Phật
giáo Việt
Nam
và những thách thức của thời đại mới
GSTS. Trần
Ngọc Ninh, Hoa Kỳ
Kính gửi:
T. T Thích trí Siêu – Lê Mạnh Thát
Kính Bạch Thượng Toạ
Chúng tôi mới nhận được thư mời Hội thảo của Thượng Toạ
thay mặt Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam. Là một người
chỉ mới học Phật, lại rời bỏ quê hương từ gần đúng ba
mươi năm, tôi không dám tham luận hay thuyết tŕnh và
cũng không thể có mặt dự cuộc Hội thảo quan trọng này.
Tuy nhiên, v́ tinh thần trách nhiệm, tôi cũng xin đóng
góp một vài ư kiến riêng tư thô thiển gửi đến Thượng Toạ
để Thượng Toạ và Ban Tổ chức Hội Nghị hoàn toàn tuỳ nghi
sử dụng. Tôi sẽ không nói ǵ đến chính trị và Chính
quyền, v́ sau khi rời nước tôi đă nguyện chỉ nói chính
trị với những người hay đoàn thể có trách nhiệm hay với
đoàn thể nhân dân, nhưng tất nhiên không thể tránh được
sự gián tiếp đụng chạm nếu có người cho rằng không có
một lời nói hay một hành động ǵ của một cá nhân nào
không có một khía cạnh chính trị và một sắc thái giai
cấp.
Tôi xin phép vào đề ngay và sẽ phát biểu rất vắn tắt,
không biện luận v́ mỗi vấn đề là cả một cuốn sách nếu
không là một tủ sách, và không có một vấn đề nào thu hẹp
được trong không gian hay thời gian giới hạn.
Thế giới của Việt Nam xưa, gọi là xưa nhưng cách đây
cũng không lâu, có chân trời ở Yên-kinh, rồi ở Paris mà
ta gọi là Ba-lê v́ chưa ra khỏi sự đô hộ tri thức của
của Trung Hoa Khổng-Mạnh. Nay chân trời mới đổi chiều
nhưng vẫn bị một bức tường thành chặn tầm mắt và tư
tưởng. Nhưng thế giới mà Đức Phật gọi là cơi người v́ đă
thấy rằng nó có giới hạn – đang khép lại, và không những
rằng nó bao vây ta, nó sẽ, nó đang xâm nhập ta. Đó là
một sự đáng mừng, nhưng không có một sự đáng mừng nào
không tạo ra những ưu phiền lo âu, tạm gọi là vấn đề.
Một vấn đề là một vấn đề, một câu hỏi vĩnh viễn không
giải đáp cho đến khi có một vấn đề khác.
Tôi tạm ra khỏi Việt Nam ở thời này. V́ rằng những người
chết vẫn sống với chúng ta và quá khứ vẫn mờ mịt cả hiện
tại.
Bỏ ra ngoài những văn minh đă chết hay bị d́m chết, (nhiều
nền văn minh sáng lạn hơn Việt Nam) và thu hẹp nhăn quan
vào châu Á- Âu (về địa lư, Âu châu chỉ là một cái mỏm
cực Tây của đại lục Á châu), chỉ có hai địa hạt tinh
thần, một là giải đất rộng từ India (tôi xin phép dùng
những địa danh quốc tế thông qua cái lăng kính của hoa
ngữ) Từ India đến bán đảo Greece qua khu vực Tiểu Asia;
hai là châu thổ Hoàng-hà và Dương-tử. Trong mọi thời đại
ḱ diệu mà có một triết gia (tôi lại xin phép không để
tên cũng không dẫn chứng) gọi là “Thi trục” ở hai khu
vực này đă có những vị thượng trí thức xuất hiện để
hướng dẫn nhân loại: Zarathuotra, tác giả về vô danh của
ba cuốn Upanishads (Áo Nghĩa Thư) đầu tiên, Đức
Phật Sakya, Mahavira Jina, Socrat, Plato, Aristot, Jesus
rồi Mahomet, ở địa hạt thứ nhất; Khổng Khâu, Lăo-Đam
(?), Mặc-tử, Trang Châu ở Trung Hoa. Tất cả các vị này,
tuy mỗi vị có một giáo lí hay một học thuyết riêng,
nhưng cũng đều chịu ảnh hưởng của những luồng tinh thần
ngầm của các dân tộc địa phương mà ngày nay không c̣n ai
biết rơ. Trong địa hạt India-Greece, cái gịng chính là
dùng sự luận lí để t́m chân lí, từ cái gốc ấy đă mọc ra
khoa logic và triết lí, và một cái chồi nữa là algouth,
toán học với khoa học. Trong địa hạt hoa ngữ, gịng
chính là sự đi t́m “đạo” để tạo ra nền trật tự gọi là
“b́nh thiên hạ” từ cái gốc ấy, kĩ thuật đă nảy nở mà
không vào khoa học, và triết lư cũng không phát triển
được. Đến đời Hán th́ một “đạo” được chính quyền chọn là
chính thống và các tranh luận của bách gia chư tử bị cắt
đứt, cho đến khi Đạo Phật du nhập vào. Đạo Phật lúc đó
đă qua thời đại Nagarjuna (Long Thọ) và
Asanga-Vasubandhu (Vô Trước-Thế Thân), đă phải chuyển di
sang Trung Hoa để tránh nạn diệt vong. Lúc đầu phải chấp
nhận không những là một số ngôn-từ của tư tưởng Hán mà
cả một vài chế độ của xă hội Hán (tục thờ cúng tổ tiên,
đức hiếu, sự biến Moggallana thành Mục-kiền-liên, sự d́m
địa vị của người đàn bà). Đạo Phật chinh phục cả cơi
Đông Á. Thiền đạo từ tổ Huệ Năng, không những chỉ chuyển
từ Lăng-già mà Bồ-đề Đạt-ma (Bodhi-Dharma) mang tới,
sang kinh Kim-cương, mà c̣n thu thập phép tĩnh tâm để
biến Thiền Như Lai và Diện Bích Thiền thành Thiền của Tổ
và bắt đầu lập ra những công án như Trang-tử. Tôi nhắc
lại những chuyện xưa này chỉ đễ nói rằng trong lịch sử (không
phải là lần thứ nhất) Đạo Phật đă dung hóa mà c̣n tự hóa
để hoằng đạo. Đó là cái đức lớn của Đạo. Sau đó th́
chính Khổng giáo cũng phải thay đổi. Chu Hi, Tŕnh Hạo
rồi Vương Dương Minh cùng đều nhiễm Duy-Thức-học để lập
ra Tân-Khổng-giáo đời Tống và đời Minh. Cho đến thời
nay. Tất cả các đạo cũ, của hơn hai ngàn năm lịch sử,
đều bị cấm v́ đă có một đạo mới lên ngôi thượng tôn.
Cũng vẫn ở trong truyền thống Trung Hoa là chối từ sự
t́m chân lí và bản thể bằng logic mà thôi. Gần đây, báo
chí quốc tế đăng tin rằng vơ thuật Thiếu-Lâm-tự lại được
phục sinh. Thiền Thiếu Lâm là Thiền Bắc tông, tôi gọi là
Thiền dấn thân, Thiền của các thiền sư cầm thiền-trượng
đi hành hiệp, có khi trong các Bang Hội buôn muối. Hăy
cẩn thận. Đây có thể chỉ là để diệt một phái Phật-giáo
dấn thân mới thành lập. Tôi xin ngưng bút tuy là chuyện
nước khác.
Thế giới cũ đế lắm. Chỉ có chuyện với lân bang. Mà lân
bang dù lớn đến đâu th́ đại khái cũng chỉ hơn ta một
chút. Lâm trận th́ cũng cầm cây giáo, cây qua và đỡ bằng
cái khiên mộc. Chiến thuyền th́ bằng gỗ, cọc tre có thể
đâm thủng.
Thế giới biến đổi khi từ một nửa trái đất xa có những
chiến hạm bịt sắt, chạy hơi nước, có súng đại bác lắp
trên, đến cửa bể của ta. Hai mươi người lính đánh thuê,
có súng, đủ để hạ thành Hà Nội và chiếm cả Bắc Hà. Đó là
chuyện của ngày hôm qua.
Ngày hôm nay, chúng ta đă sang một kỷ nguyên khác nữa.
Từ Bắc cực hay từ một lục địa khác, người ta có ư thức
hệ đường mật, có tiền tài, có nhạc rock, có ti vi, có
computer… để dỗ dành, để quyến rũ, hỏi ai là người không
ham? Là v́ trong bụng con người, ḷng người th́ ngắn mà
ḷng lợn c̣n dài lắm.
Đó là mối đe dọa lớn nhất, không những cho dân tộc,
không những cho nước mà trước nhất là cho Đạo, tức là
cho Con Người. Kể cả con người của các siêu cường quốc.
Tôi là một người ở trong khoa học. Tuy rằng y học trong
thực tế chỉ là một khoa học áp dụng, nhưng gần đây đă có
những căn bản khoa học vững chăi. Và không bao giờ tôi
mất tin ở khoa học. Khoa học và một phần nào, cả kỹ
thuật nữa, là một yếu tố lớn để giải thoát tri thức của
con người.
Nhớ lại, vào khoảng năm 1970, tôi được mời vào Ban giáo
sư trường Đại học Vạn Hạnh. Năm đầu tôi được giao cho đề
tài “Đạo Phật và khoa học”. Lúc ấy, tôi chẳng biết ǵ về
đạo Phật, tuy rằng tôi thờ Phật từ thế kỷ thứ mười hai.
Tôi bắt đầu học Phật để đi t́m lại tôi và tôi đọc Đại
Tạng qua Trường Bộ Kinh (mới có quyển đầu) và qua bản
dịch Anh ngữ của Hội Pali văn bản. Đức Phật dạy tôi rằng
phải đổi lại đề tài đi. Và tôi giảng về Khoa học và kỹ
thuật có hợp với tinh thần Phật giáo hay không? Tôi vẫn
nghĩ rằng đó là một vấn đề then chốt trong thời đại. Mục
đích thứ hai của Hội thảo trong tương lai là sự phán xét
của Phật giáo về khoa học hiện đại, phương pháp, thành
quả, khuynh hướng, chứ không phải là “thảo luận một cách
khoa học về những vấn đề của Phật giáo”.
Nhưng ở t́nh trạng khoa học của đầu thế kỷ 21, vấn đề
lại thay đổi, v́ những khám phá mới không đi ngược lại
những hé lộ trong kinh Phật. Tôi chỉ kể ba điểm:
- Thứ nhất là ba điểm căn bản: 1. Về luận lư logic,
Godel chứng minh rằng trong bất cứ một hệ định đề nào
của toán học, cũng có những điều không thể chứng minh
cũng không thể phủ nhận bằng chính những định đề của hệ
thống; 2. Về vật lư: không thể nào xác định được cùng
một lúc vị trí và tốc độ của một hạt (Heisenberg); 3.
Không có cách nào theo rơi được sự biến đổi của một hệ
thống từ một thể có cơ cấu chuyển thành hổn độn
(chaotic) sắc tức thị không, không tức thị sắc.
- Hai: Chính thức Phật giảng về sự nở và sự co rút của
vũ trụ, một điều mà Einstern không dám nhận và đă được
chứng minh, ít ra là cho vũ trụ của chúng ta, rồi đưa
đến thuyết bùng nổ lớn nguyên thủy (Big bang). Và kinh
Hoa Nghiêm nói về cái mạng lưới của Indra để giữ các
thiên hà và các tinh tú trên trời, một h́nh ảnh của
những siêu thằng (superstrongs) trong thuyết mới nhất về
thiên thể học.
- Ba: Cấu trúc ṿng xoắn kép (double helix) của DNA để
giải thích luật di truyền mà đức Phật nhận là có, trong
khi khoa học huyền bí Á Đông c̣n truyền những thoại vô
căn cứ về địa lí.
Đến đây, tôi thấy rằng bức thư này đă quá dài. Tôi xin
phép kết thúc bằng một lời mong ước. Là trong thời đại
mới trước tất cả những vấn nạn mới của con người trong
thế giới và ở Việt Nam, Giáo hội cần có một lớp Tăng Ni
mới, không những là hiểu giáo lư như TT. Tuệ Sỹ và các
thầy đă luôn luôn nhắc nhở mà c̣n có cái học ngoài đời.
Không cần đi đến những phương thức và phương tŕnh (b́nh
quân) toán học, lư hóa, hay những thống kê phiền phức,
nhưng phải cố hiểu được những điều căn bản về xă hội,
tâm lí, sinh học, môi trường… và cả đến những vấn đề
trai gái, sinh đẻ, giáo dục, phá thai v. v… tiếng nói
của các Tăng Ni cho mỗi người vẫn c̣n có một sức mạnh
thuyết phục rất lớn.
Và đối với Giáo hội, nên có một thái độ tích cực, thực
tiễn về những vấn đề lớn như tư bản và bố thí, tham gia
công tác và đạo đức nghề nghiệp, ma túy và những sản
phẩm khiêu dâm, buôn bán phụ nữ và trẻ vị thành niên,
bệnh Aids (SIDA) và các bệnh hoa liễu… tùy theo thời
cuộc. Sự tham khảo ư kiến của các Phật tử hữu học là một
việc phải thường xuyên và nên nuôi dưỡng.
Tôi sợ rằng trong sự nhiệt thành, có lúc tôi đă đi quá
xa. Nhưng tôi nghĩ rằng trong bất cứ hoàn cảnh nào, một
tôn giáo lớn của dân tộc, đă tự chứng trong lịch sử,
cũng là một sức mạnh tinh thần vô cùng xây dựng và luôn
luôn hiệu quả.
Trần Ngọc Ninh (Hoa Kỳ)
Thưa Thượng tọa,
Tôi rất mừng được thấy Thượng tọa vẫn mạnh, vẫn đóng góp
nhiều cho đạo pháp và xứ sở dân tộc. Xin chúc cho buổi
Hội thảo thành công, nhân dân trong nước và ngoài nước
đều hưởng ứng Giáo hội vĩnh cửu, b́nh an.
Thân kính.
Kính gởi Thượng tọa Trí Siêu
Thưa Thượng tọa,
Trước hết tôi xin Thượng tọa thứ lỗi cho v́ vẫn gọi
Thượng tọa với chức cũ và tên cũ. Đối với tôi một Thượng
tọa mà tôi biết măi măi là một Thượng tọa, bất kể nay là
ǵ để giữ được mối thân t́nh xưa. Sau nữa là v́ không về
dự Đại hội NCPH được mà chỉ viết thư riêng về Thượng tọa
chứ không có bài tham luận.
Bữa nay, vừa lễ Phật xong, bổng nhiên nghĩ đến một vấn
đề là một nguyên nhân của hận thù và chiến tranh trong
quá khứ và c̣n lâu nữa trong tương lai, mà đức Thế Tôn
xưa từ hơn 25 thế kỷ trước đă nói ra và đă chỉ dạy đường
lối để giải tỏa, là sự chênh lệch càng ngày càng lớn
càng sâu, giữa người có và người không, nước có và nước
không, và có lẽ giai cấp có và giai cấp không…
Tôi không nói ǵ đến sự có, sự không về tiền của và về
phương tiện sản xuất hay phương tiện giết người. Càng
nói đến những điều này, càng gây thêm sự thù hận, sự đổ
máu, cách mệnh, khủng bố và ǵ nữa mà đời chúng ta chưa
biết. Giải quyết vấn đề bằng tàn bạo, thanh toán, không
giải quyết được ǵ cả, v́ hận thù không những gọi hận
thù mà c̣n tích lũy lên và truyền đời theo luật danh dự
của đời phong kiến mà đời nay chưa xóa bỏ. Tôi không kể
những thí dụ hiển nhiên của lịch sử cận đại.
Tôi nghĩ đến cái hố sâu giữa sự có và sự không, về sự
hiểu và sự biết làm (know-how). Một bên là cái thế giới
nắm giữ khoa học và kỹ thuật học ở đó sự hiểu biết chỉ
có một giới hạn là trời xanh; một bên là cái thế giới
rải rắc được gọi một cách khinh bỉ che đậy là thế giới
thứ Ba. Cái vực sâu thăm thẳm ấy không chỉ ở trên b́nh
diện trái đất không thôi mà ở ngay trên đất nước của ta
(và ở trong xă hội của ta, nhưng tôi xin phép không nói
đến sự chênh lệch giữa những người “có học” và những
người thiếu học, tuy cũng là người Việt Nam gốc). Nói
một cách vắn tắt và thu gọn, những người “có” tự coi là
lớp trên, giới “hữu học”, giới “thượng lưu” và coi
thường những người “không” là quê mùa, mọi rợ, thấp kém,
hạ tiện.
Về phương diện triết lư, sự phân biệt ấy là sự tồn tại
và biến chất của một nét tâm lư bộ lạc được gọi là “cái
khác” (l’antie, the other) hay “cái không ta”. Những
người của một bộ lạc gặp một bộ lạc khác thấy rằng họ
khác ḿnh, ḿnh đội khăn lông chim trĩ, thắt lưng lá gồi,
xăm ḿnh chim cút; họ đội khăn có lông công, thắt lưng
lá cọ, xâm ḿnh con rắn; ḿnh nói như chim di, họ nói
như chim chích. Trong tiếng ta, ta tự xưng là “người”,
họ là “kẻ” (kẻ kia), xa hơn nữa là “mán” là “mọi”. Trong
tiếng tàu, người tàu tự xưng là Hoa, là Hạ, là Thượng,
là Chu, là Hán, c̣n ngoài ra th́ là Di, là Nhung, là
Man… Trong tiếng Hi lạp, ḿnh là Grec, họ là Barbari.
Hiện tượng học (phenomé-nologic) suy tư rất nhiều về
“cái khác”. Có một điều phải nói ngay là thời thái cổ,
những tên gọi ấy không có tính cách châm biếm hoặc khinh
thị, mà c̣n có sự e dè, kinh sợ. Người Hán nói đến dân
Khuyển Nhung, Hung Nô hay Nam Man như những kẻ địch đáng
nể v́, chứ không phải để coi thường. Vạn Lư Trường Thành
c̣n đó để chứng tỏ sự đe dọa của các bộ lạc miền Bắc.
Người thời cổ văn minh hơn người thời nay ở chỗ ấy.
Thế giới văn minh ngày nay là một thế giới vô cùng tự
kiêu trong ít nhất là hai thế kỷ vừa qua, Âu Châu nghĩ
rằng họ là cái rốn của vũ trụ. Sự kiêu ngạo ấy được
truyền sang Nhật Bản, rồi sang Nga khi Nga lập chế độ
Cộng Sản và đi vào sự công nghệ hóa triệt để. Trong hiện
tại, Hoa Kỳ là siêu cường mạnh và tân tiến nhất, họ đang
tưởng rằng cả thế giới sẽ phải ở dưới chân họ. Chủ nghĩa
Marx tạm dừng lại, nhưng chủ thuyết Dawin xă hội vẫn c̣n
dai dẳng, họ tin rằng mạnh được yếu thua, kẻ nào không
đi được vào đời sống tiến bộ sẽ phải bị đào thải như
những con vật tiền sử. Phong trào Tân Phát-xít vẫn c̣n
hoạt động dưới những trá danh trong vài giới ở ngoài
nước. Trong tinh thần Trung đạo của đức Thế Tôn, tôi lên
án những chủ trương cực đoan, quá khích, sai lầm tự tôn
vô lối ấy. Tại sao sai lầm? Tại sao vô lối?
Quả đất là một cái cầu xoay nghiêng và quay lệch quanh
mặt trời. Không biết v́ lí do ǵ, đất trụ ở Bắc bán cầu
nhiều hơn là ở bán cầu phía Nam, v́ thế mà sự di động
của các loài thực vật cũng như động vật có phần dễ dàng
và giàu mạnh tại bán cầu miền Bắc. Loài người Nguyên
thủy sinh ra là ở một vùng tại bờ đông của Phi châu
nhiệt đới và chỉ có một loài ấy mà thôi. Có một hai sự
đột biến của gen trong loài người ấy, nhưng trong t́nh
trạng hiện tại của khoa học, chúng ta có thể khẳng định
rằng tất cả các người sống trên mặt đất ngày nay là cùng
một mẹ. Sau đó, có sự dị biệt trong loài là do sự thích
nghi với thiên nhiên, địa chất, địa h́nh và khí hậu là
những yếu tố liên tục rất mạnh mẽ. Có sự tranh đấu để
sống c̣n như Darwin đă nêu ra, nhưng sự tranh đấu chủ
yếu là trong và với thiên nhiên. Darwin không biết rằng
sự tồn tại và bành trướng của loài người c̣n có những lư
do tích cực chỉ thấy trong xă hội người, là sự cộng tác,
sự tổ chức và ḷng từ bi Phật tâm có từ Nguyên thủy.
Trong lịch sử, chúng ta thấy rằng ở Tây phương có khuynh
hướng là phải thắng được thiên nhiên và nếu có thể sai
khiến được thiên nhiên. Trong khuynh hướng này, tôi coi
Ấn Độ của người Aryan (bắt đầu từ khoảng năm 5000 trước
DL) là thuộc về Tây phương. C̣n ở Đông Á, ư hệ chung là
phục ṭng, và cố gắng để ḥa hợp với trời đất. Theo
thiên ư khuynh hướng và ư hệ này phải được thành từ tiền
sử. Có nguyên nhân ǵ không? Tất nhiên là phải có và có
thể có nhiều nguyên nhân, nhưng chúng ta chỉ có thể dựng
lên những giả thuyết. Ở Âu Châu, với những người di
chuyển từ tiểu Asia lên, khí hậu lạnh nhưng cũng không
quá lạnh, cho phép người ta chống lại sự rét mướt một
cách hiệu quả. C̣n ở Nam Á và Đông Á, hai trận thiên tai
long trời lỡ đất, trận núi lửa Krakatra phun làm mờ gần
nửa trái đất (75. 000 năm trước) và trận nước bể dâng
lên làm ngập khắp cơi Nam Dương (18. 000 năm trước),
thêm vào là những trận lụt hàng năm của các con sông lớn
(xem huyền thoại Đại Vũ và Chử Đồng Tử) làm cho ḷng
người bắt buộc phải luôn luôn bất an.
Được hưởng một nền an ninh tương đối, con người ở Tây
phương đă lập ra khoa Địa kế (Kỉ hà, Grometry) khoa
thiên văn, rồi khoa Logic ở Hy Lạp thái cổ, và một niềm
tin tuyệt đối vào lí trí toán học với Descartes khoa học
và sau đó, kỹ thuật đă phát triển một cách huy hoàng lấn
áp cả tôn giáo. Với cái đồng hồ, cái tàu chạy hơi nước
và những khẩu súng lớn, Tây phương đă thắng trên khắp
mặt đất và đem chủ nghĩa tư bản hoặc chủ nghĩa đối
nghịch cực đoan hơn đi gieo rắc vào các nước nghèo,
không có súng và không có sự hiểu biết.
Đông phương đă đi vào nông nghiệp rất sớm, trước Âu Châu
cả ngàn năm, nhờ có một chút ổn định về kinh tế nên kỹ
thuật cũng phát triển. Nhưng lũ lụt hằng năm đă tạo ra
một tâm lí thờ phụng để cầu an. Tục thờ cúng ông bà
trước hết là để có trong vĩnh cửu một sự che chở. Tục ấy
rất sớm đă dẫn đến chế độ vương quyền. Vua, trên lư
thuyết là người cha tối cao, nhưng trên thực tế là người
trị thủy. Đó là điều mà Karl Marx gọi là đường lối kinh
tế của Á Đông. Sự trị thủy đ̣i hỏi một quyền uy tuyệt
đối để huy động dân ra đào kênh đắp đê. Cho đến ngày
nay, giờ phút này, Khổng Tử đặt vấn đề “b́nh thiên hạ”
là mục đích của đạo Nho, cũng là trong ư hệ ấy, phải lập
và giữ trật tự của nước, trật tự và tôn ti Quân, thần,
phụ, tử. Người ta cũng có xây cầu cống, làm cửa cao nhà
rộng, và có những gia tài địch quốc. Nhưng người ta chôn
của và chỉ có vài quan niệm sơ đẳng về khoa học âm dương,
ngũ hành. Ngày nay, sau những tang thương đỗ vỡ kéo dài
suốt thế kỷ vừa qua, quá khứ đă gần như bị xóa bỏ hẳn,
Trung Quốc đă gia nhập cái thế “văn minh” của Tây phương,
với tất cả những tật bệnh và mâu thuẫn bên trong của nó,
cộng với những xung đột nội bộ của một xă hội rất kềnh
càng, phức tạp đang bị cưỡng bách thoát xác. Và một sự
kiêu hănh vô bờ, kết liên với một sự nuối tiếc cái thời
c̣n là “nước giữa” của cơi người.
Nh́n về phía bên kia của cùng một trái đất (hay của cùng
một nước) thấy cả một thái cực. Nh́n vào những đồng bào
sơn cước của chúng ta. Hay xa ra một chút, phải đến vùng
chân núi của Bangla Desh. Xa hơn nữa sang Phi châu:
Somali, Ethiopia với những năm dài đói kém, ḅ cũng
không có cỏ để ăn v́ sa mạc cướp đất, châu chấu cướp lúa
của người; những đất ở giữa lục địa, nắng xích đạo cháy
da thịt, ruồi muỗi và côn trùng tranh thức ăn với voi và
sư tử. Hoặc nh́n qua cái mênh mông của đại dương với
những đảo Đen, đảo Đa rắc lơ thơ trong nước, sang đến
Nam Mỹ, ở bờ sông Amazon thấy cái nhân loại nguyên sơ đă
cách biệt loài người không biết bao nhiêu ngàn năm. Tôi
không nói đến sự trần trụi, sự đói khổ, sự bệnh tật hiển
nhiên của những người này. Chỉ biết rằng họ cũng là homo
sapions sapiens (giống người hiểu biết) rằng họ cũng có
cùng một tuổi là hơn hai triệu rưỡi năm từ khi loài tổ
xuất hiện, như người Mỹ, người Pháp, người Nga, người
Mường và người Việt Nam. Nhưng trên bước đường đi t́m
một đất sống, một đất hứa, họ đă lạc hay bị dồn vào
những miền mà cây hoang cỏ dại và những côn trùng, những
rắn rết, những muôn thú đă chiếm đóng trong những địa
bàn dài chưa có bóng người. Và những đàn người này sống
lẫn lộn với cá sấu và chim chóc, không được hưởng sự
tiếp xúc hay cả sự đụng chạm với một (kẻ kia) để mà học
hỏi lấy một điều mới lạ.
Nhưng đừng nghĩ rằng những dă nhân, người rừng này không
biết ǵ cả. Và chớ nên đem những thành kiến và sản phẩm
văn minh bă giả của ḿnh đến để viện trợ hay giáo hóa họ.
Đó là những bạo lực thầm lặng có thể tạo ra nhiều đau
khổ hơn là những súng đạn nhất thời.
Những dân tộc ở ngọn nguồn các ḍng sông, hay ở rừng rú,
núi cao, ở những đảo hẻo lánh giữa đại dương, đă ở đó từ
một thời huyền thoại không ai biết là bao nhiêu thế kỷ.
Họ biết từng ḥn đá, từng lạch nước, họ biết tính nết và
thói quen của từng loài, có lẽ của từng con vật ở trong
môi trường. Họ có những cấm kỵ truyền đời mà v́ không
hiểu ta gọi là mê tín dị đoan. Họ có thể đi đứng dễ dàng
trên những cành cây, dây leo chập chùng nghiêng ngă. Họ
ngửi được trong gió một sự nguy hiểm đang ŕnh nấp. Họ
có những phản xạ sống c̣n như điện chớp. Ở đất ấy, họ là
người của đất. Họ có những thần linh của họ, tại một khe
nước, trong một ḥn đá, ở một gốc cây. Họ có những giả
thuyết về trời, trăng, sao và các hiện tượng vật lí để
giải tỏa các mối sợ hăi tương đương với các giả thuyết
vô tích sự của chúng ta về cái nổ bùng nguyên thủy và
những siêu thăng của vũ trụ.
Đem đến cho những người ấy một cái Radio, một cái máy
hát, hoặc thường thức hơn một đống áo quần giày dép.
Người ta đă làm việc ấy gọi là v́ nhân đạo hay v́ một lí
do công khai ǵ đó rất là cao quí. Sau một thời gian sợ
hăi kinh hoàng v́ những tiếng người, tiếng kèn phát ra
mà không thấy người, người cũng quen và biết ham muốn. Ở
mâư ḥn đảo xa xôi, mỗi khi có tàu đến th́ dân đảo lại
lội ra để xin những đồ phế thải của văn minh. Sau ít lâu
th́ cái xă hội mọi rợ nhưng thanh b́nh của đảo bị biến
cải: nền văn hóa cũ đă ngh́n năm thích hợp với thiên
nhiên, biến thành một thứ văn hóa mà dân tộc học gọi là
văn hóa Cargo, đem lại bởi các tàu chở hàng. Quần áo,
giày dép cũng gây những bệnh mới v́ không có thuốc giặt
và nước ngọt như các nước Âu Mỹ.
Dân Pygmê ở Nam Phi sống bằng sự nhặt vặt trong thiên
nhiên. Món ăn thượng đẳng của họ là kiến, họ biết súc
những tổ kiến về ăn và để lại một số kiến để sinh sôi.
Liên Hiệp Quốc gởi chuyên viên đến để dạy họ cày ruộng
và trồng trọt. Họ từ chối, nói rằng: “Đất là Mẹ, sao lại
đào thịt Mẹ lên để ăn”. Nhiều chuyên gia của những nước
văn minh có mỏ than, mỏ dầu lửa không chịu, ép họ trồng
lúa, trồng cây. Họ bỏ đất đang sinh sống và kéo nhau đi
vùng hoang dă khác. Liên Hiệp Quốc hiểu cái lí do thiêng
liêng “thiếu văn minh” của sự phản kháng ấy và chuyển
sang một kế hoạch khác mà dân Pygmê chấp nhận.
Ở Việt Nam ta, đến nay c̣n nói đến đất thịt, màu mỡ của
đất, sự cần thiết phải “bón” ruộng đất. Không hiểu từ
lúc nào, chúng ta hết nghĩ rằng đất sống và là Mẹ của
muôn loài, để đi vào sự khai thác tài nguyên của Mẹ.
Không hiểu chân lí ở những người Pygmê hay ở các nước kỹ
nghệ và siêu kỹ nghệ. Ông FeyeraBend Giáo sư triết ở
Berkeley, Mỹ và Giáo sư triết lư khoa học ở Zurioh, Thụy
Sĩ viết rằng “(đừng nên quên rằng) nhiều vấn đề của Thế
giới Đệ tam (đói, nhân măn, suy đồi tinh thần) đă bị gây
nên v́ những cách sống lành mạnh trong môi trường và
thỏa măn tinh thần đă bị chặt đứt và bị thay thế bởi các
sản phẩm nhân tạo của văn minh Tây phương. Cả các khung
huyền thoại, trực giác, thần bí hay ma quái để hướng dẫn
đời sống cũng không phải là mơ tưởng ảo huyền (lâu đài
trong mộng); cái ǵ chúng hứa th́ chúng có trao; chúng
đă bảo đảm sự sống – c̣n và sự thỏa măn tinh thần trong
những điều kiện hiểm nghịch nhất”. (C. Feyerabend –
Farewell to Reasen 1987)
Nói như thế không phải là bỏ mặc những nhóm người không
có. Những người này, dầu là dân Stieng, Rađê hay thổ dân
Africa và Amazon, chỉ là những người bị đày vào những
môi trường khắc nghiệt nhất của một nước hay của nhân
gian. Ta gọi họ là những dân tộc ít người? Tôi nghĩ rằng
đó là một quan điểm hủ lậu, sai lầm. Họ là dân Việt Nam,
thế thôi. Nếu Việt Nam thực là một nước một, bất khả
phân, th́ bắt đầu phải xóa bỏ hết những phân tích của
cái thứ đế quốc chủ nghĩa phi lư cũ kỹ ấy đi.
Đạo Phật có làm ǵ được không? Từ là chữ nhất của
Tứ vô lượng tâm. Trong ḷng từ, có sự bao dung. Lời đức
Phật xưa, gọi là Dharma, là Giáo pháp. Đức Phật đạt được
vô thượng Chính Đẳng Chính Giác, là Bậc “Có”. Người đă
để cả cuộc đời để truyền cái có của Ngài cho những người
không có. Sự nghiệp ấy là giáo, là dạy, không phải là
dùng thần thông (tức là súng ống, quyền lực) để đàn áp,
dọa nạt, bắt người khác phải theo, mà giảng dạy, và dẫn
dắt, tùy duyên phương tiện. Và dạy là để người kia tự
làm, tự thành. Đó là Bố thí Ba-la-mật.
Đức Phật c̣n dạy hơn thế nữa. Đức Phật dạy không được
phân biệt. Kẻ ấy chính là ta, ta chính là kẻ ấy. Kẻ ấy
không có, nhưng kẻ ấy là ai? Như tục ngữ nói, đầy Phật
tâm: Ăn mày là ai? Ăn mày là ta, đói cơm rách áo, hóa ra
ăn mày.
Thư này đă quá dài. Tôi rất mừng v́ gần cuối đời được
thấy Đạo rời sự tụng niệm và bước vào những đau khổ thực
của đời.
Xin cầu chúc Thượng tọa thân tâm an lạc.
Thân kính,
Trần Ngọc Ninh.