|
Một vài thắc mắc khi đọc những bài về đồ gốm cổ Việt
Nam của Bùi Ngọc Tuấn
Phong Uyên
Là người ham mê sưu tầm đồ sứ cổ Trung Hoa từ hơn
20 năm nay và sống ở nước ngoài, nên về đồ sứ này tôi có
rất nhiều dịp đọc sách, đi thăm các Viện Bảo tàng Âu Mỹ,
tiếp xúc với các nhà chuyên môn, tôi học hỏi được nhiều.
Trái lại, sự hiểu biết của tôi về đồ sứ Việt
Nam rất giới hạn, nhất là đồ sứ
Chu Đậu vừa mới được khám phá ra. V́ vậy tôi rất thích thú được
đọc
những bài viết về đồ gốm cổ Việt Nam của Bùi Ngọc Tuấn
trên talawas. Cám ơn talawas và tác giả rất nhiều. Tuy
nhiên có một vài điểm khiến tôi thắc mắc và có những điểm
nói về đồ sứ Trung Hoa của tác giả tôi không đồng ư. V́
những lư do nào, tôi xin tŕnh bày sau đây:
Điểm thắc mắc thứ nhất : Theo tác giả, đồ sứ Chu
Đậu được khám phá nhờ ông Makato Anabuki người Nhật đọc
được chữ Hán trên một b́nh trưng bày ở Điện Topkapu Saray
ở Istanbul Thổ Nhĩ Kỳ nên biết là đồ làm ở Chu Đậu Việt
Nam vào năm 1450 đời vua Lê Nhân Tông. Tôi có thăm Điện
này cách đây hơn 10 năm: Trong số mấy trăm đồ sứ Trung Hoa
phần nhiều đời Minh trưng bày, tôi có thấy b́nh đó kèm
thêm chú thích là nguyên gốc ở Việt
Nam, nhưng v́ không giỏi chữ Hán nên tôi không biết b́nh
đó xuất sứ từ Nam Sách Hải Dương . Tôi xin đặt một câu hỏi:
Từ hồi đó, chính phủ Việt Nam đă gửi nhà chuyên môn nào
qua nghiên cứu về cái b́nh đó chưa? V́ từ cái b́nh c̣n giữ
được nguyên vẹn trong viện bảo tàng (chứ không phải đào từ
đất vớt từ biển), ta có thể biết một cách chính xác không
những thời gian sản xuất, nơi xuất xứ mà c̣n nhận dạng
được những đồ sứ
Chu Đậu c̣n hiện hữu trong nước hay trên thế giới. Tôi lấy một
tỉ dụ mà các nhà sưu tầm đồ sứ Trung Hoa đều biết: Nhờ một
cặp b́nh đồ sộ (cao 63,6cm) gọi là b́nh "David" trưng bày
tại Viện Bảo tàng Percival David Foundation ở London có
hàng chữ đề tên họ một gia đ́nh năm 1351 tặng cho một đền
gần Cảnh Đức Trấn mà các nhà chuyên môn đă xác định được
là đồ sứ "xanh trắng" của Tàu chỉ bắt đầu có từ đời nhà
Nguyên khoảng năm 1300, khi quân Mông Cổ chiếm lĩnh gần
hết Trung Đông đem bột Cobalt mà người Ba Tư dùng để tô
màu xanh cho đồ sứ của họ về và nơi sản xuất là Cảnh Đức
Trấn. Đồng thời cũng từ đó, những đồ sứ cùng thời lên giá
một cách kinh khủng: Christie's ở London tháng 7-05 bán
một hũ "xanh trắng" đời Nguyên với cái giá gần 30 triệu đô
la Mỹ. Nếu ở Việt Nam t́m được cái b́nh Chu Đậu tương
đương với b́nh ở Topkapu, chắc giá cũng phải mấy triệu đô
v́ cái chi hiếm là quí.
Điểm thắc mắc thứ hai: Ḷ Chu Đậu, ḷ Bát Tràng, ḷ
nào hoạt động trước hay cùng thời? Theo tác giả, ḷ Chu
Đậu chỉ hoạt động từ thế kỷ thứ 14-17, vậy đồ gốm "với lớp
men dày thế kỷ thứ 10" (tương đương với đời Đường, Bắc
Tống) và đồ Lư Trần (tương đương với đồ Nam Tống) làm ở ḷ
nào, và trong nước c̣n giữ được không? Điểm này rất quan
trọng v́ trong các Viện Bảo tàng Âu Mỹ tôi không thấy.
Những "chân đèn cao 70-80cm c̣n giữ được ở đâu v́ nếu có
đề năm tháng; tên người làm th́ nó cũng quan trọng như cái
b́nh ở
Istanbul để truy cứu các đồ khác cùng thời. Khi ḷ
Chu Đậu hết hoạt động, đa số các nhà sản xuất đồ gốm
đều di cư về Bát Tràng hay chỉ có một chi họ Vương? Theo
tác giả, khi vua Lư thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long
năm 1010, một số người làm đồ gốm ở Thanh Hóa theo vua lập
ra làng Bát Tràng. Tác giả lấy chứng cớ nào? V́ Hoa Lư ở
Ninh B́nh và quê của nhà Lư ở Bắc Ninh, người Thanh Hóa v́
lí do ǵ mà bỏ làng bỏ xứ ra lập nghiệp ở Bát Tràng? C̣n
một điểm vô lư nữa là đồ gốm Thanh hoá chỉ có từ thế kỷ
thứ 12-13, mà Vua Lư Thái Tổ dời đô từ đầu thế kỷ thứ 11,
lúc đó người Thanh Hoá đâu đă biết làm đồ gốm, hơn nữa đồ
gốm Bát Tràng không giống chi đồ gốm Thanh Hoá cả.
Điểm thắc mắc thứ ba: Theo ông Vương Hồng Sển trong
tập 4 Khảo về đồ sứ cổ Trung Hoa ấn phẩm đầu tiên
in năm 1971 (trang 222) mà may mắn tôi được một người
trong gia đ́nh ông tặng toàn bộ (6 cuốn), những đồ gốm đào
được ở vùng Thanh Hóa khi làm con đường sắt xuyên Đông
Dương là do những người Nam Tống bất khuất nhà Nguyên chạy
sang Đại Việt tới vùng Thanh Hoá làm. Như vậy, theo ông
Vương Hồng Sển, đồ gốm Thanh Hóa là đồ của người Tàu làm.
Tôi thấy có rất nhiều sự kiện phù hợp với ư kiến ông Vương
Hồng Sển:
-
Các nhà
khảo cổ trường Viễn Đông Bác Cổ không phân biệt nổi đồ
men ngọc t́m được ở Thanh Hóa và đồ men ngọc Nam Tống. Ở
Hotel Drouot Paris, chỗ hay bán đấu giá đồ gốm cổ Trung
Quốc mà tôi mỗi khi rảnh thường tới xem, đồ "Tanhoa" (Thanh
hoá) bao giờ cũng được các nhà chuyên môn xếp loại là đồ
Song (Tống) và có vài đồ ngay các nhà chuyên môn cũng
không phân định nổi là đồ làm ở Thanh Hóa hay đồ Nam
Tống.
-
Ông
Vương Hồng Sển kể trước năm 1954, một nhà buôn đồ cổ
Pháp, ông Passignat, ở đưởng Catinat (Đồng Khởi) có tâm
sự với ông là khi làm đường hoả xa tới Thanh Hóa, đồ
gốmTống đào được trong lăng mộ cổ của Tàu, dân phu lấy
lên nhiều quá không biết làm ǵ cho hết, bát đĩa, chén
màu xanh màu vàng, hũ đựng cốt... cái nào nứt đều bỏ,
cái lành lặn bán cho cha ông ấy, nếu thật tốt 5 xu! Sự
t́nh cờ là tôi hay la cà tới khu bán đồ cổ Village
Suisse gần tháp Effel, lại vào đúng tiệm bán đồ cổ Á
Đông của con ông ấy. Hồi đó là khoảng năm 1990, đồ Thanh
Hóa trong tiệm c̣n nhiều; sau ông ấy mất, những đồ ấy
chắc mang bán đấu giá. Ông Vương Hồng Sển cũng kể thêm
một chuyện nữa là khi đó Bá tước Didelot, kỹ sư tốt
nghiệp trường Bách Khoa, giữ trọng trách làm đường xe
lửa được "biếu" rất nhiều đồ men ngọc Thanh Hóa. Cũng là
một sự t́nh cờ nữa là bà cụ nhạc tôi khi c̣n sinh tiền
lại quen bà Didelot, chị bà Nam Phương Hoàng Hậu, đến
nhà bà ta ở Paris quận 16, thấy c̣n rất nhiều đồ gốm cổ.
-
Cũng theo ông Vương Hồng Sển (trang 228 Tập 4)
khi nhà Minh thắng, thợ Tàu trở về xứ, có lẽ v́ giấu
nghề không chỉ dẫn dân Việt làm đồ céladon nên từ năm
1368 không thấy sản xuất đồ men ngọc ở vùng Thanh Hoá
nữa.
Những điểm tôi không đồng ư với tác giả Bùi Ngọc
Tuấn:
1. Về kỹ thuật:
-
Đồ
gốm Tàu không có dấu "con kê" . Phải phân biệt 2 loại đồ gốm: Đồ "cao cấp" để riêng từng hộp
khuôn (casette) một rồi mới chồng lên nhau. Đồ thường
như chén bát b́nh dân để từng chồng mỗi cái cách nhau
bằng 3 hay 6 cục đất sét nhỏ (pernettes), khi lấy đồ ra
khỏi ḷ th́ cậy ra. Như vậy là họ cũng dùng "kê" và chắc
"kê" Việt
Nam
cũng giống như vậy.
-
Đồ men
ngọc của Tàu cũng như đồ sứ Tàu pha bột đá thành cứng
hơn: Thật ra cứng là v́ nung độ cao tới trên 1000 độ khiến
men thành thủy tinh hợp thể với thân đồ và những vết rạn
là do co giăn khác nhau giữa men và thân đồ. Cái mà tác
giả gọi là bột đá có thể là bạch đôn tử, một thứ
kaolin làm giảm nhiêt độ chịu đựng khi nung nên đồ sứ có
thể chịu đựng đến 1350 độ, trở lên rất cứng, gơ có tiếng
ngân. Đồng thời những h́nh vẽ trước khi nung bằng
bột cobalt Hồi thấm vào kaolin không nhoè nhoẹt, lại
được phủ dưới lớp men đă biến thành thủy tinh nên không
bao giờ phai. Nên nhớ là đồ sành (grès) đời Đường, Tống
độ nung đă lên tới 1280 độ; đồ sứ Việt Nam và ngay cả đồ
gốm Âu Châu tới thế kỷ thứ 18 (faience) cũng không bao
giờ đạt được tới độ cao như thế cả. Tôi cũng phải nói
thêm là tác giả có vẻ cho Hồi và Ả Rập là một trong khi
trên thế giới người theo đạo Hồi trên 1 tỷ, người Ả Rập
theo đạo Hồi chưa tới 100 triệu. Những nước có truyền
thống làm đồ gốm là Ba Tư và Thổ Nhĩ Kỳ, nơi các vua
chúa ngày xưa ưa chuộng đồ sứ Trung Hoa có đặt hàng
nhiều nên c̣n lại nhiều, ngày nay mới có thể để trong
những viện bảo tàng ở thủ đô của họ ở Téhéran và
Istanbul, chứ không phải là ở những nước Ả Rập, v́ một
lí do rất giản dị là hồi đó người Ả Rập chưa có nước,
đất Ả Rập bị đô hộ bởi Đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ (Ottoman).
2.
Tác giả quá chủ quan về vị thế đồ
Chu Đậu trên quốc tế so sánh với đồ Trung Hoa:
-
"Vượt
xa đồ nhà Minh"
và "không
kém ǵ đồ gốm men lam của nhà Thanh" : Trước hết, đồ
sứ "xanh trắng" đời Minh đối với các nhà sưu tầm quốc tế
là tuyệt đỉnh, nhất là những đồ niên đại Thuận Đức
(1426-1435) và Thành Hóa (1465-1487). Nhà Thanh chỉ đồ "xanh
trắng" Khang Hi là có tiếng, nhưng kém xa đời Minh. Trên
thị trường quốc tế ở Drouot tháng 11-05 vừa bán một b́nh
đầu thời Minh hơn 5 triệu rưỡi đô la. Đồ Khang Hi nhiều
lắm là 100 ngàn đô la. Nhà Thanh chỉ nổi tiếng về đồ đa
sắc Khang Hi loại xanh "famille verte". Đồ gốm
Việt Nam gọi chung là đồ "Tanhoa", khi bán đấu giá ít
khi đạt được tới 1000 đô la v́ hoạ hoằn lắm mới có những
b́nh to hay đĩa lớn đem bán. Ở các bảo tàng Âu Châu, đồ
gốm Việt Nam chỉ lèo tèo vài cái b́nh, lư hương Bát
Tràng và chỉ thấy ở Viện Bảo tàng Á Đông Guimet ở Paris,
British Museum, Victoria and Albert Museum ở London,
National Museum ở Tokyo. Ở Paris, 2 viện bảo tàng Guimet
và Cernuschi, ở London Viện David Percival Foundation
đều dành riêng cho đồ sứ Tàu. Ở Đài Loan, Viện Bảo tàng
Đài Bắc chứa đựng 300 ngàn món đồ sứ Tưởng Giới Thạch
lấy đem từ lục địa Trung Hoa, khiến ở lục địa không c̣n
đồ sứ cổ (một phần khác bị đập bỏ trong Cách mạng Văn
Hóa và/hoặc bị tẩu tán ra nước ngoài). Đi thăm các bảo
tàng ở Bắc Kinh, Thượng Hải chỉ thấy lơ thơ vài trăm
chiếc, không bằng 1 phần 10 ở một viện bảo tàng Paris
hay London. Cũng nên biết thêm là đồ gốm Tàu đời Đường
đời Tống như đồ Định Châu, Quân Châu, Từ châu c̣n đắt
giá hơn đồ Minh Thanh nhiều.
-
Có điều lầm lẫn nữa là nói “trà đạo chỉ mới
xuất hiện ở Nhật Bản từ thế kỷ thứ 16... vào thời kỳ đó
họ chưa biết làm đồ gốm... các tổ sư trà đạo Nhật rất
quí chuộng đồ
Chu Đậu
hơn đồ Trung hoa và Đại hàn…”:
Trà đạo bắt đầu khi nhà sư Nhật Eisai sang thăm Trung
Quốc năm 1191. Sau đó các nhà sư Nhật qua học thiền
trên núi Tianmu (thiên mẫu?) ở Hàng Châu thuộc tỉnh
Chiết Giang và dùng chén Kiến làm ở tỉnh Phúc
Kiến để uống trà (trà Phúc Kiến). Khi trở về Nhật,
những nhà sư đó đem chén theo và gọi chung nó là
Temmoku, tên Nhật của núi Tianmu. Từ đó, chén
Kiến thành nổi tiếng, được người Nhật sưu tầm với
bất cứ giá nào. Ở Âu Mỹ, các nhà sưu tầm cũng rất thích
và tranh nhau đấu giá, làm giá lên tới tột đỉnh. Tuyệt
nhiên tôi chưa thấy trên thị trường đấu giá chén trà
Chu Đậu. Có thể là cách uống trà từ thế kỷ thứ 16 được
phổ biến trong dân gian chứ không phải "Trà Đạo"
đă có từ trước với các nhà sư Nhật và trong giới Vơ
sĩ Đạo. Chén Chu Đậu v́ rẻ hơn chén Kiến nên
được nhập cảng nhiều, nhưng khi qua thăm các viện Bảo
tàng Nhật, tôi không thấy trưng bày chén trà Việt
Nam nào
cả. Điều này chứng tỏ chén trà Chu Đậu chỉ được dùng
trong dân gian.
Người Nhật biết làm đồ gốm từ thời thượng cổ. Từ
thế kỷ thứ 8 ở kinh đô Nara, bắt chước Tàu đời Đường,
người Nhật đă biết làm đồ gốm Tam sắc. Thế kỷ thứ 17- 18,
Âu Châu ưa chuộng đồ sứ Nhật đến nỗi các ḷ gốm nổi tiếng
như Delf, Meissen, Saint Cloud đều bắt chước kiểu. Các nhà
quyền quí đua nhau đặt đồ Nhật v́ thẩm mỹ Nhật hợp với
người Âu hơn Tàu. Có thể nói, vua chúa Việt Nam đặt đồ Tàu
khi đi sứ, quyền quí Âu tây đặt đồ Tàu đồ Nhật qua các
thương điếm như Compagnie des Indes, dân gian và quyền quí
Nam Dương, Phi luật Tân lại thích đặt đồ Đại Việt qua các
đại lư Phố Hiến, Hội An.
Tác giả căn cứ vào đâu khi nói "... cứ xem những món đồ
Chu Đậu trong các viện bảo tàng ở Âu Châu, trong các bộ
sưu tập lừng danh..."? Tôi đă đi thăm hầu hết những gian
trưng bày đồ sứ Á Đông ở những Bảo tàng lớn Âu châu và đọc
rất nhiều sách báo chuyên đồ gốm nói về những bộ sưu tập
tư nhân danh tiếng, đồ sứ Việt
Nam
ít được nói đến và số được trưng bày rất hiếm hoi. Được
trưng bày nhiều hơn là ở các viện bảo tàng Đông Nam Á như
National Museum ở Tokyo, Viện Bảo Tàng Pusat ở Djakarta có
trưng bày những hũ lớn quá 30cm bề cao và đĩa "xanh trắng"
tới hơn 40cm đường kính gọi là đồ sứ Đại Việt, chứng tỏ đồ
Việt phần nhiều được xuất cảng qua những nước này. Theo bà
Hélène Fromentin, Công cán Bảo Tàng Guimet chuyên về Việt
Nam,
những đồ sứ đó được xếp loại là thuộc thời Đại Việt đi từ
thế kỷ thứ 14 đến thế kỷ thứ 17. Như vậy là đồng thời với
Chu Đậu, nhưng không biết có phải đồ
Chu Đậu không?
Tác giả Bùi Ngọc Tuấn cũng đoan quyết là dân tộc Việt với
nền văn minh c̣n trước người Trung Hoa từ 10 ngàn năm nay
vẫn ở Bắc Việt và Bắc Trung Việt. Lănh vực này đi quá sự
hiểu biết của tôi và đi ra ngoài phạm vi đồ sứ nhiều quá,
tôi không dám đi sâu, nhưng tôi chỉ xin đưa ra một vài
nhận xét: Đa số các học giả đều đồng ư là nguồn gốc tộc
Trung Hoa chỉ ở lưu vực sông Hoàng Hà và từ lưu vực sông
Dương Tử xuống phía Nam là của nhiều thị tộc Bách Việt,
trong đó có Việt Nam. Cách đây 10000 năm, thị tộc này mang
máu Polynêsiên nhiều hơn, có nền văn minh cao hơn các thị
tộc Bách việt khác, nên ngoài phần đất Bắc và Trung Việt
bây giờ, c̣n tiến lên chiếm hữu một phần phía Nam sông
Dương Tử. Sau này tộc Trung Hoa mạnh, lấn át và Hán hoá
dần các tộc Việt khác. Hán hoá không phải đồng hoá, v́ số
dân Tộc Hoa ít hơn số dân Tộc Việt, chứng cớ là người Hoa
miền Nam cho tới bây giờ vẫn khác người Hoa Bắc Kinh cả về
tiếng nói lẫn h́nh dạng không kể lối sống. Tộc Việt Nam
tuy phải bỏ đất Hoa Nam nhưng vẫn giữ được phần đất cốt
lơi và đặc tính của ḿnh. Bởi vậy có thể nói Tộc Việt
Nam không hẳn từ Hoa
Nam
xuống nhưng cũng có thể lên Hoa
Nam
rồi lại phải trở về. Khi thăm Viện Bảo tàng Quốc
gia Nhật ở Tokyo, tôi có thấy các trống đồng t́m thấy ở
Hoa Nam giống trống đồng Đông Sơn. Ai sưu tầm đồ sứ cổ
Trung Hoa đều biết tiếng đồ Việt diêu (chỉ thấy ở
những viện bảo tàng danh tiếng) làm ở đất Ngô Việt (đất
của Việt Vương Câu Tiễn) vùng Chiết giang nước Tàu từ thế
kỷ thứ 3. Đồ Việt diêu là thủy tổ của đồ men ngọc Bắc Tống.
Khi nhà Tống dời đô về Hàng Châu, thợ Tống trở lại Chiết
giang đặt ḷ ở Long Tuyền Trấn, làm đồ men ngọc Nam Tống,
gọi là Long tuyền diêu. Đồ Việt diêu có dáng dấp đồ sành
cổ Việt Nam, không biết đó có phải là một bằng chứng "có
bà con" với tộc Việt ở Chiết giang cũng như những đồ
kiến làm ở Phúc Kiến đất Mân Việt xưa có dáng dấp
đồ Lư của ḿnh không?
Sau hết, tôi xin giới thiệu mấy cuốn sách "gối đầu giường"
của những người muốn hiểu biết về đồ sứ cổ Trung Hoa và
Viễn Đông (Trung Quốc, Việt Nam, Nhật Bản, Cao ly):
-
La
Céramique Song
của bà Mary Tragear, Quản đốc phần Nghệ thuật Viễn Đông,
Ashmolean Museum Oxford. Bản tiếng Pháp in ở Thụy Sĩ.
-
La
Porcelaine Ming
của bà Daisy Lion-Goldsmidt, Công cán Bảo tàng Guimet
Paris (bà này quen biết ông Vương Hồng Sển). Bản tiếng
Pháp in tại Ư.
-
La
Céramique d' Extrême-Orient
của John Ayers, Quản đốc phầnNnghệ thuật Viễn Đông,
Victoria and Albert Museum London. Bản tiếng Pháp in tại
Ư.
|