Vấn-đề Biển Đông: Trung-Quốc
hùng-phong đại-quốc ?
Trương
Nhân Tuấn
Tham-vọng bành-trướng của Trung-Quốc không phải chỉ xuất-hiện mới
đây như nhiều người đă nghĩ. Trên đất liền th́ lịch-sử đă
chứng-minh. Hành-vi bành-trướng của người Hán đă hiện-hữu từ thời
mới lập quốc. «Bành-trướng» để lấy đất và «đồng-hóa» những giống
dân khác là hai nét đặc-thù của người dân Hán. Ngày xưa người Hán
sinh-sống theo lối du-mục trên một mảnh đất nhỏ bé quẩn-quanh đâu
đó ở phía bắc Hoàng-Hà. Nếu không «bành-trướng» thường-xuyên và «đồng-hóa»
liên-tục những sắc dân khác th́ người Hán đă không thể có một đất
nước rộng lớn và dân đông-đảo như ngày hôm nay. Riêng trên biển,
quan-niệm quốc-tế công-pháp về chủ-quyền trên biển chỉ có sau
Thế-Chiến thứ II. Mặc dầu là một «dân-tộc hướng vô lục-địa», tức
chỉ sinh-hoạt với ruộng đất và rất lo sợ khi đụng chạm với sóng to
bể cả, nhưng người Hán cũng đă nhanh-chóng xác-định lănh-hải và
thềm lục-địa nước ḿnh cho thích-hợp với luật quốc-tế về biển năm
1958 và sau đó năm 1982 (Convention de 1958 de Genève và
Convention de Montego Bay 1982). Riêng về chủ-quyền quần-đảo Hoàng-Sa,
Trung-Hoa đă có tranh-chấp với Pháp (đại-diện cho An-Nam là
thuộc-địa) về quần-đảo này từ năm 1909. Việc này cho thấy người
Hán đă có tham-vọng bành-trướng ở biển Đông từ khá lâu. Trên đất
hay dưới biển, mỗi khi có đủ khả-năng hoặc gặp thời-cơ thuận-lợi,
họ sẵn-sàng thỏa-măn tham-vọng của ḿnh. Họ bất-kể luật-lệ quốc-tế.
Trung-Quốc đă chiếm từ tay của Việt-Nam quần-đảo Hoàng-Sa (nhóm
Nguyệt-Thiềm) năm 1974 và một số vị-trí chiến-lược cũng của Việt-Nam
ở tại Trường-Sa, cách xa Hoàng-Sa về phía Nam, vào các năm 1987 và
1988.
|
  |
|
Bản-đồ 1: Bản-đồ chính-khu do Cục Bản đồ TQ phát hành
|
Vừa qua, tháng 7 năm 2006, Nhà-Nước Trung-Cộng đă cho công-bố bộ
bản-đồ [1] chính-thức, xác-định trước quốc-tế lănh-thổ và lănh-hải
của nước này (bản-đồ 1, mang tên
Trung Quốc Chính Khu 中国政区).
Vấn-đề là các bản-đồ nói trên đă chồng lấn lên lănh-thổ hay
lănh-hải của nhiều quốc-gia khác nhau. Việc này đă gây nhiều
phản-đối ở các nước liên-hệ. Một số các nước này thuộc khối ASEAN
(Hiệp-Hội Các Nước Đông-Nam-Á), trong đó có Việt-Nam. Bản-đồ này
dành về cho Trung-Quốc toàn-bộ biển Đông cùng các quần-đảo trong
đó. Trong quá-khứ, Trung-Cộng nhiều lần công-bố các bản-đồ của
nước ḿnh, nhưng có lẽ v́ các sử-gia chưa «thống-nhất tư-tưởng»
được với các nhà chính-trị, hay v́ các sử-gia chưa có (hay chưa
tạo) được bằng-chứng thuyết-phục, nên lần nào các bản-đồ này cũng
thiếu nhiều chi-tiết quan-trọng. Thí-dụ, trước năm 1949 th́ bản-đồ
chính-thức của nước Trung-Hoa không gồm Đài-Loan cũng như không có
« chín cái gạch » dành lấy biển Đông và các đảo của Việt-Nam về
cho họ.
Nhưng công-bố là một việc, liệu Trung-Quốc có đủ khả-năng
chiếm-hữu biển Đông, tức các đảo, thềm lục-địa, tài-nguyên gồm tôm
cá, quặng-mỏ dầu hỏa v.v.. thuộc vùng biển này hay chưa ? Thời-cơ
có thuận-tiện hay không ? Các nước Việt-Nam, Phi-Luật-Tân,
Mă-Lai,
Nam-Dương (bỏ qua Brunei và Đài-Loan) đều không sẵn ḷng để cho
Trung-Cộng thực-hiện ư-đồ của ḿnh. Hay đây chỉ là một thái-độ
thách-đố của Trung-Cộng đối với các nước chung-quanh, là hành-động
« Trung-Quốc hùng-phong đại-quốc » như mục-tiêu của Đặng Tiểu B́nh
? Hành-động thách-thức này ta cũng thấy với trường-hợp Nhật-Bản
với đảo Điếu-Ngư. Nếu thật như vậy th́ thế-hệ lănh-đạo thứ tư của
đảng CS Tàu đă để lộ nanh vuốt hơi sớm, hoàn-toàn trái ngược với
những ǵ mà họ đă tuyên-bố trước quốc-tế.
Đặng Tiểu B́nh, theo cuốn Đặng Tiểu B́nh – từ lư-luận đến
thực-tiễn đă xác-định con đường đi đến «nước lớn» (đại quốc)[2]
của Trung-Quốc. Tiến-tŕnh qua nhiều giai-đoạn, gọi chung là «Trung-Quốc
Ḥa-B́nh Quật-Khởi» hay Trung-Quốc Ḥa-B́nh Quang-Phục. Giang
Trạch Dân sau này bổ-túc thêm khẩu-hiệu «Trung-Quốc ḥa-b́nh
phát-triển». Ta thấy có nhiều thuật-ngữ được họ Đặng thường-xuyên
sử-dụng (và vẫn c̣n được hậu-duệ sử-dụng hôm nay) như :
toàn-cầu-hóa, hợp-tác, phát-triển, đa-cực-hóa v.v.. Hai chữ «Ḥa-B́nh»
được sử-dụng nhiều nhất và trong rất nhiều trường-hợp. Mục-đích «Miêu-luận»,
diễn Nôm là mèo trắng mèo đen mèo nào cũng được miễn bắt được
chuột, của Đặng Tiểu B́nh v́ thế không đơn-thuần ở chỗ mèo và
chuột. Mục-đích tối-thượng của họ Đặng là xây-dựng lại nước
Trung-Quốc đại-cường bằng mọi phương-tiện trong ḥa-b́nh.
Theo Đặng Tiểu B́nh, Trung-Quốc cần phải quật-khởi, phải
quang-phục, tức phải khôi-phục lại những cái ǵ Trung-Quốc đă mất
trong quá-khứ. Trung-Quốc sẽ trở thành một đại-quốc, vượt lên trên
hết các đại-quốc khác. V́ thế Trung-Quốc phải khôi-phục lại
lănh-thổ và ảnh-hưởng chính-trị của ḿnh vào trước năm 1840, tức
vào thời-điểm Trung-Hoa chưa bị phân-liệt do các đại-cường.
Thời-điểm này Trung-Hoa là một đế-quốc hùng-mạnh, đất rộng, dân
đông, tài-nguyên phong-phú không nước nào sánh bằng.
Hai thuật-ngữ «quật-khởi» và «quang-phục» cũng cần hiểu rơ.
Quật-khởi
崛起
là một ḿnh trỗi dậy để vượt lên cao hơn cả (trong chữ quật, lấy
ra bộ sơn, có bộ thi ở trên hai trái núi (sơn) chồng lại
屈,
cũng đọc là quật như quật-cường). Quang-phục
光復,
là khi bị thất-bại mất hết cả, sau khôi-phục lại một cách rực-rỡ
th́ gọi là quang-phục. Thua mất nước, lấy lại được nước cũng gọi
là quang-phục. Hiểu như thế để thấy quang-phục hay quật-khởi trong
ḥa-b́nh không phải là việc đơn-giản, nếu không nói là mâu-thuẫn.
Sau họ Đặng là Giang Trạch Dân, hiện nay là Hồ Cẩm Đào, cả ba
thế-hệ lănh-đạo của Trung-Quốc liên-tục nỗ-lực vận-dụng tài-lực
của nhân-dân Trung-Quốc qua nhiều lănh-vực khác nhau thúc đẩy
Trung-Quốc tiến trên con đường mà Đặng Tiểu B́nh đă vạch : trở
thành một Đại-Quốc[3].
|
 |
|
Bản-đồ 2: Cương vực trung Hoa (trước 1960) |
Lănh-thổ và ảnh-hưởng chính-trị của Trung-Hoa trước 1840 thể-hiện
qua một tấm bản-đồ 2, được sử-dụng trong sách giáo-khoa bậc
trung-học từ năm 1950. So-sánh bản đồ (1) và (2) ta thấy có nhiều
thay-đổi đáng chú-ư. Người viết trở lại vấn-đề này vào phần dưới.
Quan-niệm về đại-quốc được họ Đặng ghi lại như sau : Một đại-quốc
phải hội đủ các điều-kiện:
Thứ nhất, kinh-tế phát-triển hàng đầu thế-giới.
Thứ hai, chiến-lược quân-sự ở địa-vị tiên-phong.
Thứ ba, tuyên-truyền tư-tưởng văn-hóa có thể ảnh-hưởng đến
toàn-cầu.
Thứ tư, có ảnh-hưởng chính-trị lớn nhất thế-giới.
Đối-chiếu các điểm thấy rằng hiện nay kinh-tế Trung-Quốc chưa sánh
được với Hoa-Kỳ, Nhật-Bản và nhiều nước Châu-Âu. Nhưng Trung-Quốc
có một tiềm-năng và một khả-năng toàn-diện. Về kinh-tế tính theo
cách tính ở ghi chú 2 th́ ta thấy Trung-Quốc có thể vượt qua các
nước Châu-Âu trong vài ba năm tới. Khả-năng quân-sự của Trung-Quốc
không thể sánh với Hoa-Kỳ và Nga nhưng đứng hàng thứ 3 trên
thế-giới. Từ trên hai thập-niên, quân-đội Trung-Quốc đă liên-tục
hiện-đại-hóa, quân-lực Trung-Quốc hùng-mạnh và được trang-bị những
thiết-bị có kỹ-thuật tối-tân [4]. Điểm mạnh khác, họ Đặng nhấn
mạnh, xă-hội Trung-Quốc là một xă-hội ổn-định; Trung-Quốc là một
nước Xă-Hội Chủ-Nghĩa lớn nhất, có thể huy-động và tập-trung sức
mạnh toàn dân để vượt qua mọi thử-thách.
Điều này đúng. Ta thấy trong thời-kỳ chiến-tranh lạnh, dân-chúng
Liên-Xô ăn không đủ no mặc không đủ ấm nhưng về lănh-vực khoa-học
và kỹ-thuật quốc-pḥng nước này không thua sút Hoa-Kỳ. Thí-dụ khác,
hiện nay dân Bắc-Hàn không có gạo ăn, có nơi dân phải ăn cỏ, chết
đói, nhưng giới lănh-đạo ngông-cuồng, thách-thức cả thế-giới
tư-bản khi làm bom nguyên-tử và các loại hỏa-tiễn chiến-lược.
Ở các nước độc-tài, việc huy-động tiềm-năng quốc-gia để thực-hiện
một việc ǵ đó, cho dầu rất điên-cuồng, sẽ dễ-dàng hơn rất nhiều ở
các nước dân-chủ.
Họ Đặng cũng cho rằng Trung-Quốc có một nền văn-minh lâu đời. «Nho
học của Trung-Quốc là một nền văn-hóa ưu-tú của loài người, có
ảnh-hưởng ngang với ba tôn-giáo lớn là Cơ-Đốc giáo, Hồi-Giáo và
Phật-Giáo, c̣n là cơ-sở văn-hóa của quan-niệm giá-trị Đông-Á có
ảnh-hưởng trên thế-giới». Điểm khác, «Trung-Quốc đang là nước đang
phát-triển lớn nhất, là nước thành-công nhất chuyển từ nền kinh-tế
kế-hoạch sang nền kinh-tế thị-trường». Đặng Tiểu B́nh cho rằng: «Những
điểm đó khiếnTrung-Quốc có ảnh-hưởng chính-trị và tư-tưởng văn-hóa
mà các cường-quốc khác không có».
Tuy-nhiên, đến nay Trung-Quốc vẫn chưa phải là đại-cường.
Con đường đi lên «đại quốc» của Trung-Quốc được Đặng Tiểu B́nh
khẳng-định là sẽ «không theo đường «bá quyền thực-dân» của
Bồ-Đào-Nha hay Ḥa-Lan ở thế-kỷ thứ 16 và 17. Con đường của
Trung-Quốc cũng không theo bá-quyền lănh-đạo tự-do kiểu Mỹ hay
bá-quyền xă-hội chủ-nghĩa của Liên-Xô, đặc-biệt là sự thống-nhất
bá-quyền quân-sự với bá-quyền h́nh-thái ư thức».
Họ Đặng kết-luận:
«Mục-tiêu của Trung-Quốc là trở thành một nước nêu gương
phát-triển toàn-diện, một nước sáng-lập tự-do dân-chủ xă-hội
chủ-nghĩa.
« Thứ nhất, làm một nước ḥa-b́nh và phát-triển, không bành-trướng
xâm-lược, không cướp đoạt đối với bên ngoài, dựa vào sức ḿnh và
lớn mạnh.
« Thứ hai, sáng-lập tự-do dân chủ xă-hội chủ-nghĩa, sáng-tạo
văn-hóa, sáng-tạo văn-minh nước lớn xă-hội chủ-nghĩa kiểu mới.
« Thứ ba, không yêu-cầu người khác tuân-theo y-nguyên mô-h́nh
phát-triển của ḿnh …
« Thứ tư, Trung-Quốc cần có cống-hiến đáng kể đối với nhân-loại,
nhất là cần chủ-tŕ công-bằng, chủ-tŕ chính-nghĩa, ra sức giúp-đỡ
các nước vừa và nhỏ phát-triển, không đ̣i hỏi bất cứ điều kiện ǵ.
»
Nói là một việc, có giữ được lời nói hay không là một việc khác.
Ta nhận thấy lănh-đạo Trung-Quốc, từ hập niên 80 đến nay, liên-tục
trên 20 năm, đă gia-tăng ngân-sách quốc-pḥng bằng những con số
chóng mặt. Từ 6,6 tỉ đô-la năm 1992 lên đến 11 tỉ năm 1998 và 20
tỉ năm 2002. Trong 10 năm tăng trên 300%. Đây là những con số
chính-thức do nhà nước Trung-Cộng đưa ra. Thực-tế th́ con số này
lớn hơn rất nhiều. Theo nghiên-cứu [5] của các học-viện uy-tín cho
biết th́ năm 1992 con số có thể từ 20 đến 30 tỉ, năm 1998 từ 30
đến 40 tỉ và năm 2001 là 60 đến 65 tỉ, chiếm khoảng 5% PNB.
Ngân-sách cho quốc-pḥng năm 2006 có thể lên đến trên 100 tỉ đô-la.
Việc gia-tăng ngân-sách quốc-pḥng đều-đặng trung-b́nh 15-20% mỗi
năm của Trung-Quốc đă làm cho Hoa-Kỳ lo-ngại. Bộ-trưởng Ngoại-Giao
Condoleeza Rice đă chất-vấn việc này và cho rằng Trung-Quốc không
có lư-do nào để gia-tăng ngân-sách quốc-pḥng. Đây là những con số
khổng-lồ, chúng tố-cáo Trung-Quốc đang chuẩn-bị chiến-tranh. Trong
vài năm tới Trung-Quốc sẽ có khả-năng tranh bá với Hoa-Kỳ.
Như thế, Trung-Quốc «quật-khởi» hay «quang-phục» bằng ḥa-b́nh hay
bằng chiến-tranh ?
Để t́m câu trả lời, trở lại 2 tấm bản-đồ đính kèm.
Nghiên-cứu bản-đồ 2, tức bản-đồ xác-định lănh-thổ và ảnh-hưởng
chính-trị của Trung-Hoa trước năm 1840. Bản-đồ này có trong
chương-tŕnh trung-học của bộ giáo-dục Trung-Quốc từ năm 1950. So-sánh
với bản-đồ hiện nay ta thấy Trung-Quốc có 21 vùng đất trước 1840
thuộc Trung-Hoa hay thần-phục Trung-Hoa (ghi theo A,B,C…), đó là:
A : đảo Sakhaline, nhường cho Nga và Nhật.
B : Vùng đất Đông-Bắc, phía Đông sông Thương (Amour), nhượng cho
Nga theo hiệp-ước Bắc-Kinh năm 1860.
C : Vùng đất Đông-Bắc, phía Tây sông Thương, nhượng cho Nga năm
1858 theo hiệp-ước Aigun.
D : Mông-Cổ, tuyên-bố độc-lập năm 1924.
E : Cộng-Ḥa Touva, tuyên-bố độc-lập năm 1921, sau đó sát nhập vào
Liên-Xô năm 1944.
F : Vùng đất Tây-Bắc, nhượng cho Nga qua hiệp-ước Tacheng 1864.
G :
Pamir,
bị Nga và Anh bí-mật lấy chia với nhau năm 1896.
H : Népal, độc-lập năm 1898, sau đó trở thành thuộc-địa Anh.
J :
Sikkim,
Anh chiếm năm 1889.
K : Bhoutan, độc-lập năm 1865, sau đó trở thành thuộc-địa Anh.
L : Vùng biên-giới Tây-Bắc, bị Anh chiếm.
M :
Assam,
Miến-Điện nhượng cho Anh năm 1826.
N : Miến-Điện, thuộc-địa Anh năm 1886.
O : Đảo Andaman, thuộc-địa Anh
P : Thái-Lan, độc-lập nhưng dưới sự kiểm-soát của Anh và Pháp năm
1904.
Q : Đông-Dương, thuộc-địa Pháp năm 1885.
R : Mă-Lai (lục-địa), thuộc-địa Anh năm 1985.
S : Quần-đảo Sulu, thuộc-địa Anh năm 1895.
T : ĐàI-Loan, nhượng cho Nhật qua hiệp-ước Simonoseki năm 1895.
U : Quần-đảo Điếu-Ngư, Nhật chiếm năm 1910.
V : Triều-Tiên, độc-lập năm 1895, trở thành thuộc-địa Nhật năm
1910.
Đối-chiếu với bản-đồ vừa công-bố, ta thấy:
Đối với Nga: tất cả các vùng đất đă bị nhượng cho Nga qua các
hiệp-ước bất-b́nh-đẳng đều vĩnh-viễn thuộc về Nga. Các vùng đất
cho là của Trung-Quốc trong bản-đồ năm 1950 nay đă không c̣n thấy
trên bản-đồ mới.
Trung-Quốc và Nga vừa kư kết các hiệp-ước phân-định biên-giới.
Trung-Quốc công-nhận hậu-quả các hiệp-ước bất-b́nh-đẳng mà các nhà
lănh-đạo trước như Mao Trạch Đông, Hoa Quốc Phong, Đặng Tiểu B́nh…
đă không công nhận. Trung-Quốc đă từ bỏ chủ-quyền ở đảo Sakhaline,
hai vùng đất phía Đông-Bắc Trung-Hoa (phía Đông và Tây sông Thương).
Diện-tích hai vùng này lên đến trên 1 triệu cây-số vuông. Riêng
vùng Tây-Bắc, là vùng đất nhượng cho Nga qua hiệp-ước Tacheng,
rộng khoảng 900 ngàn cây số vuông, hiện nay thuộc các cộng-ḥa
độc-lập Kazakhstan, Kirghizistan và Ouzbékistan. Trung-Quốc vừa
phân-định lại biên-giới với các nước này. Kết quả Trung-Quốc lấy
lại vài chục ngàn cây-số vuông (tức bỏ mất trên 800 ngàn cây-số
vuông). Vùng Pamir, Anh-quốc công-nhận chủ-quyền của Nga tại đây
năm 1896 nhưng Trung-Quốc không nh́n-nhận. Hiện nay đất này thuộc
Nga nhưng không biết thái-độ của Trung-Quốc như thế nào.
Nh́n chung, đối với Nga th́ ta thấy Trung-Quốc đă có những
nhượng-bộ rất lớn, kể cả đối với các nước cộng-ḥa Trung-Á vừa
độc-lập. Nguyên-nhân v́ Nga mạnh và Trung-Quốc cần Nga để hiện-đại
quân-đội. Đổi lại việc nhượng bộ này Nga đă dễ-dàng bán cho
Trung-Quốc những chiến-cụ cần-thiết. Hai bên đă có kư-kết những
hiệp-ước liên-quan về kinh-tế và quân-sự quan-trọng. Sự nhượng-bộ
của Trung-Quốc đối với các nước Trung-Á cũng dễ-dàng giải-thích :
Trung-Quốc cần dầu hỏa của các nước này, mặt khác, ảnh-hưởng của
Hoa-Kỳ vừa mới đặt tại đây làm Trung-Quốc lo-ngại. Nhờ ở nhượng-bộ
về biên-giới mà Trung-Quốc đă dễ-dàng đặt đường ống dẫn dầu cũng
như kư-kết được nhiều hiệp-ước hợp-tác kinh-tế quan-trọng.
Đối với Ấn-Độ th́ Trung-Quốc vẫn c̣n đang thương-lượng để
phân-định lại biên-giới. Hai nước này đă từng chạm súng năm 1960
v́ tranh-chấp lănh-thổ ở vùng Cachemire. Hiện nay hai bên c̣n
tranh-chấp ở các vùng: Nepal (tranh dành ảnh-hưởng),
Sikkim
(trở thành tiểu-bang của Ấn-Độ năm 1975), Bhoutan (thuộc ảnh-hưởng
Ấn-Độ từ năm 1949), vùng biên-giới giữ Ấn-Độ và Tây-Tạng (được xác
định qua lằn ranh Mac Mahon mà Trung-Quốc phủ-nhận) và vùng Assam.
Việc thương-thuyết của hai bên bắt đầu từ năm 2003 và hiện nay th́
bước qua ṿng thương-thuyết lần thứ 8 (25 đến 27 tháng 6 năm
2006). Trên bản-đồ hiện nay không thấy ghi rơ-rệt chủ-quyền các
vùng tranh-chấp.
Đối với các nước gọi là “phiên-bang” của Trung-Hoa ngày xưa như
Thái-Lan, Miến-Điện, Lào …. Th́ khuynh-hướng rất tốt đẹp cho
Trung-Quốc. Đối với Thái-Lan, Miến-Điện, Trung-Quốc đă kéo được
hai nước này vào ṿng ảnh-hưởng của ḿnh. Miến-Điện đă cho
Trung-Quốc sử-dụng hải-cảng, cho đặt ống dẫn dầu từ Ấn-Độ-Dương
lên Vân-Nam và hai nước này đă có những hiệp-ước về kinh-tế và
quân-sự quan-trọng. Riêng Thái-Lan, dự án đào kinh nối vịnh
Bengale và vịnh Thái-Lan của Trung-Quốc vẫn c̣n thời-sự. Con kinh
này sẽ giúp Trung-Quốc không qua eo biển Malacca (chịu sự
kiểm-soát của Mă-Lai, Nam-Dương và Tân-Gia-Ba nhưng lực-lượng của
Anh và Hoa-Kỳ được quyền đóng tại Tân-Gia-Ba) cũng như eo biển
Sonde của Nam-Dương. Nếu con kinh này được đào th́ Trung-Quốc sẽ
ít lo-ngại về an-toàn năng-lượng cho sự phát-triển của ḿnh. Phía
Tây Trung-Quốc nhờ các ống dẫn từ Trung-Á, Phía Nam th́ nhờ ống
dẫn từ Miến-Điện; việc này sẽ giúp cho Trung-Quốc giải-quyết sự
tŕ-trệ các vùng này v́ thiếu hạ-tầng cơ-sở về giao-thông.
Đối với các nước Nam-Dương, Mă-Lai, Phi-Luật-Tân th́ Trung-Quốc
không hề tương-nhượng. Bản-đồ mà Trung-Quốc vừa công-bố đă
chồng-lấn lên lănh-hải của các nước này. Nh́n chung th́ kinh-tế
của hai nước quan-trọng là Nam-Dương và Mă-Lai đều do người Hoa
nắm giữ.
Đối với Nhật-Bản, vấn đề tranh-chấp hải-phận và chủ-quyền các đảo
Điếu-Ngư (Senkaku) ngày càng gay-gắt. Trung-Quốc đă đặt dàn khoan
dầu tại vùng mà Nhật cho là sẽ hút dầu của họ. Trên bản-đồ vừa
công-bố cũng không ghi rơ v́ đảo này rất nhỏ.
Riêng đối với Việt-Nam, chậm và chắc, Trung-Quốc đă kéo nước này
vào ṿng ảnh-hưởng của ḿnh như trước năm 1858. Lối đối-xử giữa
lănh-đạo hai nước, từ thời Đỗ Mười đến nay, có tương-quan thần-tử
với thiên-triều. Trung-Quốc muốn điều chi th́ lănh-đạo VN mau-mắn
chầu-ứng. Hiệp-Ước phân-định Vịnh Bắc-Việt lănh-đạo VN cống cho
Tàu trên 11 ngàn cây số vuông. Hiệp-ước phân-định biên-giới trên
đất liền th́ lănh-đạo VN cống cho thiên-tử ½ thác Bản-Giốc, 300m
đất trước cổng Nam-Quan. Những vùng đất khác bị triều-cống th́
chưa được biết. Thiên-tử muốn Nguyễn Tấn Dũng lên làm thủ-tướng
th́ trung-ương đảng CSVN lẹ-làng tuân chiếu-chỉ. Vân vân và vân
vân. Đổi lại, Trung-Quốc hứa-hẹn nhiều thứ, như sẽ đầu-tư ở VN,
đến năm 2006, sẽ là 5 tỉ đô-la. Nhưng thực-tế, đến năm nay (tin
BBC, tháng 7-2006) con số này chỉ có 650 triệu. Trung-Quốc cho
lănh-đạo VN ăn bánh vẽ mà họ không biết.
Theo Bản-đồ mà Trung-Quốc vừa công-bố th́ Việt-Nam thiệt-hại nhiều
nhất. Hoàng-Sa, Trường-Sa và phần lớn hải-phận Việt-Nam đă bị
Trung-Quốc dành lấn. Ngoại-GiaoViệt-Nam chỉ phản-ứng cho có lệ v́
sợ dân-chúng phản-đối.
V́ thế “ḥa b́nh” của Trung-Quốc trong thuyết “Trung-Quốc Ḥa-B́nh
Quật-Khởi” là ḥa b́nh với nước lớn như Nga hay là các nước nằm
trên “dây chuổi chiến-lược”, cần-thiết cho họ như Thái-Lan,
Miến-Điện. Nhưng sẽ không “ḥa-b́nh” với các nước yếu hơn như Việt-Nam,
Mă-Lai, Nam-Dương và Phi-Luật-Tân.
Nỗ-lực hiện-đại hóa quân-đội liên-tục từ hơn hai thập niên vừa qua
của Trung-Quốc người ta tưởng rằng nó nhắm về Đài-Loan. Chắc-chắn
Đài-Loan là cái cớ để Trung-Quốc gia-tăng ngân-sách quốc-pḥng của
ḿnh. Nhưng chưa chắc Đài-Loan là một mục-tiêu quân-sự. Hai bên,
đảo và lục-địa, có quá nhiều mẫu-số chung để gây xung-đột. Phe đ̣i
độc-lập ở Đài-Loan, theo một cuộc thăm ḍ, không quá 25% và con số
này ngày càng xuống thấp. Trong lúc sắc dân Hẹ (Hakka, khoảng 12%
đến 15%, Đặng Tiểu B́nh thuộc sắc dân này) th́ đ̣i thống-nhất. Hai
bên cùng có một chủ-trương : một nước Trung-Quốc. Hoa-Kỳ cũng
nh́n-nhận thực-tế này và thường-xuyên ra thông-báo nhằm trấn-an
Bắc-Kinh. Trong khi kinh-tế của Trung-Quốc ngày thêm phát-triển đă
quyến-rũ nhiều tầng-lớp dân-chúng Đài-Loan, ngoài kỹ-nghệ tin-học,
nay là nông-dân, qua vụ băi bỏ thuế-quan. Trao đổi về kinh-tế hai
bên ngày càng quan-trọng, khó mà h́nh-dung một cuộc chiến sẽ xảy
ra, mặc dầu tổng-số ngân-sách quốc-pḥng hai bên có thể lên trên
200 tỉ đô-la.
Rơ-rệt thái-độ công-bố bản-đồ chính-thức của Trung-Quốc là thái-độ
“hùng phong đại quốc”. Đối với Việt-Nam, có người nói rằng: anh cả
hay anh hai, hai anh đều là anh cả. Anh cả là Hoa-Kỳ, anh hai là
Trung-Quốc (lư ra là anh ba, anh ba Tàu, anh hai là Nga). Đó là
thái-độ công-nhận vị-trí đại-quốc của Tàu. Trung-Quốc có xứng-đáng
chưa?
Xứng-đáng hay chưa th́ không quan-trọng, thái-độ “sợ” Tàu hay
không mới là quan-trọng. Có nhiều nước nhỏ nhưng không sợ nước lớn.
Bắc-Hàn và Hoa-Kỳ là một thí-dụ. Nếu anh đánh tôi, tôi chết th́
anh cũng bị thương nặng. Nếu Việt-Nam nói được với Tàu điều này
th́ Tàu sẽ không dám đụng đến một tất đất của Việt-Nam. Nhưng Việt-Nam
có khả-năng răn-đe nào để nói với Trung-Quốc được như vậy? Việt-Nam
không có khả-năng ǵ hết. Trung-Quốc biết rất rơ điều này cho nên
họ lấn-lướt mọi mặt với VN, điển-h́nh trong vấn-đề biên-giới.
Chắc-chắn Việt-Nam vẫn c̣n một phương-pháp để giữ vẹn-toàn
lănh-thổ cũng như những quyền-lợi khác. Nhưng t́nh-trạng chính-trị
VN vẫn không thay đổi, thậm-chí ngày càng tồi-tệ hơn. Càng để lâu,
càng kéo dài t́nh-trạng này th́ Trung-Quốc càng có lợi, Việt-Nam
sẽ vô-phương cứu-văn.
Chắc-chắn Việt-Nam vẫn c̣n một phương-pháp để giữ vẹn-toàn
lănh-thổ cũng như những quyền-lợi khác. Nhưng t́nh-trạng chính-trị
VN vẫn không thay đổi, thậm-chí ngày càng tồi-tệ hơn. Càng để lâu,
càng kéo dài t́nh-trạng này th́ Trung-Quốc càng có lợi, Việt-Nam
sẽ vô-phương cứu-văn.
Trương Nhân Tuấn
Sách tham-khảo:
Jean Pierre Cabestan, La Chine en Quête de ses Frontières.
NXB Sciences PO, Septembre 2005.
Jean Pierre Cabestan, Chine-Taiwan La guerre est-elle
concevable ?. Bibliothèque Stratégique, NXB Economia, Octobre
2003.
Jean-Vincent Brisset, La Chine, une puissance encerclé ?
NXB Barnéoud, mai 2002.
Trần Tiên Khuê, Đặng Tiểu B́nh từ lư-luận đến thực-tiễn.
NXB Khoa-Học Xă Hội, quí II năm 2004.
[1] Bộ bản-đồ này là các bản-đồ : Trung-Quốc Chính Khu中国政区,
Trung-Quốc Địa Thế
中国地势,
Trung-Quốc Thủy Hệ中国水系
và Trung Quốc Giao Thông
中国交通.
[2] Trung-Quốc gọi « đại-quốc » để chỉ cho « grande puissance »
gọi theo Tây-Phương, tức « đại-cường » theo thói quen của người
Việt.
[3] Cho đến nay, nếu tính từ sau vụ « học Việt-Nam một bài học »
1979, Trung-Quốc đă có những phát-triển nhảy vọt về mọi mặt nhưng
không đồng-đều. Nếu theo đà tiến về kinh-tế hiện nay và chỉ tính
các tỉnh phát-triển ven biển, chỉ đến năm 2010 th́ Trung-Quốc có
khoảng 600 triệu người có mức sống tương-đương với dân Nam-Hàn,
tức vào khoảng 10.000 $US/đầu người. Trong khi đó các tỉnh trong
lục-địa và 700 triệu dân c̣n lại, th́ không phát triển, hay phát
triển rất chậm. B́nh-quân đầu người hiện nay ở các vùng này vẫn
chỉ vào khoảng dưới 500 $US/người, tức chỉ bằng 1/5, nhiều khi
1/10 dân thuộc các tỉnh phát-triển vùng ven biển. Nếu h́nh-dung
một nước có kinh-tế phát-triển với tầm cỡ Đại-Hàn, có dân-số đông
600 triệu người, th́ chắc-chắn đây phải là một « đại-cường » đúng
nghĩa. Trong vài năm nữa Trung-Quốc sẽ là nước đó.
[4] Một điểm quan-trọng nữa của Trung-Quốc ít được các nhà
nghiên-cứu nhắc đến là khả-năng nguyên-tử của Trung-Quốc đồng-thời
chiến-lược răn-đe nguyên-tử của nước này. Theo bản báo-cáo của Cox
Barreur công bố ngày 3 janvier 1999 cho thấy Trung-Quốc đă đánh
cắp những tài-liệu mật về kỹ-thuật làm bom nhiệt-hạch. Bản báo-cáo
tố-cáo Trung-Cộng đánh cắp các tài-liệu này từ những năm cuối của
thập-niên 1970. Nhưng vụ đánh cáp tài-liệu mật tương-tụ cũng đă
diễn ra vào thập-niên 1990 và chắc-chắn nó vẫn c̣n diễn ra đến
ngàyhôm nay. Nhờ vào kỹ-thuật đánh cắp này Trung-Hoa đă có loại
bom nhiệt-hạch (thermonucléaire) giống y như kiểu của Hoa-Kỳ.
Ngoài ra, rất có thể Trung-Quốc đă thành-công trong việc chế-tạo
các loại đầu đạn « đa đầu ». Trong lănh-vực vũ-khí hóa-học và
sinh-học, chắc-chắc Trung-Quốc đă có những tiến-triển nhưng hiện
nay không ai biết được khả-năng thực sự của họ.
Về chiến-lược răn-đe nguyên-tử của Trung-Quốc thi nước này áp-dụng
lối « không làm sáng tỏ » của Pháp-quốc, tức để ai muốn nghĩ sao
thi nghĩ. Tuy nhiên, gần đây, một tướng-lănh cao-cấp của
Trung-Quốc có tuyên-bố là Trung-Quốc sẵn-sàng bắn sang Hoa-Kỳ nếu
nước này can-thiệp vào Đài-Loan khi chiến-tranh xảy ra. Điểu này
làm ta nhớ lại những lời tuyên bố của Mao Trạch Đông thang thập
niên 60. Ông này cho rằng Trung-Quốc không sợ chiến-tranh
nguyên-tử với Hoa-Kỳ. Họ Mao nói như sau : "le chantage
atomique des États-Unis ne saurait pas intimider le peuple chinois.
Dans notre pays, il y a six cents millions d’habitants et neuf
millions six cent mille kilomètres carrés de territoire. Les
bombes atomiques américaines ne pourront pas éliminer les Chinois.
Si les États-Unis déclenchent la troisième guerre mondiale, (...)
il en résultera l’élimination de la classe dirigeante des
États-Unis, de la Grande Bretagne et d’autres pays complices. La
plupart des régions du monde deviendront des pays dominés par le
communisme. L’issue de la guerre mondiale ne sera pas bénéfique
aux belligérants, mais aux communistes et aux peuples
révolutionnaires du monde".
Trong sách Vive la pensée de Mao Zedong in năm 1969 ghi lại
tuyên-bố của Mao năm 1958 : "Plusieurs fois dans l’histoire
chinoise, la population a été à demi éliminée. À l’époque de
l’empereur Wudi de la dynastie Han (de 206 av. J.-C. à 220 ap.
J.-C.), la population était de cinquante millions d’habitants. En
raison des guerres pendant les Trois Royaumes (220-280) , la
dynastie des deux Jin (265 - 420) et les dynasties du Sud et du
Nord (420 - 581), il ne restait plus qu’une population d’une
dizaine de millions d’habitants. Au début de la dynastie Tang
(618-907), la population était de vingt millions de Chinois. à
l’époque de l’empereur Xuanzong, elle atteignait le chiffre de
cinquante millions. Après la rébellion d’An Lushan, pendant la
période des Cinq Dynasties (907-960), la Chine était éclatée entre
plusieurs États, jusqu’à la dynastie Song (960-1279), où elle a
été réunifiée. Il restait seulement un peu plus de dix millions
d’habitants. À mon avis, les armes modernes ne sont pas plus
puissantes que le sabre de Guan Yunchang. (...) Peu d’hommes sont
morts pendant les deux guerres mondiales. Dix millions sont morts
pendant la première, vingt millions pendant la seconde. Quant à
nous, nous avons eu quarante millions de morts plusieurs fois dans
notre histoire. Voyez ! Quelle puissance ont les sabres ! On n’a
pas encore d’expérience sur la guerre atomique. On ne peut pas
savoir combien de morts il peut y avoir suite à la guerre
nucléaire. On peut imaginer qu’il reste la moitié ou le tiers de
la population. C’est-à-dire neuf cents millions d’hommes sur les
deux milliards neuf cents millions. Après quelques programmes
quinquennaux, on pourra se redresser. Or, le capitalisme sera
complètement éliminé et on aura gagné la paix durable. Ce n’est
pas une mauvaise chose". Trích : « LA CONCEPTION CHINOISE DE
LA DISSUASION NUCLÉAIRE À L’ÉPOQUE DE MAO ZEDONG (avant 1978) »
của Chen Shi Nin. [http://www.stratisc.org/strat_063_CHENSHI.html]
Ta nh́n nhận rằng nhiều lần trong lịch-sử dân-tộc Hoa đă bị
tiêu-diệt phân nửa. Mỗi lần diễn ra là mỗi lần Trung-Quốc «
quang-phục » lại và lớn mạnh hơn. Ngay cả ngày hôm nay, nếu
chiến-tranh tiêu diệt ½ dân-số Trung-Quốc, việc này chưa chắc làm
cho Trung-Quốc bị suy-thoái. Nhưng ở vào trường-hợp Hoa-Kỳ, nếu
nước này bị tiêu-diệt ½ (hay 1/5) dân-số th́ chắc-chắn nước này sẽ
bị gục, sẽ không phát-triển lên được.
[5] International Institute of Strategic Studies, The Military
Balance, 2002-2003. London, Oxford University Press.
__._,_.___


[BANTIN]