|
Tế Bào Gốc Và Lập Trường Của Giáo Hội Công Giáo
L.m
Trần Mạnh Hùng C.Ss.R., STD
- DẪN NHẬP:
Gần đây, giới truyền thông đại chúng và báo chí đă cho
đăng tải và phổ biến cách rộng răi về những kết quả nghiên
cứu của tế bào gốc (Stem Cells), đặc biệt là các ứng dụng
và hiệu quả của việc sử dụng các tế bào gốc trong các
phương pháp trị liệu. Có thể nói đây là một bước tiến nhảy
vọt trong nghành y-sinh học vào đầu thế kỷ thứ 21. Nếu quả
thực đúng như những dự đoán và tiên liệu của các chuyên
gia nghiên cứu, th́ đây là một khám phá hết sức mới mẻ và
cực kỳ quan trọng đối với nền văn minh của con người, cụ
thể nhất là trong lănh vực nghành y.
Tuy nhiên, vấn đề nêu trên c̣n là một sự kiện tương đối
quá mới mẻ so với đại chúng. Hầu hết giới b́nh dân, nếu có
được nghe qua th́ cũng không thể nắm bắt và thông hiểu
tường tận. Điều này có nhiều nguyên nhân gây ra.
Trước tiên, việc nghiên cứu tế bào gốc chỉ được bắt đầu từ
năm 1998, điều này bắt nguồn từ sự hiểu biết về chức năng
của các tế bào gốc hiện diện ở phôi bào (blastocyst – là
phôi đă được h́nh thành khoảng từ 5-6 ngày, sau khi trứng
thụ tinh), trước khi chúng biệt-phân, và do đó có tiềm
năng để trở thành bất kỳ loại tế bào nào trong cơ thể con
người. Sự hiểu biết sâu sắc ấy đă dẫn đưa các chuyên gia
ra sức nghiên cứu để làm sao có thể tách biệt các tế bào
gốc này ra khỏi phôi bào nhằm cô lập chúng và để nuôi
dưỡng chúng trong các môi trường thuận lợi, để các tế bào
gốc ấy có thể gia tăng sinh sản thêm nhiều các tế bào
giống như vậy. Sau đó các chuyên gia nghiên cứu sẽ vận
dụng y-thuật, tỷ dụ như việc kích thích các tế bào, để các
tế bào này tự nó sẽ phát triển và biến thành các mô
(tissues) riêng biệt, chẳng hạn như các cơ trong bắp thịt,
dây thần kinh, hoặc các tế bào tuỵ.
Những tế bào chuyên biệt này, sau đó được đem cấy với mục
đích nhằm chữa trị hoặc thay thế các mô đă bị hỏng. Các
chuyên gia nghiên cứu đă dùng tế bào gốc của loài động vật
để thử nghiệm, đặc biệt là của loài chuột, và nay họ đang
thí nghiệm trên con người.
Như đă được đề cập ở trên, việc nghiên cứu trong cách thức
sử dụng các tế bào gốc cho các phương pháp trị liệu những
căn bệnh nan y mà từ xưa đến nay, hầu hết các y sĩ đều bó
tay chịu trận, th́ nay đă có khả năng và triển vọng trở
thành một hiện thực, tuy c̣n nhiều thử thách. Tuy nhiên,
điều ấy theo như ước đoán của các nhà chuyên môn th́ có
rất nhiều tiềm năng và việc ấy được coi như là khả thể.
Nguyên nhân khó khăn thứ hai, hệ tại ở chỗ, đó là việc sử
dụng các thuật ngữ chuyên môn để mô tả hoặc giải thích về
những đề tài này c̣n xa lạ đối với đại đa số quần chúng.
Nhất là khi phải chuyển dịch chúng sang ngôn ngữ Việt, v́
hầu hết các tài liệu hiện nay đề cập đến vấn đề tế bào gốc,
đều được viết bằng ngoại ngữ. Đây cũng là một công việc
nhiều cam go và không mấy đơn giản. Tôi xin mạn phép được
đơn cử một tỷ dụ để làm sáng tỏ vấn đề. Hiện nay, vấn đề
"Human Cloning", mà tôi tạm gọi là “sinh sản người bằng
phương pháp vô tính” đang được bàn thảo và tranh luận thật
sôi nổi tại nhiều quốc gia trên thế giới, giữa các chuyên
gia gồm đủ moị thành phần, đủ các khoa ngành, thuộc phạm
vi xă hội cũng như tôn giáo. Riêng ở khía cạnh ngữ-nghĩa,
th́ ở Việt Nam ta, nội chỉ nguyên có một từ “Cloning” mà
ta đă cảm thấy thật khó khăn khi chuyển ngữ sang tiếng
Việt.
Điều đáng chú ư nhất là cách đây hơn 4 năm, một công ty tư
nhân, gọi là “Advanced Cell Technology – Kỹ thuật tiên
tiến về tế bào” (ACT), có trụ sở tại tiểu bang
Massachusetts - Hoa Kỳ, ngày 25 tháng 11 năm 2001, đă
tuyên bố trên màn ảnh truyền h́nh, là họ mới thực hiện
thành công "Cloning" một phôi người đầu tiên (the first
human embryo). Điều này đă gây một chấn động trên thế giới,
gồm cả đời lẫn đạo. Ngay lập tức, Ṭa Thánh Vaticanô, và
Đức cố Thánh Cha Gioan Phalô II đă lên tiếng chỉ trích và
cảnh báo việc làm thiếu tính cách đạo đức của công ty nói
trên. Tất cả các văn bản và sứ điệp trên được ghi lại đầy
đủ trong bản tin của Zenith News (phát hành hôm 26 tháng
11, 2001 - số ZE01112602 và ZE01112606). Và cách đây
khoảng hơn 2 năm, vào ngày 12 tháng 2 năm 2004, chuyên gia
nghiên cứu Woo Suk Hwang và các bạn đồng nghiệp, thuộc Đại
học Quốc Gia Seoul tại Nam Triều Tiên đă tiêm chất liệu di
truyền học lấy từ các tế bào trưởng thành (của người) vào
các noăn mà cấu tử di truyền cơ bản của nó đă được lấy ra
khỏi. Như thế các phôi được tạo thành do kỹ thuật này, đều
có chung một cấu tử di truyền cơ bản giống y hệt như người
đă hiến tặng tế bào, và như thế là họ thành công nhân bản
phôi vô tính. Sau đó các nhà nghiên cứu sẽ thâu hoạch tế
bào gốc từ các phôi này.
Thế nhưng cũng chính các chuyên gia nghiên cứu ấy lại lên
tiếng kêu gọi cộng đồng thế giới nghiêm cấm việc sinh sản
người bằng phương pháp vô tính (human cloning). Họ cho
rằng kỹ thuật mà họ đă sử dụng để nhân bản phôi người vô
tính, th́ không bao giờ nên sử dụng để tạo ra các em bé.
Song song với những cuộc bàn luận sôi nổi đó đây, các hội
nghị chuyên đề đă được tổ chức và nhóm họp thường xuyên
trong thời gian vừa qua, nhất là tại các quốc gia vùng Âu
Châu, và các nước thuộc Bắc Mỹ.
Như đă được đề cập trong phần dẫn nhập, là hiện nay đang
có những cuộc bàn thảo và tranh luận rất sôi nổi giữa các
giới chuyên gia, đặc biệt là các khoa học gia nghành y-sinh
học và các nhà luân lư sinh-học. Việc tổng thống Mỹ,
George W. Bush bằng ḷng thỏa thuận cho phép sử dụng ngân
quỹ liên bang để tài trợ cho việc nghiên cứu khoảng 64
kiểu tế bào gốc khác nhau đă được thâu hoạch từ các phôi
(embryos), do phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm (In
Vitro Fetilization - IVF). Mục đích nguyên thủy của các
chuyên gia khi tạo nên các phôi này, là nhằm để cấy cho
các cặp vợ chồng hiếm muộn hoặc vô sinh muốn có con, nhưng
v́ con số phôi sản xuất quá nhiều nên đă trở thành thặng
dư, và đă được đông lạnh trong một thời gian lâu dài, do
đó, đă được các chuyên gia nơi pḥng thí nghiệm quyết định
sử dụng để lấy các tế bào gốc, thuộc nhiều loại khác nhau.
Việc làm của tổng thống Bush đă gây nên một sự bất b́nh
trầm trọng giữa Giáo Hội Công Giáo (GHCG) Hoa Kỳ và vị
nguyên thủ quốc gia, được các cử tri Công Giáo phần đông
ủng hộ trước đi đắc cử. Đại diện cho GHCG Hoa Kỳ, Đức giám
mục Joseph Fiorenza, thuộc tổng địa phận
Galveston-Houston, cựu chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ
đă phát biểu như sau:
"Lần đầu tiên trong lịch sử của đất nước Hoa Kỳ, chính phủ
liên bang đồng ư ủng hộ việc nghiên cứu, mà hệ quả của nó
là việc hủy diệt những con người vô phương kháng cự, nhằm
mục đích đem lại lợi ích cho kẻ khác... Quyết định này cho
phép các công ty, các dịch vụ nghiên cứu tư nhân tại quốc
gia của chúng ta, gia tăng phát triển sự bất kính đối với
sự sống con người. Cho nên, chúng tôi cầu nguyện và hy
vọng rằng tổng thống Bush sẽ trở về lại với nguyên tắc
chính trực, nhằm chống lại những cách thức hành-xử coi sự
sống con người không hơn ǵ những vật thể, có thể được tận
dụng cho các mục đích nghiên cứu và sau đó th́ bị hủy diệt."
Tuy nhiên, chỉ trong mấy ngày vừa qua, chính Tổng Thống
George Bush đă phủ quyết sự chấp thuận của Quốc Hội Mỹ cho
phép các chuyên gia được quyền nới rộng việc nghiên cứu
của họ bằng phương pháp sử dụng các tế bào gốc lấy từ phôi
(embryonic stem cells). Việc làm này đă được hoan nghênh
nhiệt liệt của nhóm pḥ sự sống và của Hội Đồng Giám Mục
Hoa Kỳ. Ông Richard M. Doerfinger, đại diện cho giám đốc
văn pḥng bảo vệ sự sống của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ đă
phát biểu tại ṭa Bạch Ốc hôm thứ tư, ngày 19 tháng 07 năm
2006, như sau:
“Chúng tôi tán thành việc Tổng Thống Bush đă phủ quyết
pháp luật do Quốc Hội đă chấp thuận cho phép các khoa học
gia dùng tế bào gốc lấy từ phôi để nghiên cứu. Điều này sẽ
khuyến khích việc huỷ diệt thêm các phôi người để thâu
hoạch tế bào gốc.”
Thế nên, chúng ta cần phần biệt tỏ tường để tránh sự ngộ
nhận là, hiện nay, khi nói đến về việc nghiên cứu về tế
bào gốc, chúng ta cần am hiểu thấu đáo:
1) Tế bào gốc là ǵ?
2) Tế bào gốc lấy từ đâu ra?
3) Những lợi ích khả thể trong công tŕnh nghiên cứu liên
quan đến tế bào gốc.
4) Lập trường và quan điểm của Gíao Hội Công Gíao trước sự
việc nghiên cứu này.
Cho nên trong bài viết này, tôi cố gắng làm sáng tỏ những
vấn đề nêu trên, hầu giúp cho chúng ta hiểu biết một cách
tường tận những vấn đề éo le và hóc búa, liên quan đến
những ǵ mà hiện nay đang được bàn căi, tranh luận cực kỳ
sôi nổi, đặc biệt trong lănh vực luân lư. Tỷ dụ như có
được phép, xét về mặt luân lư, sử dụng phôi để thu hoạch
tế bào và làm chất liệu để nghiên cứu hay không?
Vậy trước tiên, tôi xin phép được đề cập đến.
I. TẾ BÀO GỐC LÀ G̀?
Tế bào gốc là tế bào có khả năng phân chia vô hạn định, và
có khả năng sinh sản và tạo nên các tế bào khác có những
chức năng chuyên biệt, một khi nó được cấy vào một môi
trường thích hợp. Để cho chúng ta có một khái niệm cụ thể
về các chức năng của tế bào gốc, điều tốt nhất là chúng ta
thử khảo-sát chúng trong các tiến tŕnh phát triển nơi con
người được bắt đầu khi tinh trùng làm cho trứng (noăn) thụ
tinh, và sau đó tạo nên một tế bào duy nhất, gọi là hợp-tử,
tế bào này có khả năng tự tại phát triển thành một cơ thể
(organism). V́ thế, trứng thụ tinh (hợp-tử) c̣n được coi
như là tế bào toàn-năng. Sau khi trứng đă được thụ tinh,
chỉ vài tiếng đồng hồ sau (khoảng 4-6 tiếng), hợp tử sẽ tự
động phân chia thành nhiều tế bào toàn-năng (totipotent
cells), đồng chất thể về mặt di truyền. V́ lư do đó, mà
giả thể ta lấy một tế bào toàn-năng (đă được phân chia sau
khi trứng đă thụ tinh khoảng 3 ngày) đem cấy vào vách tử
cung của người phụ nữ (nếu thành công) th́ tế bào này có
khả năng phát triển thành bào thai. Từ đó, ta có thể giải
thích hiện tượng sinh đôi, là một trứng sau khi đă thụ
tinh, tự phân chia làm 2 tế bào toàn-năng riêng biệt và
rồi sau đó sẽ tự phát triển thành 2 cá thể riêng rẽ (trong
thời hạn 14 ngày, kể từ khi thụ tinh). Do đó, xét về mặt
di- truyền th́ trẻ em sinh đôi (cùng một trứng) có cùng
chung một gien y hệt như nhau.
Khoảng 4 ngày, sau khi trứng đă thụ tinh, hợp-tử sẽ trải
qua nhiều chu kỳ phân chia tế bào, gọi là hiện tượng nhân
đôi: từ 1 tế bào duy nhất thành 2, điều này diễn ra khoảng
30 tiếng đồng hồ sau khi trứng đă thụ tinh. Sau 40-50 giờ,
chúng sẽ tự phân chia thành 4 tế bào, và sau 60 tiếng đồng
hồ thành 8 tế bào. Khi trứng đă thụ tinh tiến gần đến lối
dẫn vào tử cung, nó phát triển thành 16 tế bào, và người
ta gọi nó là phôi dâu (Morula). Sự kiện này diễn ra vào
ngày thứ 4 kể từ khi trứng đă thụ tinh. Trong giai đoạn
này, chưa có sự tiền định của bất cứ một tế bào nào sẽ trở
thành một thực thể (entity) riêng biệt hay là bộ phận của
thực thể. Khoảng chừng ngày thứ 6 hoặc ngày thứ 7, hợp tử
(tên gọi của trứng sau khi đă thụ tinh) sẽ trở thành phôi
bào (Blastocyst) và nó di chuyển đến vách tử cung để bắt
đầu tiến tŕnh làm tổ, nếu thành công, việc thụ thai sẽ
diễn ra và phôi bào sẽ tiếp tục phát triển. Ở vào thời
điểm này, ta có thể phân biệt là phôi bào gồm có hai loại
tế bào:
1) Loại tế bào thứ nhất trở thành màng bao bọc phôi bào (tiếng
Anh gọi là Trophectodern);
2) Loại thứ hai là các tế bào nội tại (Inner Cell Mass =
ICM)
Các tế bào nội tại này sẽ thiết lập hầu hết các mô
(tissues) của thân thể. Mặc dầu các tế bào nội tại có thể
tạo thành, dường như, tất cả các loại tế bào nơi thân thể
con người, nhưng chúng lại không có khả năng để tạo thành
một cơ thể (organism). Các tế bào nội tại được coi như là
các tế bào đa-năng, v́ chúng có khả năng trợ giúp nhiều
loại tế bào khác nhau. Các tế bào nội tại có tính đa-năng,
tuy nhiên, chúng không phải là các tế bào toàn-năng, v́ lư
do đó chúng không thể tạo nên một cơ thể, như các tế bào
toàn-năng, tỷ dụ như tế bào hợp-tử.
Những tế bào gốc đa-năng (Pluripotent stem cells) tiếp tục
trải qua nhiều sự phân-hóa để trở thành những tế bào gốc
với chiều hướng nhằm yểm trợ các tế bào mà chúng có những
chức-năng hoặc phận-vụ chuyên-biệt. Tỷ dụ như tế bào gốc
của máu (Blood stem cells), th́ trợ giúp các hồng huyết
cầu và bạch huyết cầu. Các tế bào gốc của máu hiện diện
trong tủy (của xương - bone marrow) của trẻ em cũng như
người lớn, thực vậy, chúng có thể t́m thấy trong máu hiện
đang lưu thông nơi các huyết quản. Tế bào gốc của máu nắm
giữ một vai tṛ rất quan trọng, trong công việc cung cấp
cho đủ số tế bào máu trong thân thể con người, suốt cả
cuộc đời. Các tế bào máu th́ gồm có: hồng huyết cầu và
bạch huyết cầu. Chúng ta không thể sống sót nếu không có
các tế bào gốc của máu.
II. TẾ BÀO GỐC LẤY TỪ ĐÂU RA?
Hiện nay có 2 phương pháp để có thể lấy được các tế bào
gốc đa-năng.
• Cách thứ nhất được thực hiện do Dr. James Thomson, thuộc
đại học Wisconsin - Hoa Kỳ.
Các tế bào gốc đa năng được tách rời trực tiếp từ các tế
bào nội tại của phôi trong giai đoạn phôi bào (blastocyst).
Sau đó đem cấy chúng vào một môi trường thích hợp, với
những điều kiện thiết yếu cho việc phát triển, dần dần
chúng sẽ sản xuất một loại tế bào gốc đa-năng.
• Cách thứ hai được thực hiện do Dr. Gearhart.
Ông ta tách biệt các tế bào gốc đa-năng từ các mô của bào
thai đă được hủy, v́ không muốn tiếp tục cưu mang hoặc v́
những lư do khác. Điều này được thực hiện với sự đồng ư
của chủ nhân bào thai và vị bác sĩ có trách nhiệm. Ông ta
chọn những tế bào thuộc các vùng của bào thai mà biết chắc
chắn rằng sau này, chúng sẽ phát triển thành tinh hoàn
hoặc buồng trứng.
Mặc dầu có sự khác biệt về hai nguồn cung cấp chất liệu để
tạo nên các tế bào gốc đa-năng. Tuy nhiên, kết quả của
việc h́nh thành các tế bào gốc này rất giống nhau.
Một loài tế bào gốc nữa, có tên là "Multipotent Stem
Cells", có thể t́m thấy ở một vài loại mô từ người lớn
(Adult tissues). Tuy nhiên gần đây, có nhiều dấu chỉ khả
quan cho thấy, các chuyên gia nghiên cứu có thể t́m thấy
thêm nhiều loại tế bào gốc hiện diện trong các mô trưởng
thành. Tỷ dụ trước đây, các chuyên gia nghiên cứu nghĩ
rằng: các tế bào gốc dường như không có ở trong hệ thống
thần kinh năo. Nhưng những năm gần đây, họ đă khám phá ra
và họ đă làm các cuộc thí nghiệm và cho thấy là họ có thể
tách rời các tế bào gốc thuộc thần kinh (Neuronal Stem
Cells) ra khỏi hệ thống thần kinh năo của các chú chuột.
Điều này đă được thực hiện do các khoa học gia thuộc viện
Nghiên Cứu Y Học "The Walter and Eliza Hall" ở vùng
Parkville, thuộc tiểu bang Victoria, thành phố Melbourne,
Úc Đại Lợi. Họ đă tách biệt được tế bào gốc từ một khu vực
của óc gọi là khu vực "Periventricular". Từ các tế bào gốc
này, không những có thể tạo thành tế bào thần kinh, mà c̣n
cả tế bào mô và cơ mới. Cho nên, với những thành công như
vậy sẽ thúc đẩy việc nghiên cứu về tế bào gốc đi xa thêm
một bước nữa và hy vọng nó sẽ góp phần sáng chế ra những
thứ thuốc giúp cho những người bị chấn thương năo sẽ tự
phục hồi.
Ngược lại, nơi con người, các tế bào gốc loại này, nếu
muốn thâu hoạch, th́ hiện nay chỉ có thể lấy từ các mô của
bào thai (fetal tissues). Hẳn nhiên, việc thử nghiệm này
đối với con người th́ c̣n rất ư là hạn chế. Tuy nhiên,
điều ấy cho thấy là có những dấu chỉ khả thi rằng: không
bao lâu nữa th́ việc này có thể được áp dụng đối với con
người.
III. NHỮNG LỢI ÍCH KHẢ THỂ TRONG CÔNG TR̀NH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN TẾ BÀO GỐC.
Qua các kết quả của các công tŕnh nghiên cứu về việc sử
dụng tế bào gốc trưởng thành nơi con người cho thấy rằng
các "Multipotent Stem Cells" (tên của một loại tế bào gốc
đa-năng), có tiềm năng rất lớn trong công việc nghiên cứu
lẫn việc phát triển phương pháp trị-liệu tế bào (cell
therapies). Một bằng chứng cụ thể, là ta có thể dùng các
tế bào gốc trưởng thành trong việc cấy, ghép. Nếu chúng ta
có thể tách biệt những tế bào gốc từ bệnh nhân, rồi tạo
điều kiện thuận tiện để chúng từ từ phân chia và sinh sản
ra các tế bào có những chức năng chuyên-biệt. Sau đó,
chúng ta đem cấy chúng trở lại cho bệnh nhân. Làm như vậy
th́ sẽ tránh được t́nh trạng các tế bào này bị từ chối hay
bị phản kháng bởi cơ thể của bệnh nhân.
Cách thức sử dụng các tế bào gốc trưởng thành cho các
phương pháp trị-liệu, nhằm thay thế các tế bào đă bị thoái
hóa hay không c̣n khả năng thực hiện các chức năng riêng
biệt của chúng nữa, sẽ giảm thiểu hoặc tránh né được, ngay
cả việc sử dụng đến các tế bào gốc lấy được từ các phôi
hoặc các mô từ bào thai người. Điều này đă và đang gây
nhiều sự phản đối, v́ những yếu tố về mặt luân lư.
1. Những lợi ích khả thể.
Những lợi ích khả thể mà các chuyên gia nghiên cứu hiện
nay đưa ra th́ có lẽ nhiều vô số kể. Trong bài viết về
"The Benefits of Human Cloning." (http://www.humancloning.org/benefits.htm.),
th́ tác giả đưa ra một số danh sách các lợi ích thực tiễn
về "Human Cloning". Nói chung hầu như là bá bệnh đều có
thể trị được, nếu bằng ḷng áp dụng và cho phép "Cloning".
V́ khuôn khổ của bài viết, nên tôi mạn phép chỉ đề cập đến
những ǵ có tính cách hiện-thực mà cộng-đồng thế giới đang
mong mỏi nơi các chuyên gia nghiên cứu, dựa trên những
khám phá gần đây nhất.
2. Việc sử dụng các tế bào gốc cho phương pháp trị-liệu.
Phần đông các bệnh tật nơi con người là kết quả do việc
các tế bào trong con người của chúng ta ngưng hoạt động
hay không làm việc theo đúng như chức năng của chúng, hoặc
do bởi các mô của thân thể bị hủy hoại. Hiện nay, để thay
thế cho các cơ phận hoặc ghép các bộ phận, cũng như mô
không c̣n hoạt động b́nh thường, các chuyên viên y khoa đă
cần phải sử dụng đến các bộ phận, tỷ dụ như tim, thận, tủy,
mắt..v.v.., được hiến tặng. Tuy nhiên, không may cho chúng
ta là số bệnh nhân càng ngày càng gia tăng và vượt hẳn con
số về các bộ phận mà chúng ta có được (do sự hiến tặng của
các ân nhân) để thay thế hay cấy, ghép. Tế bào gốc có thể
cung ứng cho ta một nguồn nguyên-liệu mới phong phú, hầu
có thể thay thế các tế bào và mô đă bị hỏng, nhằm chữa trị
các chứng bệnh nan y, tỷ dụ như: bệnh tim, bệnh ung thư,
bệnh Parkinson, bệnh tiểu đường, bệnh mất trí nhớ, bệnh
chấn thương cột sống, cơn đột trụy (stroke), bệnh đau nhức
thấp khớp kinh niên, bị phỏng nặng..v.v.. Có thể nói hầu
như các căn bệnh thông thường hiện nay, đều có nhiều cơ
may điều trị bởi việc sử dụng các tế bào gốc mà gần đây
các chuyên gia nghiên cứu mới khám phá ra.
Tuy nhiên, trước những dấu hiệu khả quan và những thành
công rực rỡ đă và đang gặt hái được nhiều thành quả vượt
bực đáng kể trong công việc điều trị các căn bệnh đương
thời. Y học ngay nay vẫn c̣n gặp phải một số vấn đề khó
khăn trong công việc áp dụng và đưa các khám phá mới mẻ ấy
vào trong công việc thực hành cụ thể nơi các sở y tế.
Những khó khăn này tuy đáng kể, nhưng không phải là chúng
ta không có khả năng vượt qua.
Nói tóm lại, chúng ta cần chờ đợi với thời gian để xem coi
các phát minh mới ấy sẽ mang lại những lợi ích cụ thể ǵ
cho nhân loại.
IV. QUAN ĐIỂM VÀ LẬP TRƯỜNG CỦA GÍAO HỘI CÔNG GÍAO.
Đứng trước các phát minh mới mẻ trong ngành y-sinh học,
được thực hiện đầu thế kỷ thứ 21 này, cụ thể là việc sử
dụng các tế bào gốc trong các phương pháp trị liệu. Giáo
Hội Công Giáo luôn luôn tán thưởng và khuyến khích các nổ
lực và sự thiện chí của các chuyên gia nghiên cứu. Cách
đây vài năm tại Rôma, Thánh đô của Giáo Hội đă tổ chức một
Hội nghị chuyên đề, vào ngày 13-14, tháng 11, 2001 tại Đại
học giáo hoàng Ateneo Pontificio Regina Apostolorum - Rôma.
Hội nghị này đă được bảo trợ của 2 Đại học và 1 Học viện
danh tiếng trên thế giới: Đại học Francisco de Vitoria
(Madrid - Tây Ban Nha), Pontifical Athenaeum Regina
Apostolorum (Rôma) và Guilé Foundation (European Institute
for Social Studies - Thụy Sĩ), nhằm thảo luận về những vấn
đề nan giải và những thiện ích cho con người trong công
tŕnh nghiên cứu tế bào gốc.
Tiến sĩ Esmail D. Zanjani, một trong những chuyên gia đang
dẫn đầu về việc nghiên cứu tế bào gốc, hiện là giảng sư
tại Đại học Nevada, Hoa Kỳ, đă đưa ra những nhận định phù
hợp với quan điểm và chiều hướng lập luận hiện thời của
Giáo hội Công Giáo. Ông ta phát biểu rằng: "Hiện nay, có
rất nhiều dữ kiện cho thấy, chúng ta có thể thành công
trong viêc sử dụng các tế bào gốc của người lớn (Adult
Stem Cells) để điều trị các chứng bệnh về tim, và các mô
bị hư hại. Sau nhiều lần thử-nghiệm th́ kết quả cho thấy
công việc này đă rất có hiệu nghiệm." (Phỏng theo bài
thuyết tŕnh của Dr. Zanjani tại hội nghị - Thứ tư 14
tháng 11, 2001). Tiến sĩ Zanjani c̣n cho biết thêm, theo
như kết quả của những cuộc thử-nghiệm vừa qua th́ nó chứng
minh cho ta thấy, việc dùng các tế bào gốc nơi người lớn,
đạt được những kết quả khả quan như đă tiên đoán. Cho nên,
"Tôi (Dr. Zanjani) thiết nghĩ chúng ta không nhất thiết
phải sử dụng đến các tế bào gốc lấy được từ phôi
(Embryonic Stem Cells), v́ điều đó gặp phải nhiều sự chống
đối xét về mặt luân lư, mà đồng thời kết quả th́ cũng chưa
chắc ǵ đă trỗi vượt hơn, việc dùng các tế bào gốc từ
người lớn trong các phương pháp trị liệu."
Với một lối suy tư tương tự như thế, bà Monica Lopez
Barahona, giảng sư tại Đại học Francisco de Victoria (Tây
Ban Nha), khi được phóng viên nhà báo phỏng vấn tại Hội
nghị đă phát biểu như sau: "Không thể chấp nhận được sự
việc tạo một phôi người, rồi sau đó chỉ lấy các tế bào gốc
rồi th́ hủy bỏ nó đi." Bà ta nhấn mạnh, theo quan điểm của
các khoa học gia, th́ hiển nhiên đă có sự hiện diện của
một “con người” ngay từ lúc khi trứng được thụ tinh. V́ lư
do đó, không thể chấp nhận được xét về mặt đạo đức, khi sử
dụng sự sống con người này (tức là các phôi bị sử dụng để
lấy tế bào gốc) để cứu một người khác (để cấy ghép hoặc
thay thế các bộ phận bị hư hỏng). Quan điểm này, chúng ta
có thể t́m thấy trong giáo huấn của Giáo Hội:
"Con người phải được đối xử như một nhân vị kể từ khi thụ
tinh, và v́ vậy cũng từ lúc đó nhân quyền của nó phải được
thừa nhận, trước hết là quyền sống bất khả xâm phạm của
một con người vô tội."
KẾT LUẬN:
Nói tóm lại, chủ trương và lập trường của GHCG hiện nay là
không cho phép việc sử dụng các phôi người như thể là một
vật-liệu để nghiên cứu, điển h́nh là việc tạo các phôi
bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm. Sau đó, tách
các tế bào gốc ra từ các phôi này rồi hủy chúng đi, làm
như vậy theo quan điểm của Giáo Hội là không thể chấp nhận
được, xét về mặt luân lư. V́ Giáo hội xác tín rằng: ngay
từ giây phút thụ tinh, th́ đă có xuất hiện sự sống con
người (xem Huấn Thị Donum vitae và Thông điệp Evangelicum
vitae). Điều này không ngừng được ĐTC Gioan Phaolô II lập
đi lập lại, trích từ Huấn thị Donum vitae và Declaration
on Procured Abortion:
"Ngay từ khi trứng được thụ tinh, một sự sống mới được bắt
đầu, mà sự sống ấy không phải là của cha cũng chẳng phải
của mẹ, nhưng đúng hơn đó là sự sống của một con người mới
và nó có thể tự ḿnh phát triển."
Lẽ đó, ĐTC kêu gọi, các cộng đồng và hiệp hội các khoa học
gia trên thế giới:
"Hăy tôn trọng tuyệt đối sự sống con người từ giây phút
mới bắt đầu cho đến hơi thở cuối cùng."
L.m Trần Mạnh Hùng
C.Ss.R., STD |