Một
trật tự thế giới mới:
Nga, Trung Quốc và Ấn Độ đang trở thành
những thế lực toàn cầu
Tác giả: Sanjoy Banerjee
Người
dịch: Nguyễn Ngọc Minh
LTS.- Đây là bản dịch từ bài “Russia, China and India -
New Poles in a Post-Unipolar World?” đăng trên website
của New America Media. Tác giả là một giáo sư giảng dạy
môn bang giao quốc tế tại trường đại học San Francisco
State University và thường viết về Ấn Độ, Hoa Kỳ và thế
giới. Người Việt dịch và đăng bài này với sự đồng ư của
New America Media.
Trong năm nay, các ủy ban ngoại giao của Thượng Viện và
Hạ Viện Hoa Kỳ đă ủng hộ thỏa ước hợp tác về hạch tâm
giữa Hoa Kỳ và Ấn Độ với đa số phiếu rất lớn. Bây giờ
người ta có thể lạc quan tin tưởng rằng thỏa ước này sẽ
được thực thi. Trong khi đó, thế lực toàn cầu của Hoa Kỳ
đang bị đẩy lui trên vài mặt trận. Cả thỏa ước hợp tác
hạch tâm lẫn những thoái bộ của Washington trên sân khấu
chính trị thế giới đều thuộc những phương diện của sự
tan vỡ trong trật tự đơn cực và sự xuất hiện của một
trật tự đa cực.
Nước Mỹ đang bị trói chân ở Iraq. Sự tiêu hao những khả
năng và thanh thế của người Mỹ ở Iraq khiến cho
Washington không thể đối phố với những địch thủ ở những
nơi khác. Tàn quân Taliban đang trỗi dậy ở Afghanistan,
và Hoa Kỳ không có đủ quân trừ bị để tăng cường cho nơi
đó. Iran đang có thêm tự tin trong khả năng theo đuổi
chương tŕnh hạch tâm của họ, trong khi Bắc Hàn thách
thức Hoa Kỳ và Nhật Bản với những cuộc phóng thí nghiệm
phi đạn. Điều khiến cho hai sự kiện sau cùng này có thể
xảy ra là sự gia tăng thế lực và tư tin của Nga và Trung
Quốc. Sự làm ngơ của Moscow và Bắc Kinh đối với áp lực
của Tây phương trong Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc đă
khiến cho Hoa Kỳ, Liên Âu và Nhật Bản không thể huy động
áp lực lên Iran và Bắc Hàn.
Sau khi Liên Bang Xô Viết sụp đổ, một nước Nga mới đă có
lập trường rất thân Tây phương. Những lời hô hào của
người Nga thời bấy giờ bày tỏ nguyện vọng rằng nước họ
cần nên trở thành một quốc gia “b́nh thường” và “văn
minh” như các nước Tây phương, nhờ sự trợ giúp của các
nước này. Nhưng Tây phương đă đáp ứng bằng sự bành
trướng của NATO, biến các nước Đông Âu thành một liên
minh quân sự đối nghịch với Nga một cách kín đáo. Dù vậy,
Tổng Thống Vladimir Putin đă đáp ứng với những vụ tấn
công khủng bố 911 ở Hoa Kỳ bằng cách ủng hộ kế hoạch của
Washington thiết lập thêm những căn cứ quân sự trong
vùng Trung Á. Hoa Kỳ đă đáp lại bằng cuộc tấn công vào
Iraq và kế đó thúc đẩy những lực lượng chống Nga trong
những nước cựu cộng ḥa Xô Viết. Thêm vào đó, Washington
mở một chiến dịch cáo buộc rằng nước Nga đang từ bỏ thể
chế dân chủ. Trong khi sự thật là những cơ chế chính trị
của Nga đang trở thành vững mạnh hơn và không kém dân
chủ hơn những cơ chế như vậy của Pháp trong thập niên
1960. Nước Nga đang hồi phục từ nền kinh tế hậu Xô Viết
và từ sự lụn bại trong kỹ nghệ v́ giá dầu hỏa tăng cao.
Một số ngành kỹ nghệ của họ đang hồi sinh, trong khi ông
Putin thi hành những cải tổ về cơ chế. Kinh tế của họ lệ
thuộc rất ít vào thị trường Hoa Kỳ. Tóm lại, nước Nga là
một trung tâm thế lực độc lập đang lớn mạnh để trở thành
một cực mới trong trật tự chính trị toàn cầu.
Trong lúc đó, cơn nở rộ kinh tế của Trung Quốc vẫn giữ
đà tiến chứ không đi chậm lại. Cứ cách vài năm lại có
những biến chuyển tốt hơn trong những liên hệ của họ với
phần c̣n lại của thế giới. Các quốc gia Phi Châu đang
thấy rằng Trung Quốc là nơi giúp họ bớt lệ thuộc vào Tây
phương về kinh tế. Trung Quốc đang trở thành một thị
trường đủ lớn để một số nước Nam Mỹ xuất cảng hàng hóa
để giảm lệ thuộc vào Hoa Kỳ. Ở Á Châu, nền kinh tế của
Trung Quốc là guồng máy tăng trưởng mạnh nhất.
Kể từ lúc bắt đầu có cơn nở rộ kinh tế của Trung Quốc,
nhiều người tiên đoán rằng hệ thống chính trị của họ sẽ
cáo chung. Đă có những cuộc phản kháng ở Trung Quốc,
nhưng chúng ở tầm mức quá nhỏ, không đáng kể đối với
toàn thể xă hội rộng lớn. Sự tiên đoán rằng Trung Quốc
sẽ sụp đổ về chính trị đă căn cứ vào một số sự kiện của
lịch sử thế giới. Nhưng nó đă không xảy ra, v́ dân chúng
hài ḷng về sự thịnh vượng, trong khi lo sợ xảy ra xáo
trộn.
Tay chơi mới nhất trong trật tự toàn cầu là Ấn Độ. Sự
ủng hộ nồng nhiệt của Quốc Hội Mỹ dành cho thỏa ước hợp
tác hạch tâm Hoa Kỳ-Ấn Độ phản ảnh cả kỳ vọng của người
Mỹ rằng Ấn Độ sẽ trỗi dậy như là một thế lực đáng kể và
sự ư thức rằng nước Mỹ đang rất cần có những người bạn
mới. Câu hỏi là hai nước này cần nên nắm tay nhau hợp
tác như thế nào.
Người ta dễ nhận ra một số dự án hợp tác v́ quyền lợi
chung. Trong số đó có kế hoạch pḥng thủ bằng phi đạn đủ
để đối chọi với khả năng tàn phá không đáng kể như của
Bắc Hàn và Pakistan. Có thể nói rằng trong một cuộc
chiến tranh hạch tâm quy mô, hệ thống pḥng thủ bằng phi
đạn sẽ không có hiệu quả, nhưng trong một cuộc tấn công
bằng vũ khí nguyên tử giới hạn, những hệ thống như vậy
sẽ giúp giảm thiểu số tử vong. Chính phủ Bush đă nói về
một chương tŕnh pḥng thủ như vậy trong năm 2001, nhưng
kể từ đó đă không thực hiện được tiến bộ ǵ đáng kể. Sự
thiếu thốn những tài năng kỹ thuật ở Hoa Kỳ, cho nên một
số kỹ nghệ của nước này phải sử dụng những nguồn cung
ứng từ nước ngoài (outsourcing), khiến cho người Mỹ cần
phải hợp tác với Ấn Độ trong dự án quan trọng này.
Nước Mỹ bây giờ lo ngại rằng thế lực của họ sẽ sút giảm
khi so sánh với Trung Quốc trong những năm sắp tới. Ngày
nay Hoa Kỳ muốn giúp Ấn Độ tăng thêm sức mạnh để trở
thành một lực đối trọng đương đầu với Trung Quốc. Trước
đây Hoa Kỳ đă giúp Trung Quốc có thêm sức mạnh để đương
đầu với Liên Bang Xô Viết, sau Cuộc Chiến Tranh Việt
Nam. Bây giờ có sự khác biệt là cả Hoa Kỳ và Ấn Độ đang
cùng muốn hợp tác với Trung Quốc. Kết quả lư tưởng và
đáng để chúng ta mong ước là một trật tự quốc tế trong
đó không một cường quốc nào muốn có hành vi gây hấn.
Những bài học của cuộc chiến tranh ở Iraq đă bắt đầu
thẩm thấu vào ư thức của người Mỹ trong cả giới ưu tú
lẫn quần chúng. Những quyền lợi của nước Mỹ bị thiệt hại
ngay cả khi chỉ có sự đề kháng nhỏ trong những cuộc can
thiệp ở ngoại quốc. Điều đó khiến cho nước Mỹ trở thành
một loại cường quốc rất khác với loại mà ông Bush đă
h́nh dung ra trong năm 2003.
Tuy Hoa Kỳ vẫn c̣n là cường quốc mạnh nhất trong những
thập niên sắp tới, khả năng của họ để thống trị tất cả
những nước khác cùng một lúc đă tan biến và thế lực của
họ đối với những nước khác có vẻ sẽ tiếp tục sút giảm
thêm nữa. Điều này có nghĩa rằng trong khi c̣n có thể
cứu văn được, Hoa Kỳ nên cố gắng tạo dựng những cơ chế
mới có thể đứng vững mà không cần tới sự thống trị của
người Mỹ. Trong nỗ lực đó, Hoa Kỳ và Ấn Độ sẽ t́m thấy
nhiều quyền lợi chung.