Câu hát, tiềng ḥ :
phương tiện tự t́nh của trai gái nông thôn
GS Vơ
Thu
Tịnh
Tiếng hát câu ḥ của dân ta có lẽ đă xuất hiện từ thời
rất xa xưa, thời mà xă hội ta bắt đầu thành h́nh trên cơ
sở nông nghiệp. Trong khi canh tác, trai gái nông thôn,
thường có dịp gặp gỡ, tiếp xúc nhau ở các buổi tát nước,
cấy mạ, nhổ cỏ, gặt lúa, giă gạo, chèo đ̣... Họ thường
dùng những câu hát, tiếng ḥ để cho tăng thêm đà làm
việc và nhất là để cho quên được phần nào sự mệt nhọc
của ḿnh. Về sau, họ cũng dùng những câu hát tiếng ḥ ấy
để tự t́nh với nhau, như mấy câu ướm gợi của chàng trai
sau đây:
Cô kia cắt cỏ một ḿnh,
Cho anh
cắt với chung t́nh làm đôi.
Cô c̣n
cắt nữa hay thôi,
Cho anh
cắt với làm đôi vợ chồng.
Hay ... Gặp
em anh nắm cổ tay,
Anh hỏi
câu nầy: "Có lấy anh không? "
Câu ướm
t́nh không quanh co, nửa thật nửa đùa, nhưng cô gái
không quan tâm đến điều ấy. Đi chỗ nào lại chẳng gặp
phải một vài chàng trai hát ḥ trêu ghẹo như thế. Có cậu
c̣n sỗ sàng, nói ẩu hơn nữa, cũng chẳng làm sao:
Vú em chum chúm núm cau,
Cho anh
bóp cái, có đau anh đền.
Vú em
chỉ đáng ba tiền,
Cho anh
bóp cái, anh đền quan năm.
Nhưng cũng có chàng trai ăn nói kín đáo, lịch sự
hơn:
Gặp em
anh nắm cổ tay,
Nhờ vá
cái áo, nhờ may cái quần...
... Cô
kia đứng ở bên sông,
Muốn
sang anh ngả cành hồng cho sang.
Hoặc Đường
xa th́ thật là xa,
Mượn
ḿnh làm mối cho ta một người.
Một
người mười tám đôi mươi,
Một
người vừa đẹp vừa tươi như ... ḿnh.
Con trai tỏ
t́nh yêu trước với con gái như thế là điều thường xảy ra
trong xă hội phong kiến Nho giáo phụ hệ. Nhưng ở xă hội
nông thôn ta thời trước, có điểm rất đặc biệt là các cô
gái cũng dùng tiếng hát, câu ḥ để trêu ghẹo, đùa cợt,
tỏ t́nh yêu trước với con trai
:
Hỡi anh đi đường cái quan,
Dừng
chân đứng lại, em than vài lời.
Đi đâu
vội mấy anh ơi,
Việc
quan đă có chị tôi ở nhà.
Hay... Anh
đà có vợ hay chưa
Mà anh
ăn nói đong đưa ngọt ngào.
Mẹ già
anh ở nơi nao,
Để em
t́m vào hầu hạ thay anh.
Trong kho
tàng cổ tích của dân ta, cũng có nhiều câu chuyện con
gái ḥ hát để trêu ghẹo hay để tỏ t́nh yêu trước với
trai:
"Ngày xưa, có chàng trai kia vào rừng bắn chim, gặp
một người con gái. Cô ả hát đùa một câu:
Chim ǵ
trên rừng có vú,
Cá ǵ
dưới bể không đầu ?
Anh mà
đối được,
Em xin
làm hầu thứ hai. "
"Chàng trai
liền đáp lại rằng:
Con
giơi trên rừng có vú,
Con cua
dưới bể không đầu.
Anh đà
đối được,
Em hăy
về làm hầu nhà anh ! "
"Cô ả chỉ
hát mấy câu để đùa ghẹo, không ngờ chàng trai đối được
ngay, nên xấu hổ bỏ chạy." (1)
Nhưng có
khi, một vài câu ḥ hát đùa cợt lại đưa đến chỗ thành vợ
thành chồng:
"Xưa có cô con gái, một hôm, đi hái mướp, lúc đang
đứng, cởi áo ra khều, một cậu con trai đi qua trông thấy,
lên giọng hát:
Vú em
như quả mướp hương,
Tay anh
phật thủ (a), đôi đường lấy nhau.
"Cô con
gái vội vàng mặc áo và hát lại:
Ḿnh em
như mướp nở hoa,
Ḿnh
anh như bướm bay qua trên ngành.
"Cậu con
trai liền hát theo
:
Em như
hoa mướp trên ngành,
Đây anh
con bướm tung hoành càng vui.
"Cô gái hát
tiếp:
Anh
hùng ví biết thuyền quyên,
Xin
đưa quả mướp làm tin gọi là !
"Rồi cô
con gái đưa cành hoa mướp cho cậu con trai, cậu con trai
đưa nụ cà cho cô con gái. Sau hai cô cậu lấy nhau. Nên
trong dân gian thành ngữ có câu: "Nụ cà, hoa mướp" để
chỉ đôi bên trai gái c̣n mơn mởn thanh tân." (2)
Chú giải - (a)
Phật thủ: một thứ quả, đầu núm chỉa ra năm nhánh chúm
lại như 5 ngón của bàn tay, nên gọi là "Phật thủ" (tay
của Phật).
Cũng có khi, chỉ nhờ đáp được một câu hát đố mà
chàng trai lấy được vợ:
"Ngày xưa
có người học tṛ đi hỏi vợ, gặp phải chị ả hay ví von
đối đáp, thách rằng:
"Gái nầy
chẳng văn chương, phú lục ǵ cả, chỉ xin đố một câu, hễ
đáp được, th́ bằng ḷng.
"Người học
tṛ nhận lời. Người con gái ḥ lên một câu, đố rằng:
Dưới
đời ǵ lớn hơn voi,
Ǵ cao
hơn núi, ǵ dài hơn sông ?
"Người học
tṛ ứng khẩu hát đáp lại ngay:
Anh đây
dạ lớn hơn voi,
Chí cao
hơn núi, t́nh dài hơn sông!
"Chị ả
chịu là tài. Rồi, chỉ v́ một câu đối đáp ấy mà nên vợ,
nên chồng." (3)
Cũng có
trường hợp, một câu ḥ hát đối đáp qua đường, thế mà sáu
bảy năm sau, chàng trai đi t́m cô gái để cuới làm vợ:
"Xưa có bà sư đem một đúa con gái nhỏ về nuôi để
sau hầu hạ đỡ đần trong chùa. Khi cô ả lớn lên, độ mười
lăm, mười sáu tuổi, nhan sắc đă hơn người, mà thông minh
cũng không kém ai.
"Trong
làng có anh học tṛ ngày ngày đi đến trường, thường ngồi
nghỉ mát dưới gốc hai cây gạo ở trước cửa chùa. Có một
buổi, anh ta đang ngồi nghỉ mát, thấy cô gái có nhan sắc
kia đi ra hái hoa. Anh ta nói đùa đôi câu. Cô gái chẳng
đáp, chỉ hát rằng:
Em như
hoa gạo trên cây,
Anh như
cái đám cỏ may giữa đường.
"Anh học
tṛ biết cô gái hát chọc, nên hát lại rằng:
Một mai
trời tốc gió rung,
Hoa gạo
nhảy xuống nằm cùng cỏ may.
"Hát xong
anh học tṛ về nhà, cô con gái trở vào chùa, hai bên từ
đó không có liên lạc ǵ với nhau cả. Cách độ sáu bảy năm
sau, anh học tṛ thi đỗ. Bao nhiêu nhà giàu tấp tểnh
muốn đem con gái gả cho. Nhưng anh không nhất định nơi
nào. Một đêm, anh nằm chiêm bao thấy một ông lăo vào nhà,
đến tận giường anh mà bảo rằng:" Cây gạo! cây gạo! Bách
niên giai lăo!"
"Anh ta
chợt tỉnh dậy, suy nghĩ hồi lâu, nhớ ngay đến lúc c̣n
đang đi học, ngồi nghỉ dưới gốc hai cây gạo, tai như c̣n
nghe văng vẳng tiếng của người con gái hái hoa hát đối
đáp với ḿnh khi xưa. Sáng dậy, cho đi ḍ hỏi biết cô
gái vẫn c̣n ở tại chùa, anh liền thưa đầu đuôi với cha
mẹ và xin cho người đi dạm .
"Bà sư bằng
ḷng ngay, mà cô gái lại càng bằng ḷng hơn. Hôm đám
cưới, bà sư có thơ mừng, hai câu kết như sau:
Cỏ ướm
ḷng hoa, hoa đợi cỏ,
Ba sinh
âu hẳn cũng duyên trời.
"Hôm nhị
hỉ (b), bà sư nói với con rể rằng: Ai ngờ chốn am thanh,
cảnh vắng nầy mà lại có dâu rể về nhị hỉ !
"Cô dâu
nửa vui, nửa thẹn, nói rằng:
Bạch thầy, cũng
nhờ có "trời tốc gió rung" mà chúng con
mới được có
ngày hôm nay." (4)
Chú giải -(b)
Nhị hỉ: Hai ngày sau lễ cưới, có lệ vợ chồng mới lấy
nhau về làm lễ tạ ơn cha mẹ nhà gái. Đó gọi là lễ "nhị
hỉ".
Câu hát
tiếng ḥ không phải chỉ là phương tiện cho trai gái tỏ
t́nh yêu với nhau, hầu đi đến cưới hỏi thành vợ, thành
chồng mà thôi. Câu hát tiếng ḥ c̣n là một phương tiện
mà các phụ nữ ngày xưa dùng để khẳng định lập trường
t́nh cảm của ḿnh đối với mọi người chung quanh, như ở
cổ tích dưới đây:
"Ngày xưa
có một người lấy hai vợ. Vợ cả đẹp mà hiền lành. Vợ hai
đă xấu lại chua ngoa, độc ác. Ban đầu hai người vợ cùng
ở chung một nhà. Về sau, hai người ngày nào cũng căi
nhau, đánh nhau, chồng không sao chịu được, cho mỗi
người ở riêng một nhà, nhưng không cách xa nhau mấy. Có
một thời gian người chồng đi buôn bè vắng, vợ cả nghe vợ
hai ở bên nhà nghêu ngao hát rằng:
Chồng chung, chồng chạ
Ai khéo hầu hạ,
Th́ được chồng riêng.
Chi mà sợ, chi mà kiêng !
"Vợ cả biết
vợ hai muốn gây sự với ḿnh, mà vẫn làm thinh không nói
năng ǵ. Nhưng trong bụng không thể không giận được. Hôm
sau về kể chuyện cho mẹ, cho em nghe. Mẹ khuyên rằng:
- Một sự
nhịn là chín sự lành. Thôi con hăy cứ nhịn nó đi, đừng
đối đáp làm ǵ. Đợi chồng con về sẽ hay.
"Người em
gái cũng nhủ rằng:
- Cần chi phải
để tâm. Chị không nghe người ta nói:
Dù
anh năm bảy nàng hầu,
Em
đây cũng cứ ngồi đầu chính thê !
"Người vợ
cả nghe theo lời mẹ và em, về nhà mặc cho vợ hai ḥ hát
khêu khích ǵ, vẫn tiếp tục nhịn, làm thinh... " (5)
Và trong
dân gian ngày xưa, cũng có một câu chuyện khác nữa:
"Nhà kia có
con gái đă nhận gả cho một người ở cùng làng. Nhà trai
sêu tết đă đôi ba năm, và nhà gái đă hẹn đến năm sau cho
cưới. Hai bên con trai, con gái cũng có ḷng yêu nhau.
"Chẳng may
trong năm, đứa con trai trèo cây khế thế nào, ngă què
tay. Cha mẹ đứa con gái toan lật không muốn cho cưới,
định đem gả cho nhà khác. Nhưng đứa con gái không nghe.
Cha mẹ bảo sao cũng không được, ai nói ǵ cũng mặc kệ,
đứa con gái chỉ hát:
Hai tay vin bẻ chanh, chè,
Vừa
đôi th́ lấy, tay què mặc tay !
"Cuối cùng,
cha mẹ cũng phải chiều theo ư con gái mà cho chàng trai
què tay ấy cưới. " (6)
Ngoài ra,
câu hát tiếng ḥ cũng c̣n là một phương tiện giúp cho
người đàn bà thời xưa bày tỏ được những nỗi băn khoăn
trước một vấn đề khó xử, không biết nói năng, ăn ở ra
sao:
"Xưa có hai vợ chồng nhà kia, chẳng may chạy giặc
mỗi người lạc một ngă. Người vợ chạy trốn lên rừng, nhịn
đói, nhịn khát, khốn khổ quá sức. May gặp được anh kiếm
củi đem về nuôi mới khỏi chết. Rồi lâu ngày không biết
nương tựa vào đâu, đành phải ở lại với anh kiếm củi làm
vợ chồng.
"Mấy năm sau, giặc giă yên, người chồng đi t́m măi
mới gặp. Vợ thấy, nghĩ bụng rằng: Bây giờ ta không về
với chồng th́ ta là bất nghĩa, mà ta về với chồng th́
vẫn bị tiếng bất trinh.
"Trong ḷng lưỡng lự không biết nên làm thế nào cho
phải, chị ta mới hát một đôi câu để thử xem hai bên "nghĩa
cũ, t́nh nay" xử trí với nhau như thế nào? Câu hát rằng:
Muốn
tắm mát lên ngọn sông Đào,
Muốn
ăn sim chín th́ vào rừng xanh.
Đôi
tay em vít cả đôi cành,
Quả
chín th́ hái, quả xanh không lẽ đừng.
Ba
bốn năm nay ăn ở trên rừng,
Chim
kêu, vượn hú, nửa mừng, nửa lo.
Em
trót sa chân, lỡ bước xuống đ̣ !
"Người kiếm
củi nghe hát, liền nói với người chồng cũ rằng:
-Thôi. Bây
giờ bác đă t́m được bác gái, th́ bác đem bác ấy về. Tôi
bằng ḷng.
"Người
chồng cũ đem tiền bạc ra để tạ ơn người kia, nhưng người
kia nhất định không chịu nhận. Rồi hai vợ chồng đem nhau
về." (7)
Từ ngh́n
năm về trước, xă hội ta vốn đă tổ chức theo chế độ mẫu
hệ. Về sau đến khi nước ta bị Trung Hoa đô hộ, th́ xă
hội Việt Nam chuyển dần sang chế độ phụ hệ, phong kiến
Nho giáo. Nhưng Nho giáo chỉ ảnh hưởng mạnh mẽ trong
tầng lớp vua quan, phú thương, nho sĩ. - đô thị, con
trai, con gái nhất thiết không được đường đột tiếp xúc
với nhau, việc yêu thương, kết hôn đều do cha mẹ định
đoạt. Nhà Nho xưa có câu dạy con cháu:
Con trai chớ đọc Phan Trần,
Con gái
chớ đọc Thúy Vân - Thúy Kiều!
v́ trong truyện Phan Trần, trai gái ḥ hẹn nhau trong
chùa, trước bàn thờ Phật; trong Truyện Kiều, cha mẹ đi
vắng, đêm khuya Kiều một ḿnh qua nhà Kim Trọng đàn hát,
t́nh tự, thề nguyền.
Trái lại,
trong Truyện Lục Vân Tiên của cụ đồ Chiểu, khi Lục Vân
Tiên giữa đường cứu Nguyệt Nga thoát khỏi tay bọn cướp,
Nguyệt Nga trong kiệu muốn bước ra để tạ ơn, th́ Lục Vân
Tiên vội vàng ngăn lại:
Khoan khoan, ngồi đó chớ ra,
Nàng
là phận gái, ta là phận trai!
Nhưng suốt
bao nhiên thế kỷ bị Bắc thuộc, ảnh hưởng Nho giáo vẫn
không thấm nhuần sâu rộng xuống nông thôn Việt
Nam được. Phải chăng dân gian ta ngày xưa vẫn coi Nho
giáo như là một thứ văn hóa ngoại bang đă theo gót quân
xâm lăng du nhập vào nước ta Cho nên, dân gian vẫn
khuyến khích các cô gái đồng quê Việt giữ theo phong tục
mẫu hệ của dân tộc Việt ngày xưa:
Ăn chơi cho hết tháng hai,
Để làng
gióng đám cho trai dọn đ́nh.
Trong
thời đánh trống rập ŕnh,
Ngoài
thời trai gái tự t́nh với nhau."
Qua câu hát
tiếng ḥ, các cô gái có thể nói xa, nói gần, ví von, đùa
cợt, nửa đùa nửa thật, t́nh tứ lả lơi, ranh mănh ngạo
nghễ, các chàng trai có muốn giận cũng không giận được,
nếu đồng t́nh thương yêu nhau càng hay, hoặc có từ chối,
các cô gái cũng không v́ thế mà bị mất mặt.
Đến cuối
thế kỷ thứ 17, năm Ắt Hợi (1695), Thích Đại Sán ở Quảng
Đông, được chúa Nguyễn Phúc
Chu rước sang nước ta để giảng kinh. Vị cao tăng Trung
Hoa nầy rất ngạc nhiên nhận thấy nước Việt Nam, sau bao
nhiêu thế kỷ Bắc thuộc chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa
rất lâu, nhưng phụ nữ nông thôn ta vẫn chưa chịu khép
ḿnh vào lễ giáo Khổng Mạnh, mà công khai tự do đi sớm
về khuya một ḿnh, trọn quyền giao dịch, mua bán... Thật
trái hẳn với phụ nữ Hoa lúc đó, không bao giờ được phép
ra khỏi nhà; nếu cần đi giao dịch, mua bán, thăm viếng
họ hàng cũng phải có người theo gót trông chừng, canh
giữ.
Tóm lại,
dùng câu hát tiếng ḥ để tỏ bày t́nh yêu trước con trai
như thế, các thôn nữ ta đă tiếp tục một tập quán c̣n sót
lại của chế độ mẫu hệ Việt Nam, để duy tŕ phần nào thế
chủ động của họ trong sự trao đổi t́nh cảm đối với nam
giới, trong việc thử thách, lựa chọn đôi bạn của đời
ḿnh, cho được vừa ư mà thôi. Một hành động hợp lư, "tiến
bộ", có tính cách "đi trước thời đại".
Mặt khác, "câu
hát tiêng ḥ" đ̣i hỏi một tŕnh độ nghệ thuật đa dạng
cao: ứng tác nhanh của một thi sĩ, giọng hát hay của một
ca sĩ, diễn tấu giỏi như một kịch sĩ.
Mà nghệ sĩ tính vốn là một bản chất tự hữu của con
người Việt Nam, t́nh ư được diễn đạt bằng một ngôn ngữ
thanh âm phong phú, lên bổng xuống trầm, cấu tứ nhịp
nhàng, cân đối,... Cho nên, ta không ngạc nhiên khi nhận
thấy phần lớn các cô gái thôn quê ngày trước đă ứng tác
những câu hát, tiềng ḥ một cách dễ dàng để sử dụng như
một vũ khí sắc bén để tranh thủ, duy tŕ, vớt vát cho
được một ít uy thế, đặc quyền của nữ giới trong chế độ
mẫu hệ ngày xưa, mà hiện nay đă bị sụp đổ, ră tan.
CHÚ
THÍCH
(1)- Nguyễn Văn Ngọc, Truyện cổ nước Nam, tập 1, x.b.
Hà Nội 1932, tái bản Glendale, CẠ, Đại Nam, năm ?, Có vú,
không đầu, tr. 43. 5
(2)- Nguyễn
Văn Ngọc, Truyện cổ nước Nam, tập 1, s.đ,d. Nụ cà, hoa
mướp, tr. 164-165.
(3)- Nguyễn
Văn Ngọc, Truyện cổ nước Nam, tập 1, s.đ.d., Câu đố nên
vợ nên chồng, tr. 43.
(4)- Nguyễn
Văn Ngọc, Truyện cổ nước Nam, tập 1, s.đ.d., Trời tốc,
gió rung, tr. 101-103.
(5)- Nguyễn
Văn Ngọc, Truyện cổ nước Nam, tập 1, s.đ.d., Vợ hai, vợ
cả, tr. 51-54.
(6)- Nguyễn
Văn Ngọc, Truyện cổ nước Nam, tập 1, s.đ.d., Tay què mặc
tay, tr. 62-63.
(7)- Nguyễn
Văn Ngọc, Truyện cổ nước Nam, tập 1, s.đ.d., Nghĩa cũ
t́nh nay, tr. 116-117.