|
QUẢNG là
rộng rãi, NAM là phương Nam, đối diện phương Bắc. Vậy
QUẢNG NAM nghĩa là mở rộng về phương Nam. Ðịa danh
Quảng-Nam biểu-dương một chiến-lược quyết-định vô cùng
quan yếu của dân tộc Việt-Nam.
Quảng-Nam
phản ảnh trung thực tiến trình lịch sử Nam tiến không
ngừng suốt mấy mươi thế kỷ, phát xuất từ Ðộng Ðình hồ,
phía nam sông Dương-Tử cho đến ngày nay, của dân-tộc
Việt-Nam đâ phát triển, tiến hóa và sinh tồn, hầu góp
mặt xứng đáng và chính danh cùng những dân tộc anh em
vùng Ðông Nam Á nói riêng và những dân tộc bạn bè
trên hoàn vũ nói chung.
A. Từ
Ðạo QUẢNG NAM đến Tỉnh QUẢNG NAM (1301-1831)
Thoạt tiên,
năm 1306, theo lời giao ước gã Công Chúa Huyền Trân
của Thái Thượng Hoàng Trần Nhân Tông (năm 1301) trong
dịp viếng thăm hữu nghị Việt Nam Vua ChiêmThành là
Chế Mân dâng hai châu: châu Ô và châu Rí làm sính
lễ để xin cưới Công Chúa Huyền Trân.
Năm 1307,
sau nghi lễ tiễn đưa Công Chúa Huyền Trân về Chiêm
Quốc,Vua Trần Nhân Tông tiếp thu hai châu Ô và Rí, di
dân khẩn hoang và đổi tên là Thuận Châu (bắc Hải Vân
quan) và Hóa Châu (nam Hải Vân quan). Dân Chiêm Thành
bỏ đất lui về phíi Nam.
Năm 1402,
sau khi tiếm ngôi nhà Trần, Hồ quý Ly chia Hóa châu,
gồm đất Chiêm Ðộng, Cổ Lũy, lập thành 4 châu là Thăng
Châu (Thăng Bình và phía Bắc), Hóa Châu, Tư Châu và
Nghi Châu (Quảng Ngãi và phía Nam), di dân canh tác và
đặt quan An Phủ Sứ cai trị. Dân ChiêmThành lại bỏ đất
lui dần về phía Nam.
Năm 1470, Hồng Ðức nguyên niên, Vua Lê
Thánh Tông sau trận đại thắng bắt được Vua Chiêm Thành
là Trà Toàn, triệt để khai thác sự chia rẽ cuả hoàng
tộc Chiêm Thành, chia Chiêm Thành ra làm ba nước nhỏ,
phong ba Vua: Chiêm Thành, Hóa Anh và Nam Phan, chủ
đích làm suy yếu đối phương. Lại lấy Hóa Châu gồm đất
Chiêm Ðộng, Ðồ Bàn, Ðại Chiêm và Cổ Lũy lập thành đạo
Quảng Nam (địa danh Quảng Nam bắt đầu xuất hiện trên
lịch sử Việt Nam từ đây ). Ðạo Quảng Nam gồm có 3 phủ
và 9 huyện (tiền thân của Nam, Ngải, Bình, Phú sau này)
và đặt quan cai trị .
Năm 1570,
Chúa Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Ðạo Quảng Nam, truyền
nối con cháu (Nguyễn-Phúc Tần, Nguyễn Phúc Chu,.......)
lấn dần vào Nam, xâm chiếm trọn vẹn nước Chiêm Thành,
lập phủ Diên Khánh (Khánh Hoà), phủ Bình Thuận, huyện
Yên Phúc và huyện Hòa Ða (Bình Thuận).
Năm 1744,
Chúa Vũ Vương Nguyặn Phúc Khoát, sau khi chiếm được Hà
Tiên, Rạch Giá, chia nước ra làm 12 dinh: Chính dinh (Thừa
Thiên), Cựu dinh (Áí Tử), Quảng Bình dinh, Vũ Xá dinh,
Bố Chính dinh, Quảng Nam dinh (Quảng Ngải phủ và Qui
Nhơn phủ), Phú Yên dinh, Bình Khang dinh, Bình Thuận
dinh (đất Chiêm Thành), Trấn Biên dinh, Phiên Trấn
dinh, Long Hồ dinh (đất Chân Lạp). Ðồng thờì lấy Hội -
An làm cửa biển duy nhất buôn bán với nước ngoài, nên
người ngoại quốc thường gọi là Quảng Nam Quốc.
Năm 1806
Vua Gia Long, sau khi thống nhất được đất nước, chia
nước ra làm 23 trấn. Bắc Thành có 11 trấn, Gia Ðịnh
thành có 5 trấn, miền trung có 7 trấn, trong đó có
Quảng Ngải trấn, Bình Ðịnh trấn và Phú Yên trấn; và 4
doanh, thuộc đất kinh kỳ: Trực Lệ, Quảng Ðức doanh (Thừa
Thiên), Quảng Trị doanh, Quảng Bình doanh và Quảng Nam
doanh. Như thế Ðạo Quảng Nam hay Quảng Nam doanh bắt
đầu từ đây chính thức chia thành 3 trấn: Quảng Ngải
trấn, Bình Ðịnh trấn, Phú Yên trấn và 1 doanh là Quảng
Nam doanh.
Năm
1831,Vua Minh Mạng đổi trấn và doanh thành tỉnh và đặt
chứcTổng Ðốc, Tuần Phủ, Bố Chánh Sứ, Án Sát, Lãnh Binh
trông coi việc cai trị. Và địa danh Tỉnh QUẢNG NAM
có từ đây.
B. Tỉnh QUẢNG
NAM
1. Thiên nhiên.
Tỉnh Quảng
Nam, phiá Bắc giáp tỉnh Thừa Thiên tại Hải Vân quan,
phía nam giáp tỉnh Quảng Ngãi tại núi Trà My và phủ
Bình Sơn, phía Ðông giáp biển Nam Hải, phiá Tây giáp
dẫy Trường- Sơn. Diện tích 12,000 cây số vuông (7,500
dặm vuông). Dân số 2,500,000. Khí hậu nhiệt đới, chịu
ảnh hưởng trực tiếp của gió mùa.Từ tháng 5 đến tháng
10, gió tây bắc đông nam (gió nồm) mang hơi nước từ
vùng Thái Lan vào, nhưng bị dẫy Trường Sơn ngăn lại,
nên không mưa (chỉ mưa ở miền nam, miền đồng bằng
sông Cửu Long) và ngược lại, mang hơi nóng của vùng
nuí vôi Ðồng Chum của Ai Lao qua (gió lào), nên rất oi
bức...Từ tháng 11 đến tháng 4, gió đông bắc tây nam (gió
bấc) mang gió buốt từ phương bắc,cọng thêm hơi nước
biển Nam Hải xuống, bị dãy Trường-Sơn ngăn lại, nên
mưa nhiều,gió lạnh và lụt lội liên miên, hết đợt này
đến đợt khác, gây thiệt hại muà màng, nhưng đồng thời
cũng mang phù sa tái bồi, làm phì nhiêu thêm cho miền
đồng bằng không ít. Dãy Trường Sơn, đoạn chạy dài suốt
từ bắc vào nam, thuộc tỉnh Quảng Nam, núi khá cao từ
1000m đến 3000m, sườn phiá đông dựng đứng, vươn ra
nhiều nhánh núi dọc ngang chạy ra biển, tạo thành
nhiều thung lủng lớn nhỏ phì nhiêu và hiểm yếu, mà
những phong trào nhân dân nổi dậy đã chọn làm căn cứ
điạ Tân Tỉnh chống Pháp, như phong trào Văn Thân cuả
cụ Tán- Thừa (Trần Thưà),và phong trào Cần Vương cuả
cụ Hường Hiệu (Nguyễn Duy Hiệu) và gần đây cuộc ly
khai Nam Ngải của Việt Nam Quốc Dân Ðảng chọn làm liên
khu chiến Xuyên Sơn (Duy Xuyên-Quế Sơn) và Kỳ Phước
(Tam Kỳ-Tiên Phước) chống chế độ độc tài gia đình trả
Ngô-Ðình Diệm năm 1955-1956.
Dọc theo
các thung lủng ấy là các nguồn sông (nguồn sông Con,
nguồn sông Cái, nguồn sông Dak- Mi, nguồn sông Tranh,...)
chảy hợp lại thành các sông lớn nhỏ (sông Cẩm Lệ, sông
Vu Gia, sông Thu Bồn, sông Tam Kỳ, sông Trường Giang,...)
nước chảy xiết, nhiều ghềnh thác, hay thay đổi dòng
không thuận tiện giao thông thủy lộ lắm. Ðường giao
thông Quảng Nam chưa được phát triển đúng mức cần
thiết, ngoài thiết lộ xuyên Việt, và quốc lộ 1, chạy
suốt từ bắc vào nam, dọc theo duyên hảỉ có mấy nhánh
tỉnh lộ chạy ngang, dẩn vào cxc quận,huyện miền sơn
cước Trường Sơn đông, đa số chưa được tráng nhựa và
cầu cống hiện đại. Ðặc biệt là sát cửa biển, giữa Cửa
Ðà Nẵng và Cửa Ðại (Hội An), đột khởi một cụm núi, tục
gọi là Ngủ Hành Sơn (Kim,Mộc,Thủy,Hoả,Thổ) hay núi Non
Nước (Sơn Thủy hữu tình) có chùa (chùa Tam Thai,chùa
Linh Ứng), có động (động Tăng Chơn, động Huyền Thông)
toàn đa' cẩm thạch và đá hoa cương.
2. Nhân
văn:
Mật độ dân
số Quảng Nam tương đối cao so với các tỉnh lân cận (Thừa
Thiên,Quảng Ngải,... ) định cư tại vùng đồng bằng,
hầu hết là người Việt, gốc Bắc Hà và bắc trung Việt (Thanh
Hóa, Nghệ Tỉnh,...),Vì lý do chính trị hay kinh tế,
theo chân các chúa Nguyễn, nối tiếp từ đời này qua đời
khác, di dân vào khẩn hoang lập nghiệp, cộng thêm một
số người Chàm, Việt gốc Chiêm-Thành còn sót lại, ở
rải rác chung quanh vùng tháp cũ, thành xưa (Phong Lệ,
Trà Kiệu, Mỹ Sơn), một số người Minh Hương (Việt gốc
Hoa) và Hoa kiều, Ấn kiều, Nhật kiều, Pháp kiều ở tập
trung vào các thị xã Ðà Nẵng, Hội An, Tam Kỳ. Còn miền
thượng du sát chân núi dọc theo dãy Trường-Sơn men
theo các khe, các nguồn,thì người thiểu số thuộc giống
dân Bana, Stiêng,...sinh sống theo lối du canh, du cư,
săn bắn, đốt rừng làm rẫy. Dân trí Quảng Nam nói chung
khá cao, hiểu biết rộng, lập trường quan điểm vững
chắc ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng, đạo đức Tam Giáo
đồng- nguyên, lại trực tính, thích tranh luận, nên từ
xa xưa trong dân gian đã có câu "Quảng Nam hay cãi"
là thế. Và trong thời cận đại, xung đột giữa Quốc-Cộng
cũng mang nhiều sắc thái đặc biệt và quyết liệt. Xã
hội Quảng Nam không có giai cấp do những điều kiện hay
tập tục bất công áp đặt. Giá trị và địa vị con người
hoàn toàn do thực chất tài năng và đạo đức con người
ấy tạo dựng nên và được xã hội đương nhiên công nhận
và tôn trọng tự do và bình đẳng tuyệt đối.
3.Kinh
tế.
Quảng Nam
"dĩ nông vi bản" , 80% dân chúng sinh sống nông nghiệp,
nhờ hệ thống đập nước dẫn thủy nhập điền mà hầu hết
điạ phương nào cũng có (đập Cẩm Lệ ở Hoà Vang, đập Bồ
Nít ở Ðiện Bàn, đập Khe Công ở DuyXuyên, đập Hương An
và đập Mộ Long ở QuếSơn, đậpVó và đập Kênh Ba Kỳ ở Tam
Kỳ,.....) nên hàng năm có hai muà lúa chính là tháng 3
và tháng 8, ngoài ra ở vùng ruộng cao còn có mùa lúa
tháng mười. Thêm vào đó, nông dân còn sản xuất những
hoa màu phụ như khoai, sắn, đậu, mía,thuốc lá, bông
vải, dâu, nuôi tằm...Chăn nuôi ở Quảng Nam vừa đủ tự
phụ như khoai, sắn, đậu, mía, thuốc lá, bông vải, dâu,
nuôi tằm...Chăn nuôi ở Quảng Nam vừa đủ tự túc cho
việc cày bừa, kéo xe và ăn thịt. Ngư nghiệp Quảng Nam
phát triển ở các vùng ven biển (cửa Ðà Nẵng, cửa Ðại,
Cù Lao Chàm) và các cửa sông lớn (sông Thu Bồn,sông
Trường Giang, sôngTam Kỳ,..) sản xuất nhiều hải sản
chế biến nổi tiếng (nước mắm Nam Ô, mắm cá cơm Tân
Thái..).Tiểu công nghệ Quảng Nam mang nhiều sắc thái
đặc thù: ươm tơ (nhà máy ươm Quảng Huế, Ðại Lộc), dệt
vải (Bảo An, Xuân Ðài, Ðiện Bàn,...), dệt hàng lụa Nam
Vang (Mã Châu, Thi Lai, Hà Mật, Duy-Xuyên,...), chạm
gổ (Kim Bồng, Duy Xuyên), khắc đá (Non Nước, Hòa Vang),
đúc đồng ( Phước-Kiều, Ðiện Bàn), gạch ngói (Cẩm Hà,
Hội An). Núi rừng Quảng Nam trùng trùng điệp điệp,
giàu lâm sản, nhiều gổ quý (Lim, Kiền Kiền, Cẩm Lai,
Gỏ Đỏ, Sơn Nghệ,...), nhiều dược thảo (quế, trà, sâm,
yến sào,...), nhiều cây dầu (dầu rái, dầu trảo, dầu
lai,...), nhiều cây công nghiệp (tre, nứa, mây,...)
nhiều da thú (voi, cọp, hươu, nai, trâu, bò, heo rừng,...)
nhiều khoáng sản (than đá Nông Sơn, Quế Sơn, vàng Bông
Miêu, Tam Kỳ, mica Ðại Lộc, dầu hỏa khí đốt ở ven biển
Ðà Nẵng và Cù Lao Chàm ).
4.
Chính trị.
Về phương
diện hành chánh, dưới triều Minh Mạng, Quảng Nam được
chia làm 8 phủ, huyện: 4phủ thuộc miền duyên hải, từ
bắc vào nam là Ðiện Bàn, (gồm cả thị xã Hội An), Duy
Xuyên,Thăng-Bình và Tam Kỳ; và 4 huyện thuộc miền cao,
tạm gọi sơn cước là Hoà Vang (gồm cả thị xã Ðà-Nẵng),
Ðại Lộc, Quế Sơn và Tiên Phước.
Năm 1888,
Thành Thái nguyên niên, triều đình Huế ký nhượng Ðà
Nẵng cho Pháp làm nhượng điạ. Năm 1962,chính phủ VNCH
Ngô Ðình Diệm chia tỉnh Quảng Nam ra thành 2 tỉnh:
Quảng Nam (phiá bắc) gồm các quận HoàVang, Ðiện Bàn,
Duy Xuyên, Ðại Lộc, Quế Sơn, Hiếu Ðức, Thường Ðức. Ðức
Dục và Hiếu Nhơn (gồm thị xã Hội An); và Quảng Tín (phía
nam) gồm các quận Thăng- Bình, Tiên Phước, Hậu Ðức,
Hiệp Ðức, Lý Tín và Tam Kỳ ( gồm thị xã Tam Kỳ).
Năm
1975,chính phủ CHXHCNVN lại sáp nhập 2 tỉnh Quảng Nam,
Quảng Tín và thành phố Ðà Nẵng thành tỉnh Quảng Nam
Ðà Nẵng, gồm có 12 huyện là Hoà Vang, Ðiện Bàn, Duy
Xuyên, Thăng Bình, Tam Kỳ, Ðại Lộc, Quế Sơn, Tiên
Phước, Tiên Giang, Phước Sơn, Trà My và thành phố Ðà
Nẵng.
Quảng Nam,
đất điạ linh nhân kiệt, sông núi điệp trùng, từ hơn
mấy thế kỷ nay,đã sản xuất nhiều danh nhân khoa bảng
tiền tiến, nhiều nhà cách mạng can trường, nhiều chính
trị gia xuất chúng, nhiều thi văn gia lỗi lạc, nhiêù
tư tưởng gia thâm nho, như các cụ Trúc Ðường Phạm Phú
Thứ, Hà-Ðình Nguyền Thuật, Hoàng Diệu, Hồ Lệ, Lê Ðình
Dỉnh, Ông Ích Khiêm, Nguyễn Duy Hiệu, Nguyễn Thượng
Văn, Tây Hồ Phan Chu Trinh, Thái Xuyên, Trần Quý Cáp,
Tiểu La Nguyễn Thành, Minh-Viên Huỳnh Thúc Kháng, Trần
Cao Vân, Thái Phiên, Phan Thành Tài, Lê Ðình Dương,
Nguyễn-Tường Tam, Phan Khôi...
Năm 1915,
năm Duy Tân thứ 8, khoa trường chữ Hán chấm dứt, nhà
nước bảo hộ chuyển qua tân học, lấy Pháp văn làm
chuyển ngữ chính, theo chương trình giáo dục Pháp quốc,
Quảng Nam lại sản xuất nhiêù tiến sĩ, kỹ sư đủ nghành:
y học, dược học, luật học, toán học, vật lý học, chính
trị, xã hội học,.đặc biệt nhất là sau biến cố 30-4-75,
trong cuộc di tản tỵ nạn lịch sử, chuyên viên khoa học
kỹ thuật Quảng Nam đua nhau nở như hoa mùa xuân ở khắp
các nước tạm dung Âu, Á, Mỹ, Úc Châu khiến mọi người
phải kính nể.
C. NGŨ
PHỤNG TỀ PHI (Năm chim Phụng cùng bay)
Năm 1898,
năm Thành Thái thứ 10, chiếu thông lệ, triều đình Huế
cứ 3 năm mở khoa thi hương, vào những năm tí, ngọ, mẹo,
dậu, và 5 năm mở khoa thi hội hay thi đình, vào những
năm thìn, tuất, sửu, mùi. Sĩ tử Quảng Nam nói
riêng,cũng như sĩ tử toàn quốc nói chung đều khăn gói
lều chõng lai kinh (kinh đô Huế,Thuận Hóa) dự thị đặc
biệt, khoa Mậu Tuất (1898) Quảng Nam nổi tiếng văn
trường mà dân gian thường gọi là Khoa Ngũ Phụng. Khoa
này, toàn quốc có 18 tân đại-khoa thì Quảng Nam chiếm
mất 5/18 là 3 tiến sĩ và 2 phó bảng (phó tiến sĩ) đồng
hương và đồng khoa, một điều hy hữu xưa nay chưa từng
có tại Việt Nam. Vua Thành - Thái và triều đình Huế
ban thưởng danh hiệu "NGỦ PHỤNG TỀ PHI," bốn chữ kim
tuyến vàng được thêu nổi trên nền gấm đỏ, trên đại kỳ
"VINH QUY BAÍ TỔ" cuả 5 vả tân đại khoa đồng hương và
đồng khoa ấ'y và truyền lệnh cho quan, dân địa phương
Quảng Nam đón rước vô cùng trọng thể, chủ đích một mặt
đề cao nhân tài xuất chúng của đất nước, một mặt xương
minh khuyến học cho dân sĩ tử hậu sanh noi theo. Lại
cũng có người tương truyền rằng 4 chữ NGŨ PHỤNG TỀ
PHI
ấy là của Văn-Thân, được thêu trên lá cờ đi rước 5 vị
tân đại khoa "vinh quy bái tổ".
1. Năm
và tân đại khoa đồng hương và đồng khoa được xếp theo
thứ tự như sau:
1.1.
Ông Phạm Tuấn:
Tiến sĩ đệ
nhị giáp, người lớn tuổi nhất, cử nhân xuất thân,
đương nhiệm chức Ðốc Học tỉnh Quảng Nam, quê quán làng
Xuân Ðài, tổng Phú Khương Thượng (GòNổi, PhùKỳ) phủ
Ðiện Bàn, trú quán làng Bến Ðề, tổng Phú Khương Thượng,
phủ Ðiện Bàn. Theo tài liệu cuả ông Quốc Minh đăng
trên báo Người Việt số 2721, ngày 15-5-93, thì ông
Phạm Tuấn đã một lần đỗ tiến sĩ, khoa thi hội Kỹ
Sửu(1889), năm Thành Thái nguyên niên, nhưng vì biến
cố ở kinh đô Huế lúc bấy giờ nên kỳ thi ấ'y không được
công bố và xem như hủy bỏ. Như thế nghiã là ông Phạm
Tuấn 2 lần đổ tiến sĩ 2 khoa thi hội cách nhau 10 năm,
1889-1898.
1.2.
Ông Phạm Liệu:
Tiến sĩ đệ
nhị giáp, người nhỏ tuổi nhất, quê quán làng Trừng
Giang, tổng Phú Khương Thượng (Gò Nổi,Phù Kỳ), phủ
Ðiện Bàn.
1.3.
Ông Phan Quang:
Tiến sĩ đệ
tam giáp,quê quán làng Bàng Lãnh, tổng Phú Khương
Thượng (Gò-Nổi Phù Kỳ), phủ Ðiện Bàn, trú quán làng
Phước Sơn, huyện Quế Sơn.
1.4.
Ông Dương Hiển Tiến:
Phó bảng,
quê quán làng Cẩm Lậu, tổng An Nhơn, phủ Ðiện Bàn.
1.5.
Ông Ngô Lý:
Phó bảng, quê quán làng Cẩm Sa, tổng Phú Triên, phủ
Ðiện Bàn.
2. Về
xuất xứ và liên hệ gia đình, môn đồ.
Năm vả tân
đại khoa đồng hương và đồng khoa đều là người quê quán
phủ Ðiện Bàn, tỉnh Quảng- Nam.
Ba vị tân tiến sĩ đồng khoa không những
quê quán cùng đồng tỉnh Quảng Nam, cùng đồng phủ Ðiện
Bàn, mà còn đồng tổng Phú Khương Thượng (Gò Nổi, Phù
Kỳ).
Hai vả tân
tiến sĩ đồng hương và đồng khoa Phạm Liệu và Phạm
Quang là anh em con cô con cậu, thuộc tộc Phan, làng
Bàng Lãnh, tổng Phú Khương Thượng, phủ Ðiện Bàn, và là
con cháu nội ngoại xa gần, đồng thời là môn đồ của cụ
Tú Thất Khoa (7 khoa tú tài) Phan Thế Huân,và cụ Tú
Ngũ Khoa (5 khoa tú tài) Phan thế Tiên húy Nguyên, trú
quán làng Cổ Tháp, tổng Mậu Hoà, Phủ Duy Xuyên.
3. Về
văn bài.
Theo tài
liệu do ban giám khảo trường thi Hội khoa Mậu Tuấ't
(1898) lưu chiếu tại Quốc Tử Giám của triều đình nhà
Nguyễn thì:
Văn bài
cuả tiến sĩ Phạm Tuấn xuất sắc về thâm thúy, trong
sáng, chững chạc, đáng bậc mô phạm gương mẫu.
Văn bài của Tiến Sĩ Phạm Liệu xuất sắc về bay bướm, âm
điệu, phong nhà, đ'ang bậc tuổi trẻ tài hoạ
4. Về thơ tặng
Ðương thời
ở Quảng Nam, cụ Ðào Tấn, hiệu Tô Giang, tiểu hiệu Mai
Tăng, ququê quán xã Vĩnh- Thạnh, quận Tuy Phước, tỉnh
Bình Ðịnh, tiến sĩ xuất thân khoa Ðinh Mão (1867) là
tác giả các vở tuồng hát bộ: Hộ Sanh Ðường, Khuê Các
Anh Hùng, Trầm Hương Các, Ngũ Hổ Bình Tây, Tống Ðịch
Thanh...nổi tiếng mà ngày nay thường được trình diễn,
làm Tổng Ðốc, có tặng mỗi ông tân tiến sĩ một bài thơ
mà các cổ nho ngày nay còn truyền tụng:
4.1._Bài thơ tặng tiến sĩ Phạm Tuấn:
Vận hội
tuần hoàn ngũ thập niên,
Thử ban tương kế xuất danh hiền.
Trúc-ba nhân khứ, Hà-ba tại,
Nhụy bản du truyền Giáp Ất tiên.
Tạm dịch:
Năm mươi
năm hội tuần hoàn,
; Tôi hiền liên tiếp nảy vang đất này.
Cụ Hà đó, cụ Trúc đi,(*)
Bút tiên Giáp Ất tên ghi bảng vàng.
(*) Trúc
ba chỉ cụ Trúc Ðường Phạm Phú Thứ đã từ trần; Hà ba
chỉ cụ Hà Ðình Nguyễn Thuật đang còn sống lúc bấy giờ.
4.2._ Bài thơ tặng tiến sĩ Phạm Liệu:
Chiết quế
nhơn tùng nguyệt diện lai,
Ðình bôi vị vấn thiếu niên tài.
Khán hoa mã quá song kiều lộ,
Thùy vị nam nhi đệ nhất mai.
Tạm dịch:
Bẻ về cành
quế Hằng Nga,
Chén nồng xin hỏi trẻ mà tài cao(**)
; Xem hoa cưởỉ ngựa qua cầu,
Cành nam ai kẻ trổ đầu hoa mai.
(**) Ông
Phạm Liệu lúc thi đổ tiến sĩ còn trẻ tuổi.
4.3._ Bài
thơ tặng tiến sĩ Phan Quang :
Giang sơn
thành thục dị tài đa,
Tam quế tề khai nhất dạng hoa,
Cảnh hữu Quảng Hàn cung tại khách,
Dũ tương thể bút tả Hằng Nga.
Tạm dịch:
Non sông
un đúc lắm tài cao,
; Ba cụm đơm bông quế một màu.
Có khách Quảng Hàn vừa mới đến,
Bút hoa tô nét nguyệt thanh tao.
5. Về
thân thế và sự nghiệp.
5.1._ Tiến
sĩ Phạm Tuấn nổi tiếng làm câu đối chữ Hán và chữ Nôm
rất hay, rất thâm thúy, còn được truyền tụng:
a.)_
Câu đối ở miếu trong vườn:
Hữu đức,
hữu Nhơn, kim hữu hữu,
Như Thần, như Tại, hựu như như.
b.)_ Câu
đối ở chùa Xuân Ðài (làng chánh quán):
XUÂN thâm
mặc chứng kim sanh QUẢ,
ÐÀI cổ thường khai tích thọ HOA.
(Cụ Phan
Bội Châu khi kinh qua đây, đọc câu đối, rất lấy làm
khen ngợi)
c.)_ Câu
đối ở chùa Bến Ðền (làng trú quán)
Sơn thủy
chung linh tư hữu tự,
Quỷ thần giáng phước tín vô tư.
d.)_ Câu
đối làm cho triều đình Huế đi phúng điếu Cần Chánh
Ðại Học Sĩ Nguyễn Thân, người có công giúp Pháp đánh
dẹp Phong Trào Cần Vương: Phan Ðình Phùng ở Nghệ Tĩnh,
Nguyễn- Duy Hiệu ở Quảng Nam:
Sinh như
ông, tử như ông, sinh tử như ông - BẤT
Công cái thế, danh cái thế, công danh cái thế - VÔ
( Nghe đâu
ông Nguyễn Hy con của Nguyễn Thân, kỷ sư ở Pháp về,
nghe dư luận đàm tiếu về câu đối này, đã phát đơn kiện
ông Phạm Tuấn về việc mạ lỵ thân sinh ông. Ông trả lời
là hãy xem trong câu đối, ai là người đứng tên đi, rõ
ràng là triều đình Huế, vậy hãy kiện triều đình Huế
chứ sao lại kiện tôi. Thế là hoà cả làng!
Suốt 35
năm làm quan (1898-1913), ông chuyên rách ngành giáo
dục, qua các chức vụ Huấn Ðạo, Giáo Thọ, Ðốc Học ở các
tỉnh miền trung và 4 lần cử làm sơ khảo (1891), phúc
khảo (1894), giám khảo (1897). Ở các trường thi Hương
Bình Ðịnh; và các phân khảo (1900) ở trường thi Hương
Nghệ An.
Ông có 3
đời vợ, nhưng các con trai ông đều hữu sinh vô dưỡng,
nên cuối cùng vô tự. Năm1913, năm Duy Tân thứ 7, ông
hưu trí với hàm Hồng Lô tự Khanh.
5.2._ Tiến
sĩ Phạm Liệu văn hay chữ tốt, hoạn lộ hạnh thông, nhất
là sau ngày ông đã thiếu bình tĩnh đánh mất sĩ khí
Quảng Nam, đang tâm bán rẽ lương tâm và linh hồn cho
bọn thực dân Pháp để mưu cầu chút hư danh tục đế bằng
cách mật báo cơ mưu, ngày giờ và địa điểm khởi nghĩa
chống Pháp của Vua Duy Tân và Việt Nam Quang Phục Hội
cho Công Sứ Pháp Dc Taster và Tuần Phủ Trần Tiễn Hối (hậu
duệ của Phụ Chánh Trần Tiến Thành) ở Quảng Nghĩa. Và
do đó, Khâm-Sứ Charles liền bí mật ban hành lệnh giới
nghiêm, tuớc khí giới tất cả quân lính Việt Nam cách
mạng chống Pháp của Vua Duy Tân và Việt Nam Quang
Phục Hội miền Trung, khuya ngày 3 rạng ngày 4 tháng 5
năm 1916 (1-2 tháng 4 năm Bính Thìn) đã thất bại từ
trong trứng nước. Sau đó, Án Sát Sứ Phạm Liệu được
thăng chức Phủ Thừa tỉnh Thừa Thiên và tuần tự thăng
dần đến Thượng Thư Bộ Binh ở triều đình Huế, rồi Hiệp
Tá Ðại Học Sĩ với tước Trừng Giang Nam trí sĩ.
Ông có 4
đời vợ và con trai không đông, nhưng hầu hết,con trai
ông đều chết trẻ, trước khi lập gia đình.
5.3_ Tiến sĩ Phan Quang đường tiến thân khá bằng
phẳng không có gì đáng ghi nhận. Ông làm quan đến chức
Thượng Thư ở triều đình Huế, rồi Trí Sĩ (cụ Thượng
Phước Sơn).
Ông có 3
đời vợ và con trai trưởng là giáo sư Phan Khoang, một
học giả, một sử gia, một nhà văn hữu hạng tại đất thần
kinh Huế.
5.4._ Phó bảng Dương Hiễn Tiến sau khi vinh quy bái tổ,
chưa kịp thi thố tài năng phục vụ đất nước và đồng bào
thì thất lộc.
5.5._ Phó bảng Ngô Lý. Theo truyền thuyết dân gian,địa
phương, ông Ngô Lý nguyên quán không phải ở Cẩm Sa,
nhưng lý trưởng Cẩm Sa thời ấy có ăn tiền lót của ông
nhiều ít gì đó, mới nhận thực cho ông khai tam đại tại
làng đễ lập hồ sơ đi thi. Không ngờ sau ông đổ Phó
Bảng ra làm quan. Chúng thấy vô cớ mà rước một ông
Tiên Chỉ ở đâu về ăn trên ngồi trước trong làng, nên
bọn lý hương âm mưu với nhau ếm mã cụ thân sinh ông,
và sau đó ông Ngô Lý chết vì bạo bệnh tại huyện đường
tỉnh Nghệ An. Việc ấy sau này Văn Thân Quảng Nam biết
được, phát đơn kiện và bọn lý hương Cẩm Sa bị
án.(Trích tài liệu trong "Quảng Nam Nhân Vật Liệt Chí"
của Nguyễn Bội Liên biên soạn, do ty tiểu học Quảng
Nam xuất bản năm 1969).
Ðể kết
luận, chúng ta là những người dân xứ Quảng có hãnh
diện và có nhắc nhở đến "Ngũ-Phụng Tề Phi" là chỉ
hãnh diện và nhắc nhở cái tài học cao biết rộng, văn
hay chữ tốt, về phương diện văn chương khoa bảng mà
thôi, chứ về phương diện an bang tế thế, ích quốc lợi
dân, theo như lòng dân xứ Quảng hằng mong muốn thì
không có gì đáng được lưu ý đề cao cả.
Ðất Quảng
Nam, ngoài "Ngũ Phụng Tề Phi" khoa Mậu Tuất (1898) còn
có:
1._
Khoa Tân Sửu (1901) 4 vị đỗ Phó bảng đồng khoa và đồng
hương là ông Nguyễn Ðình Hiến (Trung Lộc,Quế Sơn),
Ông Nguyễn Mậu Hoán (Phú Cốc, Quế Sơn), Ông Võ Vỹ (An
Phước, Thăng Bình), Ông Phan Châu Trinh (Tây Lộc,Tiên
Phước) mà dân gian thường mệnh danh là "TỨ KIỆT"
2._
Trong 4 khoa thi Hương liên tiếp là khoa Ðinh Dậu
(1897), khoa Canh Tý (1900), khoa Ất Mão (1903), khoa
Mậu Ngọ (1906), có 4 vị đỗ thủ khoa là: ông Phạm Liệu
(Trừng Giang, Ðiện Bàn), ông Võ Hoành (Long Phước, Duy
Xuyên), ông Nguyễn Ðình Hiến (Trung Lộc, Quế Sơn), ông
Huỳnh Hanh tức Huỳnh Thúc Kháng (Thanh Bình, Tiên
Phước) mà dân gian thường mệnh danh là "TỨ HỔ". Như
vậy:
* Ông
Phạm Liệu vừa là "Ngũ Phụng Tề Phi" vừa là "Tứ Hổ".
* Ông
Nguyễn Ðình Hiến vừa là "Tứ Kiệt" vừa là "Tứ Hổ".
Ngoài
những danh sĩ kế tiếp nhau tranh khôi đoạt giáp nói
trên, các vị Cử Nhân, Tú Tài, thì khoa nào cũng có,
nhưng có một số trong quý vị ấy không ra làm quan, lại
ngồi tại làng mở trường dạy học truyền bá triết lý và
đạo đức thánh hiền, xây dựng hương chính địa phương,
bảo đảm nền thịnh vượng và hạnh phúc chung cho nhân
dân, hay viết sách,viết báo cổ động nền Tự Do, Dân-Chủ
và Nhân Quyền cho Việt Nam.
Nhưng tiếc
thay, thời vàng son ấy nay còn đâu! ? |