Tôn Thất Hướng
Năm 1909, tại địa điểm Sa Huỳnh ven biển Quảng Ngãi, một
học giả Pháp đã phát hiện kho mộ chum khoảng 200 chiếc.
Sau đó trên tập san Trường Viễn đông Bác Cổ đã đăng tin
về phát hiện khảo cổ học này (BEFEO 909, tome, IX,
p.413) và từ đó tên của địa điểm này được dùng để định
danh cho một nền văn hóa thuộc sơ kỳ thời đại đồ sắt,
phân bố ở Miền Trung, Việt Nam
Tuy nhiên, các di chỉ văn hóa Sa Huỳnh được tập trung
nhiều nhất ở Quảng Nam với trên 50 di chỉ khảo cổ học
tiền - sơ sử đã được phát hiện mà kết quả nghiên cứu đã
công bố trong kỷ yếu các hội thảo, nhất là trong công
trình " Những di tích thời tiền sử và sơ sử ở Quảng Nam
- Đà Nẵng " do Sở VHTT QN-ĐN xuất bản năm 1985. Về cơ
bản, thời tiền sử (Prehistoine) tương đương với thời đại
Đá (trong cách phân kỳ khảo cổ học) và các thời đại mông
muội, dã man hay thời kỳ nguyên thủy (trong cách phân kỳ
lịch sử). Đây là thời kỳ kinh tế khai thác, con người
sống chủ yếu dựa vào việc thu lượm những sản vật sẳn có
trong tự nhiên. Đến giai đoạn cuối (thời kỳ đá mới) một
số nơi mới biết đến thuần dưỡng các vật nuôi và cây
trồng đầu tiên rồi tiến hành cách mạng đá mới (cách mạng
sản xuất thức ăn), từng bước đưa nền kinh tế sản xuất
lên giữ vai trò chủ đạo trong phương thức sinh hoạt kinh
tế. Thời sơ sử (Protohistoine) tương đương với các thời
đại đồ đồng và sơ kỳ đồ sắt (hay còn gọi là thời đại kim
khí, trong cách phân kỳ khảo cổ học) và các thời đại văn
minh hay cổ đại (trong cách phân kỳ lịch sử). Đây là
thời kỳ kinh tế sản xuất trồng trọt và chăn nuôi vươn
lên giữ vai trò chủ đạo, thời kỳ xuất hiện kỹ thuật
luyện kim, xuất hiện chế độ tư hữu, giai cấp và hình
thành nhà nước, chữ viết ra đời trong thời kỳ này.
Thời tiền sử là thời đại dài nhất trong tiến trình phát
triển của lịch sử nhân loại. Nó có từ khi có loài người
xuất hiện, cách đây hàng triệu năm và kết thúc khi kỹ
thuật luyện kim ra đời, các hình thức tiền nhà nước và
nhà nước cổ đại xuất hiện. Vì thời gian dài như vậy nên
các nhà nghiên cứu thường phân ra các thời đại nhỏ hơn.
Trong khảo cổ học, tiền sử được phân thành 2 thời đại:
Đá cũ và Đá mới (có nơi còn phân thêm thời đại đá giữa:
thời đại quá độ, trung chuyển từ thời đại đá cũ sang
thời đại đá mới). Rồi từ các thời đại này, người ta tại
tiếp tục phân ra thành sơ kỳ, trung kỳ và hậu kỳ.
Tại Việt Nam, các nhà khảo cổ học đã phát hiện các di
chỉ sơ kỳ đá cũ ở Núi Đọ, Quan Yên, Núi Nường ( Thanh
Hoá ) và nhóm di chỉ miền Đông Nam bộ. Sang trung kỳ và
hậu kỳ đá cũ có kỹ nghệ Nườm và văn hóa Sơn Vi. Đến sơ
kỳ thời đại đá mới phát hiện được văn hóa Hoà Bình, Bắc
Sơn. Sang hậu kỳ đá mới thì phát hiện được văn hóa Hà
Giang, Mai Pha, Hạ Long, Bàu Tró, Biển Hồ, Lung Leng...
Đối với Quảng Nam, cho đến nay các nhà khảo cổ vẫn chưa
tìm được di chỉ thời đại đá cũ mà chỉ mới phát hiện được
một số công cụ bằng đá cuội gia công ở các di tích muộn
như Tiên Hà, Bàu Dũ, Bàu Trám... Nhưng đây là những tín
hiệu ban đầu giúp cho việc phát hiện ra các di chỉ văn
hóa như Hoà Bình, Bắc Sơn trên đất Quảng
Nam
trong thời gian đến.
Đến nay, Bàu Dũ là di chỉ sớm nhất thuộc thời đại đá mới
sau Hoà Bình được phát hiện ở Quảng
Nam
nói riêng và vùng ven biển Nam Trung bộ nói chung. Di
chỉ Bàu Dũ ở thôn Bút Đông, xã Tam Xuân, huyện Núi Thành.
Di tích phân bố trên một gò đất rộng và cao hơn mặt
ruộng chung quanh chừng 2m, cách bờ biển khoảng 4 km,
cách quốc lộ 1A chừng 1 km về phía Đông. Di chỉ Bàu Dũ
được phát hiện năm 1981 và tiếp tục được đào thám sát
vào các năm 1982, 1983. Đến năm 1985 thì được khai quật
trên diện rộng với diện tích 100 m2. Kết quả khai quật
cho thấy đây là một di chỉ vừa là nơi cư trú vừa là mộ
táng. Tầng văn hóa khá thuần nhất, dày trung bình từ
1,3m - 2,1m. Trong tầng văn hóa, ngoài 150 viên cuội
nguyên còn thu được nhiều công cụ đá mang đậm đặc trưng
văn hóa Hoà Bình, đó là 4 công cụ nạo hình đĩa, 4 rìu
hình hạnh nhân, 14 rìu ngắn tay bằng đá cuội ghè đẻo hai
mặt. Công cụ đá Bàu Dũ khác với công cụ văn hóa Hoà Bình
ở chỗ các công cụ Hoà Bình đều được chế tác từ cuội sông
suối, còn ở Bàu Dũ ngoài cuội ra còn có đá gốc. Có lẽ do
nguồn nguyên liệu ở đây hiếm cuội nên họ phải sử dụng đá
gốc, đôi khi cả thạch anh và những mảnh tước cuội để làm
công cụ.
Ở Bàu Dũ qua các lần thám sát và khai quật đã tìm thấy 5
ngôi mộ, tất cả đều chôn chung trong các hố vò sò điệp
hay đặt trong những đống điệp lớn khá dày. Tử thi được
chôn trong tư thế ngồi bó gối, giống như cách chôn của
nhân văn hóa Đa Bút (Thanh Hoá) và Quỳnh Văn (Nghệ An).
Di cốt người cổ Bàu Dũ thuộc chủng tộc đen với đặc trưng
Melanésien rõ nét.
Tại Bàu Dũ còn thu được một khối lượng lớn di cốt động
vật và vỏ nhuyễn thể, trong đó có xương của các loài: tê
giác, trâu, bò, hươu, nai, sơn dương, khỉ, cá, vỏ các
loài ngao, sò, điệp và cua biển. Trong số xương răng
động vật, qua nghiên cứu chưa thấy di cốt của loài đã
thuần dưỡng. Hay nói đúng hơn, chưa tìm thấy dấu vết của
nghề trồng trọt và chăn nuôi ở Bàu Dũ. Các hiện vật ở
đây phản ánh đời sống của cư dân nặng về hái lượm hơn là
săn bắt. Đồ gốm cũng chưa xuất hiện trong tầng văn hóa
mà mới chỉ nhặt được một số mảnh ở trên mặt đất, do vậy
có thể xem Bàu Dũ là một di chỉ đá mới trước gốm. Về
niên đại bằng phương pháp phân tích phóng xạ C 14 mẫu ở
lớp dưới chứa công cụ đá và chưa xuất hiện gốm là 5030 +
60 năm trước Công nguyên. Dựa vào đặc trưng công cụ và
táng thức nói trên, các nhà khảo cổ học tham gia khai
quật đề nghị xếp Bàu Dũ thành một loại hình riêng, nằm
ở bước chuyển sau Hoà Bình, gọi là đá mới sau Hoà Bình.
Về phương thức hoạt động kinh tế của người cổ Bàu Dũ
không khác lắm so với thời Hoà Bình, họ vẫn sống chủ yếu
bằng hái lượm và săn bắt, chỉ có điều khác là họ cư trú
ngoài trời, vùng đồng bằng cửa sông, ven biển nên hoạt
động sinh sống trong môi trường rộng hơn, họ săn bắt và
hái lượm theo phổ rộng của sinh thái bờ biển. Vết tích
xương cá biển, vỏ sò, ốc, ngao, điệp... Có chỗ chất
thành đống dày đã xác nhận rằng khai thác biển của cư
dân Bàu Dũ giữ vai trò quan trọng trong hoạt động kinh
tế.
Bàu Dũ là một phát hiện khảo cổ học quan trọng không chỉ
đối với Quảng Nam mà đối với cả khu vực Nam Trung bộ.
Với Bàu Dũ, chúng ta có thêm một xích trong chuổi văn
hóa đá mới, gợi mở về con đường phát triển đá mới từ Hoà
Bình qua Bàu Dũ đến hậu kỳ đá mới và sơ kỳ kim khí.
Thời sơ sử ứng với sơ kỳ thời đại kim khí ( đồng thau và
sắt sớm ) mà ở Quảng Nam các nhà khảo cổ học gọi là tiền
Sa Huỳnh và Sa Huỳnh. Các di chỉ thuộc giai đoạn tiền Sa
Huỳnh (thời đại đồ đồng) có khu di chỉ Bàu Trám (Tam Anh,
Núi Thành) gồm di chỉ cư trú trên gò Bà Tham và khu mộ
chum trên Trảng Đổng Du, di chỉ cư trú và khu mộ táng
trên Bãi Ông, Cù lao Chàm. Sang giai đoạn văn hóa Sa
Huỳnh (sơ kỳ thời đại sắt) thì chưa ở đâu trên toàn quốc
phát hiện được nhiều di chỉ như ở Quảng Nam. Từ Bàu Trám
đến Sa Huỳnh là những chặng đường phát triển liên tục,
sống động, vừa phát triển nội tại vừa giao lưu tiếp xúc,
tiếp biến văn hóa tạo nên một dòng chảy văn hóa liên tục,
đó là phức hệ văn hóa Bàu Trám - Sa Huỳnh. Đến nay đã có
mấy chục địa điểm được phát hiện, đào hám sát và khai
quật như Hậu Xá, An Bang (Hội An), Tam Mỹ, Bàu Nê (Núi
Thành), Tiên Hà (Tiên Phước), Pà Xua (Nam Giang), Bình
Yên (Quế Sơn), Mậu Hoà (Duy Xuyên), Lai Nghi (Điện Bàn).
Phần lớn các di chỉ là những khu mộ chum và một vài khu
cư trú cổ, phân bố từ vùng gò đồi, núi cao phía Tây cho
đến đồng bằng ven biển phía Đông.
Chum mai táng ở đây thường có các dạng hình cầu, hình
trứng, hình trụ với kích thước lớn và có nắp đậy hình
nón cụt hay hình lồng bàn. Trong và ngoài chum chứa
nhiều đồ tuỳ táng với các chất liệu gốm, đá, đá quý,
thủy tinh, đồng, sắt. Đồ tuỳ táng trong các di chỉ văn
hóa Sa Huỳnh ở Quảng Nam không chỉ nhiều về số lượng và
còn phong phú về chủng loại, bao gồm các loại đồ gốm gia
dụng, công cụ lao động, vũ khí và các đồ trang sức như
khuyên tai hai đầu thú, khuyên tai ba mấu bằng đá quý,
mã não, hạt chuổi bằng thuỷ tinh... Có thể nói cư dân cổ
ở đây có năng khiếu thẩm mỹ cao, rất khéo tay và có một
mỹ cảm phát triển tuyệt vời. Họ rất ưa dùng đồ trang sức,
ở Đại Lãnh, Đại Lộc đã tìm được những phác vật khuyên
tai hai mấu còn ở tình trạng chế tác dở dang. Về di cốt,
các nhà khảo cổ mới chỉ tìm thấy vết tích xương răng trẻ
em trong một vài mộ chum ở Hậu Xá, An Bang (Hội An), còn
lại hầu như các chum chỉ có đồ tuỳ táng, ít tham tro và
cát trắng, rất có thể đây là hình thức mộ tượng trưng
hay do hoả táng.
Một trong những đặc trưng tiêu biểu của văn hóa Sa Huỳnh
nói chung và Sa Huỳnh ở Quảng
Nam
nói riêng là sự phổ biến của đồ sắt. Bấy giờ họ đã rèn
được các loại rựa, dao quám, giáo, mai, liềm, thuổng,
kiếm ngắn, qua... Ngoài rèn sắt họ còn biết đúc gang như
hiện vật ở Đại Lộc. Nhờ có sự tham gia của loại công cụ
bằng sắt mà nông nghiệp nói riêng, các ngành kinh tế
khác nói chung có điều kiện phát triển mạnh mẽ. Bên cạnh
nghề trồng lúa nước ở những cánh đồng trước núi, ven
sông, ven biển, họ còn biết khai thác các nguồn lợi của
rừng, của biển, biết phát triển các nghề thủ công, chài
cá và từng bước mở rộng quan hệ trao đổi, buôn bán với
các cư dân trong khu vực Đông Nam Á, với Ấn Độ, Trung
Hoa...
Có thể nói cư dân cổ ở Quảng Nam thời kỳ này là những
người cở mở " Họ biết giao thiệp, buôn bán, đổi trao...
Họ không chỉ biết cho (đồ trang sức bằng thủy tinh,
khuyên tai hai đầu thú, khuyên tai có mấu, đồ gốm có
dạng hình hoa văn dẹp...) mà còn biết nhận (đồ mã não,
ngọc bích, ngọc nefrit), có thể nhận cả những giống cây
trồng miền hải đảo như khoai lang, mía; nhận đồ đồng và
trống đồng Đông Sơn... Thật có lý khi cố GS Trần Quốc
Vượng nhận xét " Nền văn hóa của họ vừa có cơ chế thu
nạp vừa có cơ chế toả phát ".
Phức hệ văn hóa Bàu Trám - Sa Huỳnh ở Quảng Nam có quan
hệ cội nguồn với các văn hoá đá mới ven biển như Bàu Tró,
Hoa Lộc, Hạ Long mà chủ nhân của chúng được coi là những
người tiền Mã Lai- Pôlinêdi hay tiền Nam Đảo, do đó có
thể xem chủ nhân của phức hệ văn hóa Bàu Trám - Sa Huỳnh
là những người này. Tuy nhiên trong quá trình tồn tại và
phát triển cư dân ở đây còn có quan hệ cội nguồn hay
giao lưu với người tiền Môn-Khơme hay tiền Nam Á. Yếu tố
Nam Á có trong người Bàu Tám-Sa Huỳnh. Tiếng nói của họ
là kết quả của sự tiếp xúc và giao thoa ngôn ngữ giữa
tiếng Nam Đảo (Mã Lai-Pôlinêdiêng hay Anhđônêdiêng) và
tiếng Nam Á (Môn-Khơme).
Mật độ phân bố di tích cũng như quy mô rộng lớn của các
di chỉ văn hóa Sa Huỳnh ở Quảng Nam là cơ sở khoa học
nói lên sự quần cư đông đúc của cư dân lúc bấy giờ. Sự
phát triển mạnh mẽ của sức sản xuất, nhất là kỹ thuật
luyện kim, chế tác công cụ lao động và việc mở rộng
không gian cư trú cũng như các loại hình hoạt động kinh
tế, thương mại, sự phân hoá giàu nghèo... là những điều
kiện dẫn đến sự hình thành nhà nước sơ khai. Nhà nước cổ
đại sơ khai ấy chính là một trong những tiền thân, cội
nguồn để hình thành nên nhà nước Champa cổ vào thế kỷ II
sau Công nguyên. Tài liệu khảo cổ học thu được ở Quảng
Nam đã ghi nhận từ Sa Huỳnh đến Champa là sự liên tục,
tiếp biến văn hóa. Người Sa Huỳnh đã bản địa hoá nền văn
hóa Ấn Độ để trở thành dân tộc Chăm với văn minh Champa
nổi tiếng mà tiêu biểu nhất là thánh địa Mỹ Sơn - Di sản
văn hóa thế giới.
Với sự phân bố dày các di chỉ khảo cổ học văn hóa Sa
Huỳnh, Quảng Nam là địa phương tiêu biểu nhất để ba năm
nữa ( 2009 ) xứng đáng đăng cai tổ chức hội thảo khoa
học quốc gia hoặc quốc tế " 100 năm văn hóa Sa Huỳnh ".
Đây là dịp các nhà khoa học, nhà nghiên cứu trong và
ngoài nước đánh giá, tôn vinh các giá trị cũng như định
hướng bảo tồn và phát huy văn hóa Sa Huỳnh ở Quảng Nam.
Tôn Thất Hướng