Những viên gạch vuông được dùng để làm bao nung, chứa các
món đồ gốm khác khi được nung trong ḷ. Sau 3 lần nung,
gạch trở nên cứng, được gọi là 'gạch da sắt'. Gạch da sắt
trên thị trường gọi là gạch Bát Tràng, thường rất được ưa
chuộng để lót sân, lót đường.
Bát Tràng và Chu Đậu phát triển song song với nhau, lại
cũng không ở xa nhau lắm. Tuy nhiên đồ gốm ở mỗi nơi phát
triển theo một đường khác nhau. Đồ gốm Chu Đậu có nghệ
thuật cao hơn Bát Tràng, nhưng từ cuối thế kỷ 17, đồ gốm
Chu Đậu đă bị Trịnh Tùng huỷ diệt v́ dân Hải Dương đă theo
nhà Mạc mà chống lại vua quan nhà Trịnh. Một số nhỏ đă dời
đến Bát Tràng, tiếp tục nghề cũ nhưng không làm đồ gốm
theo kiểu Chu Đậu nữa.
Có thể nói, không có thứ đồ gốm nào mà không được Bát
Tràng sản xuất, từ chén bát đĩa, gạch cho đến b́nh, ấm,
thạp, chậu, âu, ang, khay, choé, hũ, nậm rượu, b́nh vôi,
điếu thuốc lào… của sinh hoạt dân gian hàng ngày, cho đến
các món đồ thờ cúng như chân đèn, chân nến, lư hương, lư
trầm, đỉnh thờ, đài thờ, mâm, kiếm thờ, tượng rồng, tượng
nghê, tượng hổ, tượng voi, tượng thánh, tượng thần, tượng
Phật… Không có món đồ gốm thường dùng nào trong đời sống
mà không được Bát Tràng làm. Với các vật tích c̣n lại,
người ta thấy đĩa, chân đèn, lư hương được làm từ thế kỷ
14, bát chén từ thế kỷ 15, ấm, nậm rượu thế kỷ 16, long
đ́nh, tượng thế kỷ 18, tượng, đỉnh, đài thờ thế kỷ 18,
b́nh vôi thế kỷ 18, đặc biệt đến thế kỷ 20 lại xuất hiện
thêm loại đài thờ h́nh chữ nhật. Cũng vẫn theo truyền
thống đồ gốm Việt Nam cổ truyền, dưới đáy của đồ gốm Bát
Tràng thường để trơ đất mộc, không tráng men. Phan Huy Lê,
Nguyễn Đ́nh Chiến và Nguyễn Quang Ngọc (trong Gốm Bát
Tràng - thế kỷ XVI - XIX) c̣n cho biết thêm: tượng
nghê và tượng ngựa xuất hiện từ thế kỷ 17, tượng Phật,
tượng rồng hổ xuất hiện từ thế kỷ 18.
Về nước men, Phan Huy Lê, Nguyễn Đ́nh Chiến và Nguyễn
Quang Ngọc viết:
“TK XIV - XV men nâu chẳng những được thể hiện theo phong
cách truyền thống mà c̣n được vẽ theo kỹ thuật men lam,
tạo ra một hiệu quả mới lạ. Từ TK XVI đến TK XIX, men nâu
c̣n được dùng trong việc điểm tô thêm cho các đề tài trang
trí. Men lam xuất hiện khởi đầu ở Bát Tràng với những đồ
gốm có sắc xanh ch́ đến đen xẫm. TK XVI - XVII tuy không
phát triển nhưng men lam c̣n thấy dùng vẽ hoa lá và điểm
thêm vào các phần trang trí nổi. TK XVIII - XIX men lam
mới được phục hồi trên gốm Bát Tràng. Men trắng ngà sử
dụng trên nhiều loại h́nh đồ gốm từ TK XVII đến TK XIX.
Mặc dù loại men này mỏng, màu vàng ngà bóng nhưng thích
hợp với các trang trí nổi tỉ mỉ (đặc biệt là chân đèn, lư
hương).
Men xanh rêu được dùng kết hợp với men trắng ngà và nâu
tạo ra một ḍng ‘Tam thái’ rất riêng của Bát Tràng ở TK
XVI - XVII.
Men rạn, là ḍng men chỉ xuất hiện tại Bát Tràng từ cuối
TK XVI và phát triển liên tục qua các TK XVII, XVIII và
XIX.”
Tượng nghê thường có men nâu hay men xanh xám, các món
khác thường có men trắng ngà, trắng xám, men rạn, men xanh
rêu, men nâu, men lam. Hoa văn tứ linh (long ly quy phụng),
hổ phù, hoa cúc, cánh sen, nghê, hạc, cúc trúc mai lan,
hoa dây, chữ vạn, chữ thọ, chữ phúc, h́nh người. Sang thế
kỷ 19 có thêm các h́nh cảnh trang trí như 'ngư ông đắc lợi,
bát tiên quá hải, Tô Vũ chăn dê, tam đa (cành quả đào,
cành lựu, cành phật thủ), lục bảo (kiếm, thư bút, túi gấm,
đỉnh ngọc, đàn, b́nh lá ngọc). Ngoài hoa văn do men màu vẽ
cảnh, ta c̣n thấy hoa văn vẽ bởi men cạo hay hoa văn đắp
nổi trên các món đồ thơ như chân đèn, lư hương, nghệ thuật
chạm nổi rất tinh tế, chứng tỏ tŕnh độ nghệ thuật rất cao.
Đây là nét đặc biệt của gốm Bát Tràng, trỗi vượt hơn hẳn
các loại đồ gốm khác, trước đó hay cùng thời như
Chu
Đậu… Trên các món đồ cũng thường có minh văn ghi tên họ
người đặt hàng, tên họ người làm và năm tháng chế tạo.
Niên hiệu th́ đủ cả, từ năm Sùng Khang thứ 7 (1572) đời
nhà Mạc, Vĩnh Trị, Cảnh Thịnh, Cảnh Hưng đời Lê, cho đến
đời Quang Trung, Gia Long. Như cặp chân đèn làm năm Diên
Thành thứ 2 (1579) có ghi tên người đặt hàng là Lê Thị Lộc,
hay một chân đèn khác làm ngày 3 tháng 5 năm Đoan Thái thứ
2 (1587) có ghi người chế tạo là Đỗ Phủ cùng vợ là Nguyễn
Thị Bản, con trai là Đỗ Xuân Vi cùng vợ là Lê Thị Ngọc làm,
người đặt hàng là Đoan Quân Công Mạc Ngọc Liễn và Phúc
Thành công chúa cùng một số người khác. Cũng như các món
đồ gốm Chu Đậu, rất nhiều đồ gốm Bát Tràng ghi tên đàn bà
chế tạo hay đặt hàng, chứng tỏ thêm rằng người đàn bà
trong xă hội cổ Việt Nam rất được coi trọng, khác hẳn tục
trọng nam khinh nữ của xă hội Trung Hoa, Nhật Bản…
Hải Dương mới trở lại làm đồ gốm, không theo truyền thống
Chu Đậu cũ và cũng rất nổi tiếng về phẩm chất cao, rất
được dân chúng ưa chuộng, mua dùng trong sinh hoạt hàng
ngày. Trong khi đó, suốt từ xưa đến nay, Bát Tràng vẫn
tiếp tục sản xuất chén đĩa, b́nh ấm… cho nhu cầu trong
nước, kéo dài một truyền thống đă khởi đầu từ hơn 10 thế
kỷ trước, tuy rằng so với Chu Đậu, nước men Bát Tràng
không mịn bằng, hoa văn lại khá lem luốc. Làng Bát Tràng
hiện nay lớn hơn. Ở ngay cạnh làng cũ đă bị phù sa chôn
vùi, trở nên một trung tâm sản xuất đồ gốm quan trọng. Có
thể nói, Bát Tràng là trung tâm sản xuất đồ gốm lâu đời
nhất ở Việt
Nam
và là một trung tâm văn hóa chính yếu. Từ miền Bắc Việt
Nam, hy vọng rằng đồ gốm Hải Dương, đồ gốm Bát Tràng sẽ
được bán rộng ra toàn quốc và xuất cảng đi khắp nơi, làm
rạng danh truyền thống đồ gốm tốt đẹp quê nhà.
[1]Theo
Phan Huy Lê, Nguyễn Đ́nh Chiến, Nguyễn Quang Ngọc, Gốm
Bát Tràng Thế Kỷ XIV - XIX, nxb Thế Giới, Hà Nội 1995. |