ĐIỀU BÍ ẪN NƠI NGÔI MỘ

THƯỢNG THƯ HOÀNG HỮU THƯỜNG

BS HỒ ĐẮC DUY

T hượng thư Hoàng Hữu Thường người xă Quảng Tế, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên, xuất thân từ một gia đ́nh đánh cá. Ông đỗ Giải Nguyên năm 1873; năm 1875 đỗ Tiến Sĩ.

Năm 1882 ông cùng với Khâm sai Trần Đ́nh Túc, phó Khâm sai Nguyễn Hữu Độ đi tàu hỏa Đại Pháp ra Hà Nội hội đồng thương thuyết nhận lại Hà Nội đă bị quân Pháp chiếm đóng.

Trong bài “Điếu tang tổng đốc Hoàng Diệu” năm 1882, ông cùng với Phan Đ́nh Phùng, Trần Đ́nh Túc, Nguyễn Hữu Độ đồng viết : 

 

                                              Trượng phu hưá thân v́ nước,

chỉ hết ḿnh nơi việc đáng làm.

Chí sĩ quyết liệt thành nhân,

há lại sát thân mà tiếc!

Thấy nguy liều mệnh,

thế mới là đáng gọi can trường.

Coi chết như về,

thật rơ rệt trần gian hăn hữu.

 

Năm 1886 ông cùng với Quang Lộc tự khanh Hoàng Hữu Xứng, Nguyễn Hữu Độ, Phan Đ́nh B́nh, Nguyễn Thuật biên soạn cuốn Đại Nam quốc cương giới vựng biên kèm theo các bài khảo về Vạn Tượng, Chiêm Thành, Thủy Chân Lạp. Đây là sách Địa lư nói về biên giới của nước ta với các nước chung quanh, là tập bản đồ bờ cơi nước Việt Nam. Sách làm xong, mọi người tham dự việc biên soan đều được vua Đồng Khánh ban thưởng.

Thời vua Đồng Khánh, ông làm Thượng thư Bộ Công, Hiệp Biện Đại Học Sĩ. Ông mất vào tháng 12 năm 1887, an táng tại cánh đồng Bàu Đá, An Ninh, Thừa Thiên phía tây bắc thành phố Huế.

Khảo sát về mặt phong thủy địa lư nơi chôn cất ông, người ta khám phá ra những điều rất thú vị. Quyết định lựa nơi an nghỉ cuối cùng của quan thượng thư bộ công này không phải ngẫu nhiên hay t́nh cờ, mà đó là một sự chọn lựa chủ ư của quan thượng thư, qua một thời gian nghiên cứu, t́m ṭi rất khoa học dựa trên những yếu tố ắt có và đủ của khoa Phong thủy thuộc lĩnh vực Âm trạch của ông.

Mục đích của âm trạch l à lựa chọn một cuộc đất dùng để chôn cất. Người ta tin rằng nếu người chết được chôn vào một cuộc đất tốt về phong thủy th́ sẽ truyền được phúc đức cho con cháu đời sau. Người ta quan niệm khi mai táng phải chọn nơi có sinh khí. Khí gặp gió ắt phải phát tán, gặp nước ngăn lại ắt phải dừng lại. Như vậy phải làm sao cho khí tụ chứ không tán, nước chảy phải có chỗ dừng lại. Trong âm trạch th́ yếu tố địa mạch rất quan trọng. Địa mạch là môn địa lư phong thủy thuộc về địa linh. Nhiều người tin rằng có những nơi, những vùng đất tốt, những mạch đất linh thiêng, những nơi sản sinh những nhân tài, anh hùng, liệt nữ… mà người ta thường gọi là địa linh nhân kiệt.

Nh́n h́nh thể núi sông, môi trường chung quanh để tính toán, xác định nơi khởi đầu và kết thúc của mạch núi, ḍng chảy của nước; phát hiện h́nh mạo hướng bối của long hổ triều ứng, để định huyệt vị tọa hướng, quan sát h́nh dạng sơn loan thủy đạo, nhấn mạnh sự phối hợp long, huyệt, sa, thủy.

Dùng la bàn để định hướng, xác định tọa độ, xem có bị nhiễu do cấu tạo địa chất, điạ tầng bên dưới ảnh hưởng đến từ trường hay không.

Ông đă từng là thượng thư bộ Công và làm quan trải qua 6 đời vua (Tự Đức, Dục Dức, Kiến Phúc, Hiệp Ḥa, Hàm Nghi, Đồng Khánh).

Thượng thư bộ Công là ngưới đứng đầu cơ quan chuyên xây cất lăng tẩm, đền đài, miếu mạo, dinh thự … ông đă được vua Đồng Khánh sung vào ban biên soạn sách Đại Nam quốc cương giới có lẽ do ông là người học vấn, kiến thức uyên thâm và thông thạo về địa dư, thuật phong thủy, địa lư.

Vậy th́ khi chọn cho ḿnh một nơi yên nghỉ ngàn năm tất phải phù hợp với sở học, phải nghĩ tới tiền đồ của con cháu, ḍng họ và ước mơ của ḿnh, phải dựa trên những yếu tố khoa học và những tính toán chọn lựa của khoa Phong thủy địa lư.

Nói về ngôi địa huyệt của quan Thượng thư Bộ Công và cánh đồng Bầu Đá thuộc vùng An Ninh thượng, về sau này và trước đó c̣n có rất nhiều bí ẩn cần phải giải mă. Như chuyện con Ma Ơi và cái Lỗ Sứt, những chuyện thảm khốc chung quanh việc cải táng ngôi mộ của quan đại thần.

Theo sách Ô Châu Cận Lục th́ vùng đất này xưa gọi là làng An Ninh, sau được chia ra làm 2 làng là An Ninh Thượng và An Ninh Hạ thuộc huyện Kim Trà nay thuộc xă Hương Long, Tp Huế.

An Ninh là vùng đất, đông giáp sông Bạch Yến Lựu Bảo; tây giáp núi An Đô, núi Xước Dũ; nam quay mặt ra biển; bắc giáp cánh đồng La Chữ. Là vùng đất mà An Đô ngợi ca ḷng người quân tử, Lựu Bảo ra ơn yêu người, La Chữ non xa, cầu vồng thu sương ngàn núi, Đời tiến vào B́nh Trị, tuc trở về Anh Ninh như lời b́nh về Phủ Triệu Phong của Dương Văn An cách đây gần 500 năm.

Mộ táng của quan Đại Thần Thương Thư Bộ Công đáp ứng với các điều kiện căn bản đó. Đó là địa huyệt thuôc loại Lôi Trạch Qui Muội, Triều sơn (Gái về nhà chồng – nghĩa là mang theo của cải tiền bạc, mang theo sung măn con cái làm ăn phát tài, danh vọng…) Tọa đoài hướng chấn (Đầu người chết về hướng tây, chân gác trên rú thấp về hướng đông) Triều sơn (núi qui tụ về một chỗ).

Sau khi t́m trong các thư tịch cũ, chúng tôi để dành ra một tháng để nghiên cứu trên thực địa.

Xác định, đánh dấu, ghi tọa độ vùng An Ninh trên các bản đồ không ảnh từ vệ tinh do chương tŕnh Google Map cung cấp.

Chúng tôi phải sưu tra lại các vấn đề địa lư, h́nh thể và phát triển của vùng đất Thuận Hóa-Phú Xuân và tái tạo lại nó một cách có thể chấp nhận được bằng đồ họa trên máy tính với nhiều độ phóng đại để có thể h́nh dung vùng đất này, nhất là vùng thượng nguồn của con sông (sông Bạch Yến (Catu), sông Lấp, vùng An Đô, La Chữ, Kim Long, Kẻ Vạn, Xước Dũ, Eo Bầu, Nham Biều Giáp Hạ, Linh Mụ, Chợ Thông… đặc biệt h́nh thể vùng Rú Đá ở khu vực Nham Biều – Lựu Bảo, và các thửa ruộng trên cánh đồng trải dài dưới chân các Rú Đá.

Quần thể Rú Đá gồm các ngọn đồi thấp dưới 30m. Rú được xem như b́a rừng, nơi có một hệ sinh học rất đa dạng. Cách đây hơn nửa thế kỷ vẫn c̣n thấy người dân tộc Tà Ôi, Bru-Vân Kiều, Cà Tu.

 Rú Đá c̣n gọi là Rú Bàu Đá, Rú Kèo Đá, Rú Vi, Rú Ri thuộc địa giới vùng Lựu Bảo. Rú có chiều dài khoảng 1250m. Nơi rộng nhất đo được 620m, Rú thuộc loại núi bazan Tây Nguyên. Các khoáng vật tạo đá chính trong bazan Tây Nguyên gồm: olivin; orthopyroxen, clinopyroxen, plagioclas.

Chính các khoáng vật h́nh thành rú đá nên người ta có thể nhận thấy vùng này có màu đỏ nhạt trên các bức h́nh không ảnh.

 

RÚ ĐÁ ( H́nh chụp từ trên vệ tinh )

Thung lũng nhỏ dưới chân rú là cánh đồng h́nh b́nh hành với chiều dài ước chừng 650m, chiều ngang khoảng 220m. Cánh đồng này gọi là cánh đồng Bàu Đá. Cánh đồng Bầu Đá là một vùng ḷng chảo, bao quanh 3 mặt là rú đá, riêng phía tây hở chạy thẳng đến núi An Đô, dựa lưng vào dăy Trường Sơn. 

Trên đỉnh và lưng chừng Rú Đá có vô số ngôi mộ chôn cất san sát nhau. Có những ngôi một rất cổ, có cả nghĩa trang của các nhà thờ Thiên Chúa Giáo, duy chỉ có trên cánh đồng Bầu Đá nổi lên một cái cồn nhỏ cô đơn, trên cái cồn này là nơi an táng của quan thượng thư Hoàng Hữu Thường.

Quan sát mộ táng của vị Thượng Thư Bộ Công mới thấy hết cái sở học uyên thâm của ông về khoa địa lư và phong thủy khi chọn địa huyệt là chỗ dung thân ngàn năm; rất tiếc là các hậu duệ của ông không hiểu ư nghĩa sâu xa của ông nên đă cải táng đi nơi khác.

Ngôi mộ của ông, một địa huyệt mà bất cứ thầy phong thủy địa lư nào củng mơ tưởng như trong lư thuyết.

Việc cải táng ngôi mộ quan thượng thư đến một địa điểm gần đó đă đưa đến một hậu quả kỳ lạ khiến các hậu duệ của ông sau một thời gian phải đưa trả lại hài cốt của ông về huyệt cũ như lời của bà Hồ thi Sâm 75 tuổi, người giữ ǵn hương khói ngôi mộ ông hiện tại, nói với tôi.

Trên cánh đồng Bàu Đá, An Ninh này cũng là nơi an táng thi hào Nguyễn Du lần thứ nhất vào năm 1820.

Sáu mươi bảy năm trước (1820) Nguyễn Du qua đời trong cơn đại dịch (dịch tả); 4 năm sau con trai Nguyễn Du là Nguyễn Ngũ đă cải táng đưa về Tiên Điền, Nghi Xuân-Hà Tĩnh.

Có hay không một sự trùng hợp kỳ lạ về cuộc đất này, một địa mạch của thi hào Nguyễn Du và quan thượng thư bộ Công.

Có lẽ khi nghiên cứu sâu về thuật phong thủy địa lư, hay khảo sát về AND c̣n nằm sâu dưới đất, có thể cho câu trả lời chính xác hơn.

 

BS HỒ ĐẮC DUY

( Tham khảo thêm bài nghiên cứu “ Nơi an táng thi hào Nguyễn   Du tại địa chỉ:       http://www.khoahoc.net/baivo/hodacduy/270308-motangnguyendu.htm

     http://www.huevietnam.info/news/news.aspx?cat=2&post=107

              [ NSLONGHOA ]

HOME GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT HỌC TR̀NH HỘI ĐỒNG GIẢNG HUẤN THƯ VIỆN SINH VIÊN VỤ NSLONGHOA
For any questions, send Email to:  phvpghh@aol.com
Copyright © 2003. PhatHocVienPGHH. All rights reserved.
Revised: 12/30/08