|
Luật:
Những Khái Niệm Cơ Bản Về Luật
Thích Tuệ Sỹ
Tư
hữu phát sinh từ đâu?
Tư hữu dẫn đến cạnh tranh. Cạnh tranh
dẫn đến mâu thuẫn xă hội. Vậy, cạnh tranh phát sinh
từ đâu?
Xét trên phương diện triết lư, nó là
biểu hiện thực tế của ngă và ngă sở. Trẻ con mới
sinh ra chưa có ngă sở cũng chưa có khái niệm về ngă.
Cho đến một lúc nào đó, nó biết đây là ba, đây là má,
đây là tôi, đây là người khác, cái khác…; và một lúc
nào đó nó biết rằng cái này là của nó, là của ba,
của anh, của chị… th́ nó bắt đầu phát sinh ư niệm
chiếm hữu. Càng lớn lên, ham muốn chiếm hữu càng
phát triển. Khả năng ít th́ chiếm hữu chỉ một gia
đ́nh nhỏ, khả năng lớn hơn th́ chiếm hữu làm ấp
trưởng, xă trưởng…, chiếm hữu lớn nữa th́ làm một
hoàng đế. Trong đời sống hằng ngày, nếu chúng ta
không dứt trừ được ư niệm tư hữu là ư niệm gần gũi
nhất, th́ không bao giờ chúng ta đạt đến vô ngă được.
Ngă và ngă sở là ư niệm trừu tượng không thấy nhưng
nó cụ thể hằng ngày; đó là cái tích lũy tư hữu cho
ngă và ngă sở. Sự tồn tại của tăng y trên đời sống
không có tư hữu. Thực hành Thánh đạo cơ bản là đời
sống không tư hữu.
Đây là nói theo ư nghĩa kinh tế, ư
nghĩa xă hội học, chứ không đứng trên lập trường
Thắng nghĩa đế của kinh điển mà nói. Nếu không dựa
trên đời sống phi tư hữu th́ cũng không thể có lục
ḥa được.
Bây giờ, chúng ta đă nói tổng quát tương đối đầy đủ
về khái niệm luật, tại sao có luật? Luật không phải
học những điều khoản cấm kỵ từ trên trời rơi xuống.
Tất nhiên, chúng ta học để biết và tôn trọng luật.
Ngày xưa, các Ngài có xu hướng giải thích, phàm
những điều luật Phật đặt ra nếu vi phạm điều này th́
đọa địa ngục, vi phạm điều kia th́ đọa súc sanh… gọi
đó là sự trừng phạt. Nhưng, như đă nói, vi phạm luật
là vi phạm khế ước hợp đồng xă hội th́ phải chịu hậu
quả trừng phạt của xă hội, mà trừng phạt chỗ nào
phải xác định cho rơ. Không có luật nào đặt ra mà
không có sự xử trị và trừng phạt. Sự trừng phạt của
chúng ta trong luật Tỳ kheo có hai phần: Phạm giới
gọi là phạm học xứ (giới là học xứ) và phạm nghiệp.
Phạm nghiệp nặng, thí dụ như giết cha, giết mẹ là
phạm tội sát sanh; phạm giới như vậy th́ bị trục
xuất Ba-la-di. Nhưng có những vi phạm như phá ḥa
hiệp Tăng thuộc tội ngũ nghịch, nghiệp ngang bằng
tội nghiệp giết cha nhưng trong học xứ chỉ là
Tăng-già-bà-thi-sa. Cần phải nhớ, phạm
Tăng-già-bà-thi-sa ngang tội giết cha, giết mẹ, là
đoạn thiện căn, theo nghiệp mà bị đọa địa ngục,
không bao giờ tồn tại được trong tăng, phải bị trục
xuất. Phá ḥa hiệp tăng như Đề-bà-đạt-đa ngang với
tội giết cha, giết mẹ lại không bị trục xuất khỏi
giáo hội, mà chỉ phạm Tăng-già-bà-thi-sa, sám hối
được. Đó là sự khác nhau giữa phạm giới (học xứ) và
phạm nghiệp. Phạm Ba-la-di là phạm luật của tăng,
Tăng xử. Thí dụ, phạm Ba-la-di ăn trộm, có ảnh hưởng
đến quyền lợi xă hội, mang tính xă hội. Ăn trộm mà
phạm tới mức Ba-la-di th́ không thể chấp nhận được,
v́ với người ăn trộm, án tù có thể hết nhưng lư lịch
ăn trộm th́ không thể xóa đi trong tâm trí người đời.
Tăng không thể bao che một vết bẩn mà với người đời
không bao giờ tẩy sạch. Nhưng phạm giới dâm đối với
Tỳ kheo c̣n tàm quư th́ cho thọ lại học giới, v́ đây
là phạm nghiệp có thể đọa địa ngục nhưng không làm
ảnh hưởng đến Tăng trọn đời chúng như tội ăn cắp mức
đại h́nh. Rơ ràng hai cái khác nhau, tội nghiệp tuy
bằng nhau. Thậm chí tội hành dâm c̣n nặng hơn v́ là
pháp chướng đạo nhưng không làm ảnh hưởng đến tiếng
xấu của Tăng chúng suốt đời, trong khi tội ăn cắp
ảnh hưởng khó tẩy xóa đến cả tập thể Tăng chúng, nên
phải đuổi. Như vậy, đối với sự phạm giới, chúng ta
phải nhận xét là phạm nghiệp hay phạm học xứ.
Ở đây, Tôi muốn nhắc lại là không có
luật nào mà không có phép xử trị. Nhưng chúng ta
học luật xử trị theo luật cộng đồng. Phạm một điều
luật đă được qui định cho cộng đồng, nó phá vỡ những
giao ước với cộng đồng trong cuộc sống, tất phải bị
cộng đồng trừng phạt bằng cách loại trừ, c̣n nghiệp
làm th́ cá nhân phải chịu, nặng nhẹ tùy theo mức độ
hành động của ḿnh. Phạm nghiệp th́ không thể sám
hối được; v́ không ai có thể xóa nghiệp xấu của một
người, nhưng Tăng cho sám hối là để dắt dẫn người
phạm tự nỗ lực tu tập cho tới khi chứng quả A-la-hán,
bấy giờ tất cả nghiệp đó có thể giải. Nghĩa là, theo
đức từ bi của Phật, Tăng luôn luôn t́m cách để cứu
vớt người phạm dù người đó rơi xuống tận địa ngục A-tỳ.
Nghiệp đă làm th́ không có cách sám hối nào hết được
mà phải trả thôi. Nghiệp đă làm như đă chặt ngón tay
th́ không có cách sám hối nào cho ngón tay mọc lại
được hết, nhưng biết cách băng bó chữa trị th́ vẫn
c̣n cơ hội cứu văn.
Thành ra trong pháp sám hối, vấn đề
rất tế nhị. Tuy cùng phạm một tội nhưng tùy trường
hợp hoặc cần ra trước tập thể sám hối, có khi không
cần.
Đây là phần thứ nhứt nói tổng quát về
nguồn gốc của luật và tại sao có luật? Vừa rồi,
chúng ta có nói tới Giới và Luật, nhân đây chúng ta
phân biệt thêm.
Luật là ǵ?
Từ luật và luật pháp trong thế gian,
như chúng ta đă nghe nhiều. Luật trong Phật giáo một
cách tổng quát cũng cùng ư nghĩa như thế gian nhưng
v́ mục đích khác cho nên nội dung cũng phải khác.
Mục đích của Phật đặt ra luật là ǵ? Là để tạo điều
kiện cho một Tỳ-kheo, một Phật tử, đạt đến Thánh đạo,
chứng quả Niết-bàn. Mục đích luật của thế gian là ǵ?
Là lập trật tự cộng đồng, để cho thịnh vượng và hạnh
phúc, để hưởng thụ vật dục trong thế gian. Mục đích
khác nhau nhưng bên nào cũng cần luật. Từ luật, mỗi
nơi sử dụng khác nhau nhưng ư nghĩa của luật là phổ
quát. Luật là luật pháp. Trong Phật giáo chữ Luật
trong Kinh điển gọi là vinaya (âm T́-nại-da, hay
t́-ni), do gốc động từ vi-nī: vinayati, dắt dẫn,
hướng dẫn. Vinaya, nghĩa cơ bản là dắt dẫn, hướng
dẫn, từ đó hiểu qua nghĩa bóng là huấn luyện; chữ
Hán dịch là điều phục. Điều phục chính là huấn luyện;
mà huấn luyện th́ phải có kỷ luật. Như người học
nghề v.v…, nghề nghiệp nào cũng cần có kỷ luật. Tất
cả đều có luật của nó để hướng dẫn việc làm. Thành
ra theo ư nghĩa trong kinh, luật là điều phục, mà
điều phục đây đương nhiên là điều phục tâm. Nhưng
trong điều phục của luật có hai phần: Điều phục tập
thể và điều phục cá nhân. Tổng quát Phật chế luật
với 10 mục đích, gọi là “Thập cú nghĩa” (Pali: dasa
atthavase paṭicca). Trong những mục đích này, cơ bản
là tạo sự ḥa thuận giữa Tăng (Pl.: saṅghasuṭṭhuyāya)
và đem lại sự an lạc cho Tăng (saṅghaphāsutāya), tức
nhân và quả thành hai điều.
Thứ nhất là tạo sự ḥa thuận, đây là
một trật tự ḥa thuận. Ḥa thuận là ǵ? Nghĩa là
Tăng chúng th́ phải có trật tự. Một Tỳ-kheo và các
Tỳ-kheo sống trong một cộng đồng, khi đi đứng nằm
ngồi, ra vào phải có khuôn phép trật tự chứ không
thể tự tiện. Có luật th́ có trật tự, Tăng chúng mới
ổn định được. Ngoài ra, người ta vẫn thường nói “con
sâu làm rầu nồi canh”. Trong một tập thể mà có một
thầy Tỳ-kheo sống nghênh ngang th́ uy tín của Tăng
nhất định bị ảnh hưởng. Thời Phật, hai Tỳ kheo A-thấp-bà
và Phú-na-bà-sa (Pl. Assaji-Punabhasu), sống trong
một tụ lạc mà quan hệ với thế tục không theo khuôn
phép của Tăng, nên khi ngài Xá-lợi-phất dẫn đệ tử
đến không được ở đó có thiện cảm, không ai cúng
dường ǵ cả, nên khất thực mà bưng b́nh bát không
trở về. Ngài biết rằng, ở đó có vị Tỳ-kheo nào đó
sống ô-tha-gia, làm ác hành, sống không đúng tư cách
nên tuy rằng đạo đức như ngài Xá-lợi-phất ôm b́nh
bát đi khất thực mà không ai đặt bát cho. Sau đó sự
việc được biết rơ, Phật khiến các Tỳ-kheo tác pháp
đă đuổi hai ông ấy đi chỗ khác. Chính là phải có
những quy luật như vậy để ràng buộc th́ mới có trật
tự trong Tăng. Điều đó có nghĩa Luật tạo trật tự
trong cuộc sống của tăng. Có trật tự th́ mới có an
lạc, tức là Tăng an lạc. Mà có an lạc th́ các
Tỳ-kheo trong tập thể đó mới có điều kiện tu hành.
Trong một tập thể nào mà trong đó Tăng chúng thuần
tịnh, đi đứng có nề nếp, giờ giấc tu hành nghiêm
chỉnh th́ cá nhân Tỳ-kheo mới yên ổn tu tập được,
mặc dù mỗi người tu theo cách riêng của ḿnh. Đây là
ư nghĩa điều phục tập thể. Điều phục này có nghĩa là
luật ràng buộc để tạo trật tự, đem lại sự an ổn và
an lạc trong Tăng.
Thứ hai là điều phục cá nhân. Điều
phục này gọi là trừng trị những kẻ ngoan cố, tức là
điều phục những kẻ chưa điều phục và kẻ đă được điều
phục th́ làm cho phát triển. Tức là những người sống
vô kỷ luật khi vào Tăng chúng được khép vào kỷ luật.
Chính điều này cũng quan trọng, bởi v́ khi độ người
xuất gia chúng ta đâu biết rằng người ấy là Thánh
hay phàm, chân hay giả, mà chỉ biết sự chân thành ở
mặt ngoài thôi. Ngay trong thời Phật cũng có kẻ xuất
gia chỉ v́ mục đích kiếm ăn hay trà trộn vào để phá
Tăng. Người ấy sau khi xuất gia, bị bắt buộc học
Luật trong tất cả mọi oai nghi đi đứng, nằm, ngồi,
quan hệ, tọa thiền v.v… trong tất cả mọi sinh hoạt
tu học, một thời gian sau quen với đời sống đó, hiểu
đời sống đó, th́ từ một con người xấu xa, gian xảo
quỷ quyệt được trà trộn vào để kiếm ăn hay phá hoại,
cuối cùng cũng trở thành con người tốt. Đó là sự cảm
hóa vi diệu của Chánh pháp. |