Theo tin tức báo chí trong nước, vào ngày 22 tháng 6
vừa qua tại Sài G̣n, Bộ trưởng nông nghiệp, tài nguyên
các nước thành viên Hội đồng Ủy hội Mekong đă kư một
thỏa thuận nhằm duy tŕ ḍng chảy trong lưu vực sông
Mekong. Theo đó, các nước Thái Lan, Lào, Kampuchia,
và Việt Nam sẽ tham gia hợp tác trong việc duy tŕ
ḍng chảy của sông Mekong ở mức tối thiểu trong mùa
khô, duy tŕ ḍng chảy tự nhiên thường xuyên vào Biển
Hồ, và không được xả lũ từ hồ chứa gây lũ nhân tạo ở
hạ lưu trong mùa lũ.
Để t́m hiểu thêm về thỏa thuận nầy, đài Á Châu Tự do
chúng tôi có trao đổi với Kỹ sư (KS) Nguyễn Minh Quang,
một kỹ sư công chánh chuyên nghiệp (professional
engineer) của tiểu bang California và cũng là một
chuyên viên thuộc Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam.
Trước năm 1975, ông là một trong những chuyên viên
thủy lợi phục vụ tại Ủy ban Quốc gia Thủy lợi trực
thuộc Bộ Công Chánh và Giao thông ở Sài G̣n. Ông phụ
trách công tác nghiên cứu và soạn thảo các kế hoạch
phát triển thủy lợi ở miền Nam Việt Nam và công tác
nghiên cứu và điều hành chương tŕnh đo đạc thủy học ở
Đồng bằng sông Cửu Long do Ủy ban Quốc tế Mekong phối
hợp với Ủy ban Quốc gia sông Cửu Long/Việt Nam tài trợ.
- Hỏi: Kính chào KS Quang! Trước hết, xin KS vui ḷng
cho Quư thính giả của Đài biết thêm chi tiết về việc
kư kết thỏa thuận duy tŕ ḍng chảy trong sông chánh
Mekong ở Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 22 tháng 6 năm
2006.
- Đáp: Đúng ra th́ thỏa thuận ngày 22 tháng 6 chỉ đề
cập đến “phương thức” (procedure) để duy tŕ lưu lượng
trong sông chánh Mekong và đă được đại diện cấp Bộ
trưởng mà cũng là thành viên của Hội đồng Ủy hội sông
Mekong (Mekong River Commission (MRC) Council); gồm có
các quốc gia Thái Lan, Lào, Kampuchia, và Việt Nam; kư
kết trong một buổi lễ được tổ chức tại Khách sạn Rex ở
số 141 đường Nguyễn Huệ. Hiện diện trong buổi lễ có
Tiến sĩ Olivier Cogels, Giám đốc Điều hành Văn pḥng
MRC (MRC Secretariat), nhân viên của Chương tŕnh
Sử dụng Nước của Ủy hội sông Mekong (MRC Water
Utilization Programme), thành viên của Ủy ban Hỗn hợp
thuộc Ủy hội sông Mekong (MRC Joint Committee), thành
viên của bốn Ủy ban Quốc gia sông Mekong (National
Mekong Committee), và đại diện của các tổ chức và ngân
hàng quốc tế như Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á
(ASEAN), Chương tŕnh Phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP),
Ủy hội Kinh tế-Xă hội Á Châu và Thái B́nh Dương của
Liên Hiệp Quốc (UNESCAP), Ngân hàng Phát triển Á Châu
(ADB), và Ngân hàng Thế giới (WB).
- Hỏi: C̣n nội dung của thỏa thuận th́ như thế nào,
thưa KS?
- Đáp: Theo văn bản chánh thức của Văn pḥng MRC, th́
những thỏa thuận được kư kết ngày 22 tháng 6 vừa qua
chỉ lập lại những nguyên tắc để duy tŕ lưu lượng
trong sông chánh Mekong đă được nêu trong Điều 6 của
Hiệp định Hợp tác Phát triển Khả chấp Lưu vực sông
Mekong (Agreement on the Cooperation for the
Sustainable Development of the Mekong River Basin)
được kư kết khi thành lập MRC ngày 5 tháng 4 năm 1995
tại Chiang Rai, Thái Lan (Hiệp định MRC 1995). Thỏa
thuận ngày 22 tháng 6 chỉ thêm một số nguyên tắc không
có liên quan đến phương diện thủy học như: tính thực
tiễn (practicality), sự minh bạch (transparency),
hiệu quả kinh tế (cost effectiveness), và tinh
thần tương kính lẫn nhau (reciprocity) giữa các quốc
gia duyên hà.
- Hỏi: KS có thể cho Quư thính giả biết những nguyên
tắc thủy học để duy tŕ lưu lượng trong sông chánh
Mekong được nêu trong Điều 6 của Hiệp định MRC 1995
không?
- Đáp: Dạ thưa, tôi có thể phỏng dịch như thế nầy: “Để
tránh ảnh hưởng của các dự án rẽ nước (diversions),
việc xả lũ từ hồ chứa nước (storage release), hoặc các
hoạt động thường trực khác (actions of permanent
nature), ngoại trừ trường hợp hạn hán hoặc lũ lụt lịch
sử, các quốc gia duyên hà sẽ hợp tác để (A) duy tŕ
một lưu lượng không dưới lưu lượng tối thiểu tự nhiên
có thể chấp nhận được cho từng tháng trong mùa khô,
(B) duy tŕ một lưu lượng có thể chấp nhận được trong
sông Tonle Sap khi nó chảy ngược vào Biển Hồ trong mùa
lũ, và (C) duy tŕ lưu lượng cao nhất trung b́nh trong
ngày (average peak daily flow) không vượt quá lưu
lượng cao nhất trung b́nh hàng ngày trong mùa lũ. Ủy
ban Hỗn hợp sẽ ấn định quy định hướng dẫn liên quan
đến vị trí và lưu lượng, theo dơi và có hành động
thích ứng để duy tŕ lưu lượng như được ấn định trong
Điều 26.”
Điều 26 của Hiệp định MRC 1995 quy định nhiệm vụ của
Ủy ban Hỗn hợp bao gồm việc ấn định thời khoảng cho
mùa nước và mùa khô, chọn lựa các trạm quan trắc và ấn
định lưu lượng cho mỗi trạm, ấn định phương pháp tính
số lượng nước phụ trội (surplus quantities of water)
trong sông chánh vào mùa khô, cải thiện phương pháp
theo dơi việc sử dụng nước trong lưu vực (intra-basin
use), và thiết lập phương pháp theo dơi việc rẽ nước
từ sông chánh ra khỏi lưu vực (inter-basin
diversion).
- Hỏi: Như vậy, có điều ǵ mới trong thỏa thuận được
kư kết ngày 22 tháng 6 không?
- Đáp: Về phương diện thủy học th́ không có ǵ mới lạ
cả. Chỉ có thêm một vài chi tiết về hành chánh để bổ
sung hoặc làm sáng tỏ Điều 6 và 26 của Hiệp định MRC
1995 mà thôi. Chẳng hạn Ủy ban Hỗn hợp MRC phải soạn
thảo một tài liệu độc lập nhan đề “Hướng dẫn Kỹ thuật”
(Technical Guidelines) để tŕnh bày và giải thích cách
thức dùng để xác định lưu lượng trong sông chánh được
đề cập trong Điều 6 và 26; tuy nhiên, Ủy ban Hỗn hợp
có thể ủy thác việc soạn thảo cho một Nhóm công tác
thường trực (permanent working group) của MRC rồi phê
chuẩn tài liệu. Văn pḥng MRC và các Ủy ban Quốc gia
sông Mekong cũng được yêu cầu hỗ trợ về mặt kỹ thuật
và hành chánh, giúp đỡ phương tiện, hoặc tạo điều kiện
dễ dàng cho Ủy ban Hỗn hợp hoặc Nhóm công tác thường
trực. Các Ủy ban Quốc gia sông Mekong có trách nhiệm
hợp tác với Văn pḥng MRC trong việc thiết lập, bảo
tŕ, và điều hành các trạm quan trắc được chọn lựa
trong mỗi quốc gia.
- Hỏi: Là một chuyên viên thủy lợi quen thuộc với
ĐBSCL nói riêng và lưu vực sông Mekong nói chung, KS
có nhận xét ǵ về thỏa thuận vừa được kư kết?
- Đáp: Tôi không hiểu v́ sao Hội đồng MRC lại phải kư
thỏa thuận ngày 22 tháng 6 v́ hầu như tất cả những
điểm quan trọng, nhất là về phương diện thủy học, đă
được ghi trong Hiệp định MRC 1995. Nhưng có một điểm
rất quan trọng trong Điều 26 của Hiệp định MRC 1995
th́ lại không được nhắc đến. Đó là việc Hội đồng MRC
phải phê chuẩn quy định về việc sử dụng nước, duy tŕ
lưu lượng trong ḍng chánh, và việc rẽ nước ra khỏi
lưu vực do Ủy ban Hỗn hợp MRC soạn thảo và đệ tŕnh.
Qua việc kư kết thỏa thuận ngày 22 tháng 6, Ủy hội
sông Mekong càng thể hiện thêm tính “h́nh thức” hơn
thực tế, v́ những “quy định” (rules) được ghi trong
Hiệp định MRC 1995 đă được thay thế bằng “hướng dẫn kỹ
thuật.” Do đó, việc duy tŕ lưu lượng trong sông
chánh Mekong khó có hiệu quả v́ “hướng dẫn” th́ không
bắt buộc phải tuân theo như “quy định,” ít ra là về
mặt pháp lư.
- Hỏi: C̣n việc xác định các lưu lượng tiêu chuẩn dùng
để duy tŕ lưu lượng trong sông chánh Mekong được ghi
trong thỏa thuận ngày 22 tháng 6 năm 2006 th́ sao,
thưa KS?
- Đáp: Có ba lưu lượng căn bản cần phải được xác định:
lưu lượng tối thiểu tự nhiên có thể chấp nhận được cho
từng tháng trong mùa khô, lưu lượng chảy ngược vào
Biển Hồ có thể chấp nhận được trong sông Tonle Sap
trong mùa lũ, và lưu lượng cao nhất trung b́nh hàng
ngày trong mùa lũ; tuy nhiên, các lưu lượng nầy rất
khó, nếu không muốn nói là không thể nào, xác định
được v́ phải cần đến dữ kiện lịch sử (historic data) ở
mỗi trạm quan trắc được chọn lựa. Đối với các trạm
quan trắc không chịu ảnh hưởng thủy triều từ Kratie
trở lên, dữ kiện lịch sử về lưu lượng tương đối đầy đủ,
nhưng chúng có thể không chính xác v́ các trạm nầy đă
được thiết lập từ hàng chục năm nay nên có thể chịu
ảnh hưởng của các dự án trên sông chánh gần đây. Đối
với các trạm quan trắc ở vùng chịu ảnh hưởng của thủy
triều, chẳng hạn như trạm Prek Kdam trên sông Tonle
Sap hoặc Tân Châu và Châu Đốc trên sông Tiền và Hậu,
ḍng chảy trong sông có thể đổi chiều; do đó, dữ kiện
lưu lượng ở các trạm nầy thường không đầy đủ và kém
chính xác.
- Hỏi: Như vậy việc áp dụng các tiêu chuẩn nầy có dễ
dàng không?
- Đáp: Việc áp dụng các tiêu chuẩn để duy tŕ lưu
lượng trong sông chánh Mekong có dễ dàng hay không có
lẽ c̣n tùy thuộc vào Tài liệu Hướng dẫn Kỹ thuật của
Ủy ban Hỗn hợp MRC. Nhưng theo nhận xét của tôi, việc
áp dụng sẽ phức tạp và không thể nào tránh đươc việc
tranh cải giữa các quốc gia duyên hà trên cả hai mặt
kỹ thuật và pháp lư. Thí dụ như việc xả lũ từ các hồ
chứa nước trong một thời gian ngắn có thể gây tác hại
nghiêm trọng cho vùng hạ lưu của hồ chứa, mặc dù lưu
lượng xả lũ trung b́nh vẫn không vi phạm lưu lượng cao
nhất trung b́nh trong mùa lũ như đă được ấn định. Về
mặt pháp lư, v́ không có một biện pháp chế tài nào
được thỏa thuận để giải quyết những vụ vi phạm, các
quốc gia duyên hà có lẽ sẽ tiếp tục đối diện với
“chuyện đă rồi,” tương tự như Kampuchia phải đối diện
với việc xả lũ từ hồ chứa nước Yali của Việt Nam trong
năm 2001 và 2005.
- Hỏi: Theo nhận xét của KS, việc xác định và áp dụng
các tiêu chuẩn lưu lượng như đă ghi trong thỏa thuận
ngày 22 tháng 6 năm 2006 rất khó khăn và phức tạp.
Vậy có cách nào dễ dàng và đơn giản hơn không, thưa
KS?
- Đáp: Theo tôi, cách dễ dàng và đơn giản nhất là kiểm
soát lưu lượng rẽ nước trong mùa khô và lưu lượng xả
lũ từ các hồ chứa nước trong mùa lũ, v́ đây là những
con số có thể được xác định một cách chính xác nhất.
Các lưu lượng nầy có thể thay đổi tùy theo điều kiện
thủy học của sông Mekong vào thời điểm đó. Thí dụ như
khi lưu lượng trong mùa khô tại một trạm quan trắc
thấp hơn lưu lượng thấp nhất kỷ lục th́ việc rẽ nước
của các dự án ở thượng lưu trạm phải tạm ngưng; và lưu
lượng rẽ nước trong mùa khô có thể gia tăng tùy theo
lưu lượng hiện hữu trong sông tại trạm quan trắc. C̣n
việc xả lũ trong mùa lũ cần đươc giới hạn trong lưu
lượng lũ cao nhất có thể chấp nhận được ở vùng hạ lưu
hồ chứa, v́ đây là vùng chịu ảnh hưởng nặng nề nhất.
Như vậy, lưu lượng trong sông chánh được duy tŕ một
cách thực tiễn hơn và được sử dụng một cách có hiệu
quả hơn.
RFA & NGUYỄN MINH
QUANG