|
Tam
Pháp Ấn
Thích Đức Thắng
Đây là
ba phạm trù nghĩa lư đặc trưng để bảo chứng nhận diện ra
những lời dạy của đức Đạo sư một cách chính xác mà không
nhầm lẫn với những lời dạy bởi các giáo chủ của các ngoại
đạo qua: “Các hành là vô thường, các pháp vô ngă và
Niết-bàn tịch tĩnh” cho nên được gọi là ba pháp ấn. Ba
phạm trù này chúng luôn luôn phù hợp với chân lư cuộc sống
qua mọi hiện tượng nhân sinh cùng vũ trụ. Trong ba tạng
kinh điển dù là Đại thừa hay Tiểu thừa, ba phạm trù tư
tưởng nghĩa lư “Vô thường, vô ngă, Niết-bàn” này đều có
hết, với mục đích là dùng để ấn định bảo chứng cho những
lời dạy của đức Đạo sư, chứ không phải là những lời nói
của Ma. Nếu kinh điển nào mà không mang nghĩa lư của một
trong ba phạm trù này th́ những kinh điển đó không phải do
đức Đạo sư nói ra
Theo kinh Tạp A-hàm, quyển 10 th́ đức Đạo sư cùng đệ tử
của Ngài đă đề cập và giảng dạy về đề tài này theo ư nghĩa
của chúng qua ngũ uẩn diệt. Thật ra, ba phạm trù này do
các bộ phái sau này căn cứ vào những lời dạy rải rác khắp
trong kinh điển theo những lời dạy của Phật cùng các Thánh
đệ tử của Ngài sau này mà lập ra, nhưng tất cả đều rất
chính xác theo những lời dạy của Ngài thường được thấy
trong ba tạng giáo qua ba phạm trù khế cơ khế lư trên.
Theo Căn bổn Thuyết nhứt thiết hữu bộ Tỳ-nại-da 9, đức Thế
Tôn bảo với Hiền Thủ:
Chư
hành giai vô thường
Chư pháp tất vô ngă
Tịch tịnh tức Niết-bàn
Thị danh tam pháp ấn.
Các hành đều vô thường
Các pháp ắt vô ngă
Vắng lặng tức Niết-bàn
Đó là ba pháp ấn.
Đó là
ba pháp ấn mà đức Đạo sư đă dạy Ngài Hiền Thủ trong Luật
Căn bổn Thuyết nhứt thiết hữu bộ. Theo kinh Duy-ma-cật sớ
6 th́: “Như luận Đại Trí thuyết th́ kinh Thinh văn có ba
pháp ấn, vô thường ấn, vô ngă ấn, Tịch diệt Niết-bàn ấn.
Theo kinh Tiểu thừa th́ có ấn này, tức là chỉ cho kinh
liễu nghĩa của Tiểu thừa. Hành giả nào vâng theo những lời
dạy trong những kinh này th́ sẽ đắc đạo. Nếu kinh nào
không có ba pháp ấn này th́ không phải là kinh liễu nghĩa.”
Ở đây, kinh Duy-ma-cật ngoài những ǵ cần để h́nh thành
nghĩa lư của ba phạm trù này như các kinh điển Thinh văn,
c̣n xác nhận một cách chắc chắn rằng trong kinh liễu nghĩa
Tiểu thừa lúc nào cũng hiện diện một trong ba pháp ấn này.
Hành giả nào vâng theo những lời dạy trong kinh liễu nghĩa
này mà thực hành tu tập th́ sẽ đưa đến chỗ đắc đạo và nếu
kinh nào mà không có sự hiện hữu của ba pháp ấn này th́
kinh điển đó không phải là kinh liễu nghĩa.Và cũng theo A-tỳ-đạt-ma
Pháp Uẩn Túc luận 12 th́: “Đối với ba pháp ấn mà hành giả
c̣n sinh khởi do dự cho rằng tất cả các pháp vô thường mà
cho rằng chẳng phải tất cả các pháp là vô thường; tất cả
các pháp là vô ngă mà cho rằng chẳng phải tất cả các pháp
vô ngă; là Niết-bàn tịch tĩnh mà cho rằng chẳng phải
Niết-bàn tịch tĩnh, th́ những quan niệm này là si mê.” Ba
pháp ấn là ba phạm trù dùng để ấn chứng, công nhận những
kinh điển nào phù hợp với chân lư, phù hợp với những lời
dạy của đức Đạo sư, phù hợp với sự thật th́ kinh điển
những lời dạy ấy đích thật là của trí tuệ. C̣n nếu đối với
những kinh điển như vậy mà hành giả nào khởi niệm nghi ngờ
không có ḷng tin chân thật vào ba phạm trù nghĩa lư này
th́ đó là những con người si mê ngu muội cần được giáo dục
và hướng dẫn để đi theo con đường chân chánh. Cũng theo
Câu xá luận kư 1, Đ. 41, trang, 0001b xác nhận một cách
dứt khoát về ba pháp ấn này: “Kinh giáo tuy là nhiều, tóm
lược lại th́ chia ra làm ba loại gọi là pháp ấn: Một, chư
hành vô thường. Hai, chư pháp vô ngă. Ba, Niết-bàn tịch
tĩnh. V́ ấn chứng các pháp nên gọi là pháp ấn. Nếu thuận
theo ấn này th́ gọi là kinh Phật, nếu nghịch lại ấn này
th́ chẳng phải là những lời Phật dạy.”
Qua
kinh luận tŕnh bày ở trên dù là Tiểu thừa hay Đại thừa,
ba phạm trù này dùng để kiểm chứng và chứng minh những
kinh luật luận đó do đức Đạo sư thuyết, c̣n nếu không
thuộc vào một trong ba phạm trù này th́ không phải là
những lời dạy của đức Đạo sư mà là những lời thuyết của Ma
(chỉ cho ngoại đạo).
1. Các
hành vô thường (Skrt: anityāḥ
sarva-saṃskārāḥ),
tức là chỉ cho mọi hiện tượng có được trên thế gian khiến
cho mắt chúng ta nhận thấy qua h́nh ảnh mà thuật ngữ Phật
giáo gọi là pháp hữu vi; chỉ cho muôn vật chúng luôn bị sự
chi phối của luật vô thường biến khác, từ h́nh thái này
sang h́nh thái khác, hay biến dịch từ chỗ này sang chỗ
khác luôn xảy ra không bao giờ dừng nghỉ. Mọi hiện tượng
sinh diệt biến đổi này của thế gian chúng liên hệ với các
pháp vô ngă, Niết-bàn tịch tĩnh, là một trong ba pháp ấn
đại cương cơ bản của pháp Phật, nên được gọi là chư hành
vô thường ấn, hay nhất thiết hành vô thường ấn, hoặc c̣n
gọi là nhất thiết hữu vi pháp vô thường ấn. Theo bài kệ vô
thường của kinh Niết-bàn, quyển hạ, đức Phật đă dạy:
Chư
hành vô thường
Thị sinh diệt pháp
Sinh diệt diệt dĩ
Tịch diệt vi lạc.
Các hành vô thường
Là pháp sinh diệt
Sinh diệt, diệt rồi
Tịch diệt là vui.
Qua bài
kệ này, đức Đạo sư nói lên được tính bất toàn của mọi sự
vật, của mọi hiện tượng cùng muôn vật hiện hữu tại thế
gian này nói chung và chỉ cho năm thủ uẩn nói riêng. Chúng
bị luật vô thường chi phối, nên chúng kinh qua hai trạng
thái sinh-diệt biến đổi, tạo ra đau khổ, nếu hành giả
chúng ta muốn đạt đến mọi sự an vui Niết-bàn giải thoát
th́, chúng ta phải vượt qua khỏi sinh-diệt (sống-chết), có
nghĩa là chúng ta giải thoát khỏi khổ đau phát sinh từ các
hành th́, sự giải thoát (tịch diệt) đó là an vui.
Các
hành ở đây được đức Đạo sư định nghĩa như kinh Khởi thế
nhân bổn 9 (Đ. 1, trang 412c) dạy: “Các Tỳ-kheo, các hành
là vô thường, phá hoại, ly tán, lưu chuyển, biến diệt,
không trường tồn, chỉ trong chốc lát như vậy, đáng chán,
đáng lo, nên t́m cách giải thoát.” Các hành ở đây chỉ cho
tất cả các pháp hữu vi hiện khởi có h́nh tướng mà mắt
chúng ta có thể thấy và phân biệt chúng với nhau, có thể
đụng chạm vào nhau. Nói chung là chỉ cho mọi hiện tượng
cùng vạn vật đang hiện hữu giữa thế gian này; nhưng những
hiện tượng cùng muôn vật chúng bị lệ thuộc vào vô thường
cho nên chúng luôn luôn ở trong trạng thái sinh khởi và
biến diệt không dừng nghỉ. Từ trạng thái này biến sang
trạng thái khác: Từ đứa bé mới lọt ḷng cho đến khi trăm
tuổi, tuy rằng phải trải qua một thời gian là trăm năm hay
ít hơn, nhưng trong thời gian này chúng luôn thay đổi biến
dịch trong từng giây từng phút, từng sát-na một nên con
người mới có hiện tượng lớn lên, già đi và cuối cùng là
biến dịch. Hiện tượng thay đổi này có được là nhờ sự xúc
tác của vô thường nên mới có thay đổi, nếu không có vô
thường th́ sẽ không có bất cứ một sự thay đổi nào hết. Do
đó, vô thường luôn luôn hiện hữu trong cuộc sống của chúng
ta và cũng nhờ có vô thường mà chúng ta mới có sự sáng tạo
đổi khác trong tư duy, trong cuộc sống và cuộc sống càng
trở nên có ư nghĩa. Chỗ khác đức Đạo sư dạy rơ hơn như
trong kinh Niết-bàn Bản Hữu Kim Vô kệ luận 1, Đ. 26, trang
0282c định nghĩa về: “Các hành tức là chỉ cho các hành của
sắc tâm, chúng có mặt trong ba đời và, vô thường có năm
nghĩa: Một, vô thường diệt mất. Hai, vô thường xa nhau. Ba,
vô thường biến khác, hay hồi chuyển. Bốn, vô thường hữu
phần. Năm, vô thường tự tánh.” Đây chính là hiện tượng giả
hợp của sắc (đất, nước, gió, lửa) có được nhờ các nhân
duyên, duyên nhau mà sinh khởi và biến dịch, c̣n mặt thật
bản chất (tâm) của chúng là không v́ sự hiện hữu của chúng
là do duyên, nên bản chất của chúng là không và chúng có
mặt khắp trong ba đời (quá khứ, hiện tại, vị lai). Như
trong luận Du Già sư địa 18, Đ. 30, trang 0378c đă nói:
“Các hành vô thường là chỉ cho các hành kia vốn không,
nhưng v́ duyên sinh khởi nên hiện hữu (sinh), khi đă hiện
hữu rồi th́ phải biến diệt (tùy duyên).” Thật ra, các hành
như kinh trên đă nói th́ chính là năm uẩn gồm có sắc và
tâm (Sắc, thọ, tưởng, hành, thức). Các hành này là vô
thường biến đổi không chắc thật, không tồn tại, vĩnh cửu
mà chúng luôn luôn biến dịch, có mặt khắp trong ba đời.
Nhưng sự hiện hữu của chúng như luận Du-già đă nói là
không. V́ vậy cho nên hành giả trong khi tu tập phải siêng
năng quán sát chúng để diệt trừ chấp ngă, chấp pháp mà
hoàn thành cứu cánh Niết-bàn tịch tĩnh trong hiện quán,
như luận A-tỳ-đạt-ma tập dị môn túc 16, Đ. 26, trang 0435b
ghi rằng: “Hiện tại chúng ta nên siêng năng quán sát, các
hành là vô thường, là hữu lậu, là khổ. Tất cả pháp là
không, là vô ngă. Khi chúng ta nghĩ đến chúng như vậy rồi
th́ chúng ta sẽ siêng năng quán sát.”
Qua
những kinh luận ở trên cho chúng ta biết được thế nào là
các hành? Thế nào là vô thường? Để từ đó hành giả chúng ta
biết được phạm trù vô thường chúng luôn hiện hữu ở trong
ba tạng kinh, luật, luận. Nếu kinh, luật, luận nào không
mang ư nghĩa đạo lư này th́ đó không phải là kinh, luật,
luận của Phật giáo.
(c̣n tiếp) |