|
Triệu Châu
hỏi Nam Tuyền: Đạo là ǵ?
Đáp: Đạo là
tâm b́nh thường của ta.
Triệu Châu:
Vậy th́ có cần tu không?
- Nếu có ư
muốn tu tức là trái với đạo.
Hỏi: Nếu
không có ư muốn tu, làm sao biết là Đạo?
Đáp: Đạo
không phải ở chỗ biết hay không biết. Nếu là biết th́ cái
biết đó chỉ là vọng giác. C̣n nếu không biết th́ có khác
chi vô trí. Nếu đạt tới chỗ không c̣n nghi nan th́ cũng
như mở ra một ṿm thái hư rộng lớn trong đó có muôn vật
dung hợp, làm sao có thể phân biệt hay phê phán thị phi
được.”
*********
B̀NH THƯỜNG TÂM LÀ ĐẠO
T.Đ.P.B.
“B́nh
thường tâm thị đạo”
đă được Mă Tổ tuyên bố lần đầu tiên. Và Mă Tổ đồng thời
cũng tuyên bố rằng “Tâm là Phật.” Do đó, ta thấy
b́nh thường tâm không phải là cái tâm lư thường tục của
chúng ta trong cuộc sống năo loạn thường ngày, nhưng tâm
đó ví như một mặt trời soi sáng vạn hữu của thế giới đa
thù mà vẫn tự nhiên. Đây là cuộc sống của Vô Niệm.
Ngài
Trường Sa nói “Khi đói th́ ăn, khi mệt th́ ngũ.”
Ngài Đại
Châu Huệ Hải cũng nói như vậy. Bàng Uẩn th́ nói:
“Thần
thông và diệu dụng,
Gánh
nước và bửa củi.”
Những lối
cư xử trên của Thiền Sư không mang một ư nghĩa nào của trí
thức, nó phát xuất từ Vô Thức (bản thể của Vô Niệm) hay
nói khác đó là những hành động tự phát. Sự tự phát này
không phải theo bản năng như thú vật, nhưng có thể nói là
vô thức tự ư thức về cái xuất phát tự nhiên đó: biết tự
nhiên.
Một Đạo
Sĩ hỏi Đại Châu Huệ Hải:
-
Có pháp nào cao hơn
tự nhiên không ?
-
Có
-
Pháp nào?
-
Biết tự nhiên.
(Đốn
Ngộ Nhập Đạo Yếu Môn, trang 78)
Trương
Trừng Cơ gọi cái biết nầy là “Phát tỉnh thực tại”
và thầy Nhất Hạnh gọi “Thắp sáng hiện hữu”
Theo những
giáo lư của Đại Thừa Phật Giáo, Pháp Thân thể hiện nơi tất
cả chúng sanh, mọi sự vật, đáp ứng cho mọi hoàn cảnh và
mọi chúng sanh chưa từng rời ṭa Bồ đề. B́nh thường tâm là
sự đáp ứng này của Pháp Thân trong những hoàn cảnh khác
nhau của cuộc sống.
Một vị
tăng trước làm thị giả cho Thần Hội nhưng trăi qua một
thời gian không thấy được Đạo, bèn rời thầy đi hành cước
khắp nơi nhưng vẫn không thỏa măn. Xảy một ngày kia, trên
đường hành cước, nghe danh tiếng của thầy ḿnh lan truyền
khắp nơi, trở lại với Thầy. Vị tăng hỏi thầy: “Thưa
thầy, thầy là một người tuyệt luân như vậy sao ngày xưa
thầy đă chẳng dạy ǵ cho con?” Thầy đáp: “Khi con ở
với ta, con lo cơm nước th́ ta khêu lửa, con sắp bàn th́
ta lấy chén. Có bao giờ ta đối xử không phải với con đâu!.”
Thiền là
một tuyệt đối khẳng định bên trong một tuyệt đối phủ định.
Nói rằng vạn pháp là không nhưng là chơn không, diệu hữu.
Do đó thái độ của Thiền đối với cuộc sống hằng ngày là:
“Có th́ tự có mảy may, không th́ cả thế gian này cũng
không.” Và thái độ này chỉ có thể được khi nó phát
xuất từ tâm điểm của cuộc sống là Tâm, là Vô Thức hay Tự
Tánh, cái tánh tự nhiên sẵn có nơi mọi chúng sanh.
Nói về
tánh tự nhiên th́ theo các nhà tâm phân học hiện đại như
Erich From th́ hầu hết chúng ta đều bất b́nh thường về tâm
lư, đă đánh mất tự thủa nào cái tánh chính thật của chúng
ta. Và theo Thiền, sự khôi phục lại toàn thể con người của
chúng ta chỉ có thể thực hiện với sự giác ngộ, Kiến Tánh.
Kiến Tánh là soi sáng trên tánh tự nhiên của chúng ta như
Huệ Hải nói: biết tự nhiên. Do đó, “b́nh thường
tâm” tức là Vô Niệm vậy.
Quan điểm
của Thiền là phóng sâu trực giác Bát Nhă vào thực tại để
nắm bắt thực tại, hiện tiền trong hiện tiền. Một Thiền
Sư dạy: “Khi hỏi, các ông phạm lỗi, khi không hỏi, các ông
phạm lỗi.” Một vị Tăng bước đến đảnh lễ, Sư đánh. Vị tăng
hỏi: “Tại sao Thầy đánh tôi?” Câu trả lời là: “Nếu để cho
nhà ngươi mở miệng, tất cả sẽ trôi qua!”(D.T. Suzuki, The
Zen Doctrine of No mind, trang 109). Vâng, tất cả sẽ
trôi qua một cách mơ màng và lơ đảng nếu tâm trí chỉ ràng
buộc vào trí thông minh của những khái niệm. B́nh thường
tâm tức là nắm bắt ngay thực tại, không để nó trôi qua
trong ánh sáng mơ màng của ảo tưởng, của sự vô ư thức. Một
Thiền sư dạy: “Trong việc học Phật, không cần phải biết
nhiều về những vấn đáp trong Thiền, cũng không cần rút các
câu văn trong các kinh điển coi là chân lư cao tột nhất.
Bàn luận về những vấn đề như vậy nên để dành riêng cho
những người luyện trí. Sự khôn ngoan kia không giải thoát
người ta ra khỏi sinh tử được. Nếu muốn hiểu thật sự chân
lư của Thiền, hăy t́m nó trong những lúc đi, đứng, nằm,
ngồi, khi nói chuyện, khi im lặng, hoặc lúc làm bất cứ
việc ǵ. Làm như vậy, các ông sẽ thấy rơ chân lư các ông
đang theo, kinh điển các ông đang học.” (D.T. Suzuki, The
Zen Doctrine of No mind, trang 110)
Đến đây ta
thấy tính chất tự nhiên và thụ động của giáo lư b́nh
thường tâm. Tính chất nầy cũng được thấy ở nhiều tôn
giáo khác.
Về tính
chất thụ động, những hành động thụ động là những hành động
nẩy ra từ bóng tối của im lặng, từ cơi miền ẩn mật của vô
thức. Những hành động này được thực hành không có một dụng
ư nào, những hành động của sự phó ḿnh cho Chúa, Chúa thực
hiện những hành động đó chớ không phải con người thực hiện.
Chúa ở đây là Tự Tánh, là thức vũ trụ. Những hành động như
vậy ra ngoài thiện và ác.
Trong Phật
Giáo, thụ động tính đi đôi với tính kham nhẫn. Kham nhẫn
là chấp nhận sự sống như thế là như thế. Thiền dạy phải
cầu Phật bên trong, không cầu Phật bên ngoài phải y theo
Tự Tánh. Mà Tự Tánh vốn sẵn ở hiện tại, bây giờ và ở đây,
và hàm tàng trong vạn pháp. Chấp nhận có nghĩa là sống với
cái hiện tiền, bây giờ và ở đây.
Ngài Lâm
Tế dạy: “Người tu đạo chân chính không làm ǵ hết mà
tiếp tục sống với mọi cơ duyên của cuộc sống trần gian này.
Buổi sáng, y lặng lẽ thức dậy, vận y phục và ra ngoài làm
việc. Khi muốn đi dạo, y liền đi dạo, khi muốn ngồi y liền
ngồi. Y không làm Phật, không nghĩ tưởng xa vời. Sao lại
có thể thế? Cổ nhân nói nếu bạn chuyên tâm tinh tấn cầu
Phật quả, Phật của bạn thật t́nh là căn nguyên của luân
hồi miên viễn.”
Trong thụ
động tính nầy, tôi muốn nhắc đến trường hợp chứng đạo của
các Thiền Sư. Huệ Khả đă bao năm cần cầu t́m kiếm chân lư
nhưng không thấy, rồi một hôm đến với Bồ Đề Đạt Ma cầu an
tâm, Đạt Ma dạy: “Đưa tâm ông đây ta an cho!” Huệ
Khả t́m măi không ra tâm: “Con t́m măi mà không thấy
tâm ở đâu cả.” Đạt Ma kết luận: “Ta an tâm cho ông
rồi đó.” Thế là cái tâm đau khổ của Huệ Khả chỉ do ông
tạo ra. Huệ Khả có lẽ lúc bấy giờ mới biết là đời sống Đạo
không phải là đời sống cần cầu, cố gắng làm Phật chỉ là
một thái độ “trên tâm lại sinh thêm một cái tâm nữa” (tâm
thượng tâm). Và dĩ nhiên, cái tâm chỉ là ảo tưởng.
Tímh thụ
động này là một hậu quả tất nhiên của học thuyết Tính
Không của Phật Giáo Đại Thừa mà Thiền là một cách diễn tả
sâu sắc của giáo lư nầy. Học thuyết Tính Không là sản phẩm
của lư thuyết duyên khởi. Và với Thiền, giác ngộ rồi nhưng
vẫn không tách rời định luật nhân quả. Một ông lăo hỏi
Bách Trượng: “Người Giác Ngộ rồi có lạc vào nhân quả
không?” Bách Trượng trả lời: “Bất muội nhân quả.”
Bất muội nhân quả có nghĩa là tùy thuận theo lư nhân quả
vậy. Đó là thụ động tính trong đời sống Thiền. B́nh thường
tâm là cái tâm hoạt động ch́u theo ḍng hiện tượng xảy ra
theo định luật nhơn duyên trong mỗi ngày vậy. Và cũng do
đó, Bách Trượng mới có thể tách ĺa truyền thống của giáo
đoàn mà chủ trương đem cần lao vào cuộc sống Thiền.
Đi sâu xa
hơn vào tính thụ động trong đời sống Đạo nầy, ta có thể
giải nghĩa tính chất nầy với một câu trong Thánh Kinh:
“Ư cha được nên.” (Que ta volontée soit faite) (Tân
ước). Người đạt được chân lư, những hành động của họ không
phải họ làm, mà là tâm thức vũ trụ làm trong sự đáp ứng
hoàn cảnh, những hành động tự phát từ Vô thức. V́ vậy hành
động nầy không có liên hệ ǵ với những vấn đề đức lư,
không thể đánh giá là thị hoặc phi. Một nhà thần bí Cơ Đốc
nói: “Trong bản thể của tôi, tôi hiện h ữu với Thượng
Đế s ẵn có. Chính tôi, tôi không kỳ vọng cũng không yêu
thương, và tôi cũng không tin, không cậy vào Thượng Đế…
Bao lâu mà con người c̣n có khuynh hướng về đức lư và muốn
làm cho Thượng Đế trở thành tốt đẹp, người ấy vẫn chưa
được toàn hảo, vẫn c̣n bị ngoại vật làm quấy rầy….(con
người toàn hảo) không bao giờ tin được vào đạo đức, tăng
giá trị hoặc phạm tội…” (D.T. Suzuki, The Zen doctrine of
no mind, trang 113)
Tuy nhiên
ta không nên quan niệm tâm thức vũ trụ hay vô thức là một
quyền năng có thật sai khiến những hành động. Nói rơ ràng
hơn, những hành động thụ động kia là những hành động của
Tánh Không. Lư thuyết Tánh Không như ta biết là toàn thể
của Thiền Tông và giác ngộ là thể nhập vào Tánh Không,
không trụ vào chỗ nào để sinh tâm, như một tấm gương đă
sạch bụi, phản chiếu sự vật y như thật mà tâm không khởi
một móng niệm. Kinh nghiệm này Phùng Hữu Lan gọi là “
kinh nghiệm thuần tuư,” tính chất của nó theo Lăo giáo
gọi là “tri vong thị phi” (biết quên điều phải trái).
Kinh nghiệm thuần túy này tạo cho con người một cái thấy
như thực, một cái thấy mà trong đó, núi thật là núi và
sông thật là sông.
Đây là
b́nh thường tâm. Cái thấy của bậc Thánh nhân không khác
với cái thấy của người phàm tục, núi họ vẫn thấy là núi và
sông họ vẫn thấy là sông. Tuy nhiên từ thâm sâu vẫn có sự
khác nhau, cái thấy của bậc Thánh nhân mang một ư nghĩa
thiêng liêng hơn: khi bậc đă chứng ngộ thấy núi, thấy sông
th́ họ biết rằng họ thấy núi, thấy sông, và núi sông kia
hiện ra trong tâm thức họ y như thực tướng của chúng,
trong khi những người phàm phu thấy núi, thấy sông không y
như thực tướng của chúng mà qua cặp kiến màu của ư niệm.
D.T.
Suzuki viết:
“Khi
‘cái tôi’ là một ảo ảnh, tất cả những ǵ tiếp nối trong
nhăn hiệu này cũng phải đều là ảo hóa, bao gồm những tội
lỗi, đạo đức, các thứ cảm t́nh, các thứ dục vọng, địa ngục
và thiên đường. Bằng sự xóa bỏ những ảo tưởng này, thế
giới với tất cả những sự vật đa thù của nó sẽ biến mất, và
nếu một cái ǵ ở bên cạnh có thể tác động, cái này sẽ tác
động với sự tự do tối thượng, với sự vô úy, giống như đấng
Pháp Vương, thật sự như cái Một.” (When “I” is an
illusion, all that goes on in the name of this agent must
be an illusion too, including moral, sins, various kinds
of feeling and desires, and hell and the land of bliss.
With the removal of this illusion, world with all its
multiplicities will disappear, and if there is anything
left which can act, this one will act with utmost freedom,
with fearlesnesess, like the Dharma King himself, indeed
as the One). (The Zen doctrine of no mind, trang 115)
Chỗ khác
D.T.Suzuki viết:
“Trong
lư thuyết ảo tưởng, tưởng tượng hay phân biệt là một mô
giới phát sinh nhiều thứ tội lỗi và v́ vậy sinh ra sự khốn
khổ. Pháp tuyệt đối vô tri về mọi sai biệt, đức lư, tâm lư,
nhận thức luận, có nghĩa là vô thức, những người t́m kiếm
sau đó là phải siêu vượt tâm phân biệt ở mọi h́nh thức và
thấy sự vận hành của chính Trí Bát Nhă. Khi điều đó được
thực hành, vô tâm sẽ thể hiện, không có ‘niệm tưởng’ trong
mọi hành động của chúng ta, đó là trạng thái vô tâm; đó là
một cuộc sống không cố gắng để cho Vô Thức sống cuộc sống
của nó.” ( In the illusionist teaching, imagination or
discrimination is the creating agency of all kinds of
evils, and hence of misery. As the Dharma is the
absolutely unaware of all distinctions, moral,
psycological, and epistemological, which means the
Unconcious, the seekers after it are to trancend
discrimination in all its forms and to see into the
funtioning of Prajna itself. When this is done, mushin (wu
shin) is realised, there is no ‘mind’ in all our doings
which is the so called state of ‘no-mindness’; this is a
life of effortlessness, letting the Unconcious live its
life). (The Zen doctrine of no mind, trang 116)
Vô thức tự
sống cuộc sống của nó chớ không phải con người của tham
sân si, của những giả duyên sống trong những hành động tự
phát kia.
Và như
trên đă nói, cuộc sống với “b́nh thường tâm” siêu
vượt mọi h́nh thức thị phi nên nó mang một sự tự do tuyệt
đối, thông dung vô ngại. Như một cơn gió thổi qua và lôi
đi bao mái nhà, như ngọn lửa vô t́nh thiêu rụi cánh đồng
cỏ khô, người đạt dược b́nh thường tâm mang một phong cách
như Thần Hội diễn tả:
“Người
nào có được kinh nghiệm của Tâm giữ được vô niệm ngay cả
khi thân thể của y bị chặt đứt thành nhiều mănh trong cuộc
hổn chiến. Người ấy cứng rắn như kim cương, vững chăi và
bất động. Ngay cả khi chư Phật nhiều như số cát sông hằng
xuất hiện cũng không một móng vui mừng khởi lên trong tâm
y. Ngay cả khi hằng hà sa số chúng sanh cùng lúc biến mất,
cũng không một niệm sợ hăi khởi lên. Người ấy an trú trong
niệm Không và sự b́nh đẳng tuyệt đối.” (Gernet, Entretiens
du maitre de Dhyana Chen Houei)
Đó là sự
thể hiện của Vô Niệm trong cuộc sống hằng ngày. B́nh
Thường Tâm như vậy là hành xử, tiếp vật trong tâm Vô Niệm,
trong niệm của Không Tánh chứ không phải tự bản năng do sự
vô ư thức. Đó là sự thể hiện của tính vô ngă nơi tâm người
Phật Tử. Người Phật Tử này vẫn hành xử giống như mọi người
v́ tâm y không c̣n sự phân biệt, nhưng trong hành động của
y mang một tính chất thiêng liêng. V́ vậy Bàng Uẩn gọi
những hành động của ông như gánh nước và bửa củi là thần
thông, diệu dụng và Mă Tổ đă gọi những công việc trong đời
sống hằng ngày là những việc Đạo:
Thần
thông và diệu dụng
Gánh
nước và bửa củi
(Thần
thông cập diệu dụng
Vận
thủy cập bàn sài)
Một vị
tăng hỏi Triệu Châu:
-
Tổ Đạt Ma qua từ Tây
Trúc có ư ǵ?
Triệu
Châu đáp:
-
Cây tùng ngoài sân.
Tuy mẫu
đối thoại trên có một dụng ư là đập tan tính chất tù túng
và chướng ngại của khái niệm để hiển bày Vô Niệm, câu trả
lời không ăn nhập ǵ với câu hỏi. Tuy nhiên, ta cũng phải
nhận thấy ở đây một sự chấp nhận nào đó về ư nghĩ thiêng
liêng của những sự vật tầm thường nhất ta vẫn gặp thường
ngày. Một nhà Thần học lớn thời Trung Cổ đă nói:
“Những
hiểu biết của tôi về khoa Thần học và Thánh kinh, tôi đă
học được trong rừng cây, trong đồng nội bằng cầu nguyện và
suy tưởng. Tôi không có những vị Thầy khác hơn là những
cây giẻ, những cây sồi.”
Từ những
nhận định trên, ta thấy trong đời sống Thiền, thiên nhiên
giữ một vai tṛ quan trọng, nhưng ta nên nhớ rằng thiên
nhiên ở đây mang một ư nghĩa nội tại như ta sẽ thấy. D.T.
Suzuki viết:
“Đời
sống nội tại của chúng ta được hoàn hảo khi nó đắm ḿnh
vào thiên nhiên và trở thành một với thiên nhiên.” (Our
inner life is complete when it merges into Nature and
become one with it). (Studies in Zen, trang 203)
Nói một
cách rơ ràng, tánh tự nhiên đơn sơ xuất hiện từ tâm Vô
Niệm của Thiền giả và ứng hợp tự nhiên với cuộc sống. Ở
đây có một cái ǵ rất khó diễn tả. Điều tôi muốn nói là
cái thiên nhiên nhưng là siêu nhiên và ngược lại cái siêu
nhiên là cái thiên nhiên. Kinh nghiệm hết sức b́nh thường,
nền tảng và đơn sơ là Tâm Đạo trong ư nghĩa nầy. V́ vậy,
ta thấy lối tiếp xử của Thiền với cuộc đời rất sâu xa và
thanh thoát. Đứng trước một đối tượng, Thiền giả ḥa ḿnh
vào đối tượng bằng cái kinh nghiệm căn bản và nguyên sơ
kia.
D.T.Suzuki
gọi các Thiền Sư, những người sống cuộc đời với ư nghĩa
thiêng liêng đó là những nghệ sĩ của cuộc sống:
“Tất
nhiên trời sinh chúng ta không đều là khoa học gia, nhưng
trời sinh chúng ta ai cũng có thể là nghệ sĩ - tất nhiên,
không phải là thứ nghệ sĩ đặt biệt nào đó như họa sĩ, điêu
khắc gia, nhạc sĩ, thi sĩ v.v… Mà là những nghệ sĩ của đời
sống….
“Một
trong những Thiền Sư vĩ đại nhất đời Đường nói: “Với một
người làm chủ được chính ḿnh th́ bất cứ ở đâu hắn cũng cư
xử thành thật với chính ḿnh.” Và người ấy tôi xin gọi là
bậc nghệ sĩ chân chính của đời sống.” (Thiền và Tâm phân
học, Như Hạnh dịch, trang 46)
Đến đây ta
thấy ch́a khóa của Thiền mở vào cuộc sống là “biến cuộc
sống đầy vô vị, một cuộc sống toàn những cái thường t́nh
buồn tẻ, chán nản, thành một nghệ thuật đầy sáng tạo tính
nội tâm chân chính.” (Thiền và Tâm phân học, trang 46)
Và đến đây
ta cũng hiểu tại sao Thiền lại ảnh hưởng mạnh đến những
nền văn hóa mà nó lan tràn đến như Trung Hoa, Việt Nam và
nhất là Nhật Bản. Ở Nhật Bản ngày nay ta thấy những nghệ
thuật như cắm hoa, uống trà, đánh kiếm, bắn cung, hội họa,
v.v…ảnh hưởng sâu xa tinh thần Thiền.
Tóm lại,
Thiền có thể nói là một nghệ thuật sống. Nghệ thuật này là
sự giao tiếp với cuộc sống một cách sáng tạo và phong phú,
và v́ vậy tự nhiên và b́nh thường nhất trong một thể
nghiệm nền tảng và nguyên sơ nhất. Với Thiền, mọi sự vật ở
trần gian đều mang một ư nghĩa thiêng liêng v́ Đạo bàng
bạc mọi nơi trong những sự vật đó. Và kinh nghiệm về cuộc
sống của Thiền này xuất phát từ nền tảng sâu xa nhất là Tự
Tánh, nó là một trực giác rất thuần túy gọi là Bát Nhă. V́
vậy, b́nh thường tâm tức là Đạo.
Để kết
luận chương này, ta đọc mẫu đối thoại sau đây:
Triệu
Châu hỏi Nam Tuyền: Đạo là ǵ?
Đáp:
Đạo là tâm b́nh thường của ta.
Triệu
Châu: Vậy th́ có cần tu không?
- Nếu
có ư muốn tu tức là trái với đạo.
Hỏi:
Nếu không có ư muốn tu, làm sao biết là Đạo?
Đáp:
Đạo không phải ở chỗ biết hay không biết. Nếu là biết th́
cái biết đó chỉ là vọng giác. C̣n nếu không biết th́ có
khác chi vô trí. Nếu đạt tới chỗ không c̣n nghi nan th́
cũng như mở ra một ṿm thái hư rộng lớn trong đó có muôn
vật dung hợp, làm sao có thể phân biệt hay phê phán thị
phi được.”
T.Đ.P.B.
(Trích từ
cuốn Vô Niệm sẽ xuất bản) |